THIÊN
THỨ HAI
ĐẠI
THỪA PHẬT GIÁO, GIÁO LÝ LUẬN
CHƯƠNG
THỨ NHẤT
BẢN
CHẤT CỦA TÔN GIÁO VỚI BẢN GIÁO
TIẾT
THỨ NHẤT:
SỰ
QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG PHẬT GIÁO.
Trên
bản chất, Phật Giáo có thể được coi là một tôn giáo
hợp lý nhất trong các tôn giáo. Nhưng chúng ta đừng quên
rằng, khi nói Phật Giáo hợp lý thì phải nói như thế nào,
nó có thể áp dụng vào thế giới thực tiễn được không?
Đức Phật đã tha thiết bác bỏ cách lý luận, chỉ để
mà lý luận và tuyệt đối không chấp nhận điều đó. Cho
đến về sau, lập trường lý luận của các bậc luận sư
thuộc Đại Thừa cũng như Tiểu Thừa, nếu nghiên cứu kỹ,
ta thấy lý luận của họ cũng không ngoài tiêu chuẩn thực
tu và thể nghiệm, hoặc là chỉnh lý lại lý luận thực tu
và thể nghiệm đó. Đây là điều mà một người nghiên cứu
Phật Giáo vô tư không thể không lưu ý. Nếu xét Phật Giáo
theo ý nghĩa trên đây, trên bản chất, dù ta thấy Phật Giáo
có vẻ như thuần lý, nhưng nếu theo như Khang Đức chia thành
lý luận lý tính và thực tiễn lý tính trong lĩnh vực lý
tính của ta, thì lập trường Phật Giáo có thể được đặt
vào lĩnh vực thực tiễn lý tính. Đó là điểm chủ yếu
mà chúng ta phải ghi nhận nếu muốn hiểu rõ bản chất của
Phật Giáo. Nếu không chúng ta sẽ hiểu sai lạc bản ý của
Phật Giáo. Phật giáo Nguyên thủy, vì thực hành nhiều giới
điều, nên bối cảnh của lý luận, mới nhìn, có vẻ như
là một cuộc hoạt động luân lý, dĩ nhiên, đây là một
sự sai lầm. Nhưng nếu lại chỉ chú mục vào phương diện
lý luận đó và muốn xử lý nó như một vấn đề khoa học
hay triết học cũng lại là một phương pháp chính xác. Trong
Phật Giáo, tình ý và trí tính phải được điều hòa và
thăng bằng, nếu không thì rất khó mà đạt đến chỗ an
tâm lập mệnh. Nhận xét theo lập trường này, nếu muốn
làm cho lý luận và thực tiễn được nhất trí, về mặt
lý luận cũng phải được tôn trọng, nhưng cuối cùng phương
diện tình ý vẫn phải chiếm phần quan trọng. Nếu nói một
cách đơn giản, phải căn cứ vào việc canh tân sinh mệnh
để an tâm lập mệnh thì mới có được chỗ quy hướng,
mà tất cả lý luận là kim chỉ nam để đạt đến điểm
đó, hoặc có thể nói nó không ngoài việc lấy đó làm đó
làm đồ thức để hợp lý hóa tiêu chuẩn.
TIẾT
THỨ HAI:
PHẬT
GIÁO CÓ PHẢI LÀ TÔN GIÁO KHÔNG?
Nghiên
cứu cho cùng thì Phật Giáo là tôn giáo chứ không phải là
triết học. Song căn cứ vào đâu mà bảo Phật Giáo là tôn
giáo? Đây không phải là vấn đề đơn giản.
Như
ai nấy đều công nhận tôn giáo lấy sự kết hợp giữa Thần
và Người làm bản chất. Nhưng Phật Giáo không thừa nhận
có một đấng “Tạo Vật Chủ”, nhất là Nguyên thủy Phật
giáo vì không thừa nhận một linh hồn cố định của cá
nhân, nên không có một khái niệm nào về sự quan hệ giữa
Thần và Người. Trong Phật Giáo, nhất là Tịnh Độ Giáo,
tuy có căn cứ vào sức bản nguyện của Phật Di Đà để
lập thành “Cứu Độ Quan” nhưng đứng về phương diện
“Tự lực Thánh đạo môn” của Phật Giáo mà nói thì quan
niệm đó không thể được coi là quan niệm về một
hình thức “liên hệ giữa Thần và Người”. Do đó, nhiều
học giả Âu Châu cho rằng Phật Giáo, đặc biệt là Nguyên
thủy Phật giáo, trên bản chất, không phải là tôn giáo.
Theo chỗ tôi biết thì Arthur Drews và Heinrich Scholz đã bàn
đến điểm này trong các tác phẩm tôn giáo và triết học
của họ. Ngay trong giới học giả Nhật Bản cũng có nhiều
người bày tỏ quan điểm của họ về vấn đề này, nhất
là các Mục sư Cơ Đốc giáo đặc biệt đã đề cao điểm
này, và cho rằng Phật Giáo không phải là tôn giáo mà tôn
giáo chân chính chỉ có Cơ Đốc giáo mà thôi.
Để
giải đáp cho vấn đề này, trong Phật Giáo hầu như đã không
có một học giả hoặc một nhà truyền đạo nào đứng trên
lập trường học thuật chân chính để luận cứu vấn đề.
Đó là một điều rất không may. Koryu Otani có nhận xét trên
đây đã đứng về lập trường cho rằng tôn giáo là sự
“quan hệ giữa Thần và Người” để quan sát Phật Giáo,
và bảo rằng Phật Giáo là khoa học chứ không phải tôn giáo,
và đương nhiên chúng ta không thể chấp nhận quan điểm đó.
Song có điểm rất thú vị là trong số các học giả Tây Phương
cũng có người đứng trên cùng một lập trường trên đây
để nhận định Phật Giáo, và cho rằng vì Phật Giáo là
khoa học chân chính cho nên Phật Giáo cũng là một tôn giáo
chân chính. Lại mới đây, trong bài khảo luận nhan đề “phương
diện tôn giáo và đạo đức của Phật Giáo”, Ông pauldahlpe
nói: về mặt tôn giáo là đưa toàn bộ yêu cầu nhân quả
thể hiện ngay trong thân tâm của mình”, đó là dựa vào
phương pháp Khoa học để luận chứng chân lý của Phật Giáo,
một nhận xét tuy đúng nhưng vì quá thiên trọng phương diện
lý trí, cho nên không hề thừa nhận có cảnh giới thần bí
nào. Dù sao thì nhận xét này cũng không khỏi có điểm không
phù hợp với Phật Giáo, do đó, đứng về phương diện tôn
giáo mà nói, nhận xét trên đây chưa được hoàn toàn.
TIẾT
THỨ BA:
PHẬT
GIÁO VỚI SỰ THỰC TÔN GIÁO.
Gần
đây, Bác sĩ Kenchi Kato thường thảo luận về tôn giáo, và
đã căn cứ vào đề tài: “Nguyên thủy Phật giáo có phải
là một tôn giáo không?” và cho rằng Nguyên thủy Phật giáo
cũng chỉ là một tôn giáo, nghĩa là nó cũng đã được thành
lập theo hình thức “quan hệ giữa Thần và Người”. Theo
ông, mặc dù Nguyên thủy Phật giáo không thừa nhận một
vị Thần sáng tạo, nhưng Phật Thích Ca, Thủy Tổ của Phật
Giáo, dưới mắt của các đệ tử, cũng đã coi như một vị
Thần, không phải chỉ một vị Thần tầm thường, mà là
một vị Thần trên hết các Thần (Đevatideva). Bởi vậy, người
phật tử quy y Phật cũng không khác gì người các tôn giáo
khác quy y Thần, đó là một trạng thái tâm lý giống nhau.
Do đó, nơi nương tựa của người Phật tử chẳng qua cũng
chỉ là “quan hệ giữa Thần và Người”.Theo quan điểm
này thì ta có thể nói Nguyên thủy Phật giáo cũng chỉ là
một tôn giáo. Ở đây, ta hãy góp thêm ý kiến với Bác sĩ
Kenchi Kato. Theo tôi đến một trình độ nào đó, quan niệm
trên đây của Bác sĩ Kenchi Kato cũng phù hợp với trạng thái
tinh thần của người đệ tử Phật. Trên thực tế, những
đệ tử Phật đối với đức Phật cũng giống như tâm lý
của những tín đồ Ba-la-môn giáo tin tưởng Phạm Thiên là
đấng Từ Phụ của họ, điều này là một sự thật. Nhưng
ở đây có điểm hoàn toàn bất đồng là người đệ tử
Phật coi đức Phật như một vị cứu thế theo ý nghĩa một
bậc đại Đạo sư. Nghĩa là một bậc thầy chỉ đường,
họ chỉ theo những lời chỉ dạy thực tiễn của Ngài để
tự giác ngộ, chứ đức Phật đối với Phật tử, ít ra
là từ thời Nguyên thủy, quyết không phải là một vị Thần
siêu tự nhiên như các Thần của tôn giáo khác phải cần
sự cầu đảo van xin người ta mới được Ngài cứu vớt.
Như vậy mà cho rằng Phật Giáo cũng được thành lập trên
nền tảng “quan hệ giữa Thần và Người” thì e không đúng.
Hơn nữa, đứng về phương diện đức Phật mà nói thì Phật
không nhờ một sức thiêng liêng nào ở ngoài phù hộ mà phải
do tự lực của mình để thành Phật. Do đó, trong đạo Phật,
không có vấn đề “quan hệ giữa Thần và Người”. Mà
điều này không phải chỉ ở thời kỳ Nguyên thủy Phật
giáo mà suốt từ Tiểu Thừa đến Đại Thừa cũng điều
chủ trương phương diện tự lực (Tự lực Thánh đạo môn)
cả. Cho nên nếu đứng về mặt bản chất của Phật Giáo
mà nói thì nhận xét bề ngoài.
Song,
nếu nói cho cùng thì có thật Phật Giáo không phải là một
tôn giáo không? Đây là một vấn đề rất khó giải đáp
nên ở đây hãy xin tạm gác ra một bên. Trên thực tế, nếu
ta nhìn nhận Phật Giáo là một trong ba tôn giáo lớn trên
hoàn cầu và nhờ nó mà người ta được an tâm lập mệnh,
thì quả thực Phật Giáo đích thị là một tôn giáo. Về
mặt luận lý, vấn đề Phật Giáo phải hay không phải là
tôn giáo còn cần phải được thảo luận. Nếu quá chú trọng
đến yếu tố nhân cách thần trong tôn giáo, chúng ta sẽ dễ
xao lãng những yếu tố quan trọng khác của những đòi hỏi
về tôn giáo. Bởi vậy ở đây chúng tôi xin trước hết hãy
nói rõ những đòi hỏi tất yếu của tôn giáo là gì.
TIẾT
THỨ TƯ:
BẢN
CHẤT CỦA NHỮNG ĐÒI HỎI TÔN GIÁO.
Về
nguồn gốc của tôn giáo, giữa các học giả tuy có nhiều
quan điểm khác nhau, nhưng nếu đứng về phương diện tâm
lý mà nhận xét thì tôn giáo là nhu cầu đáp ứng những hiện
tượng tinh thần của chúng ta. Do đó ta không thể tìm nguồn
gốc của tôn giáo ở các đấng Thần linh mà tìm nó ở tinh
thần con người.
Những
điều kiện sinh tồn của nhân loại tuy có nhiều nhưng hai
điều kiện nổi bậc nhất là: điều kiện thiên nhiên và
điều kiện tinh thần. Song, về mặt tác dụng, tính chất
của hai điều kiện này hầu như lại tương phản nhau.
Điều
kiện thiên nhiên có nghĩa là những quy luật tự nhiên; tất
nhiên mà dù muốn dù không người ta cũng buộc phải tuân
theo, còn điều kiện tinh thần thì lại lấy tự do làm đặc
tính, có khi muốn được triệt để tự do mà mưu đồ chống
lại những quy luật thiên nhiên. Chẳng hạn người ta có sinh
ra tất phải có chết đi: đó là quy luật tự nhiên, tất
nhiên. Ấy thế nhưng yêu cầu tự do của con người lại muốn
sống mãi mà không chết, đó là một thí dụ điển hình.
Như vậy, trong sự sinh tồn của kiếp người, ta thấy chứa
đựng một mâu thuẫn không thể tránh khỏi. Do đó, trong cuộc
sống hàng ngày, khi nào hai điều kiện trên thỏa hiệp mà
điều kiện tự do chiếm nhiều thắng lợi thì cuộc sống
đó được nhận là có hạnh phúc. Nhưng cố đi đến một
sự hòa giải triệt để giữa hai điều kiện đó là một
việc không thể nào thực hiện được. Mà thống cảm của
sự mâu thuẫn này là điều như lý-tính của người ta càng
mạnh thì thống cảm đó càng tăng, sức phản tỉnh của người
ta càng mạnh chừng nào thì thống cảm ấy lại mạnh chừng
đó. Cho nên, rốt cục những quan niệm yếm thế, bất mãn,
thất vọng đối với cuộc đời cũng do đó mà phát sinh.
Như
vậy, về một phương diện, yêu cầu tự do lấy sự tự do
tuyệt đối và sự quang vinh tuyệt đối làm thuộc tính, thậm
chí còn mong triển khai cuộc sống đến vô hạn, đồng thời,
nhìn lại cuộc sống hiện thực bị trói buộc, mất tự do
càng cảm thấy đau khổ vì thế mà nảy sinh ra yêu cầu giải
thoát. Hai phương diện này của cuộc sống triền hợp nhau,
một mặt đối với khổ và hoài vọng thoát khổ, mặt khác
do cái phương pháp thần bí đó mà mong cầu một sự điều
hòa: đó chính là mầm sống tôn giáo vậy.
Nhưng
thế nào để thỏa mãn được yêu cầu đó? Đây chính thực
là vấn đề căn bản của tôn giáo. Về điểm này tuy có
nhiều giai cấp và chủng loại, nhưng loại tầm thường nhất
là hòa giải mâu thuẫn, thỏa mãn yêu cầu mà người có thể
đem lại những điều kiện đó là một người tồn tại trên
loài người tức là Thần, hay tưởng tượng ra nhiều Thần,
do nhiều phương pháp (cầu đảo, đức hạnh, tín ngưỡng,
minh tưởng v.v…) để cầu sinh sự phù hộ để đạt mục
đích. Nghĩa là trên thế gian này, ngoài sự tồn tại của
nhân loại, còn có một đấng thiêng liêng nắm giữ chìa khóa
của tự do và thiên nhiên.Nếu con người biết chiều theo
ý muốn của đấng thiêng liêng ấy thì sẽ được giải thoát,
được tự do. Căn cứ theo sự tín ngưỡng này, đấng thiêng
liêng đó có đầy đủ uy lực, có thể hoán chuyển tất nhiên
thành tự do. Nói cách khác, đấng thiêng liêng ấy có một
phép lạ, có thể biến đổi thiên nhiên, nếu con người thành
khẩn nguyện cầu, thì bất cứ lúc nào Ngài cũng hiển thị
phép lạ đó. Nếu không có phép lạ thì đấng thiêng liêng
sẽ mất hết ý nghĩa. Mà tính ngưỡng này, bất luận là
xưa hay nay đều là hình thức tôn giáo thịnh hành nhất, cho
nên người ta đã định nghĩa tôn giáo là sự kết hợp hay
“quan hệ giữa Thần và Người”, và lấy đó làm bản chất
của tôn giáo. Song ở đây ta cần phải chú ý là hình thức
đó chỉ là một hình thức tôn giáo,chứ không thể nhất
thiết võ đoán cho đó là điều kiện căn bản tất yếu của
tôn giáo. Tại sao? Vì, như vừa nói trên kia, bản chất của
tôn giáo là ở yêu cầu kết hợp giữa tự do và giải thoát.
Tuy người có thể thỏa mãn yêu cầu đó không phải là Thần,
nhưng tôn giáo thì rất có thể.
Nếu
đứng về phương diện trên đây mà nói, tức là Thần thánh
không thể thỏa mãn nhu cầu tôn giáo mà chính là tôn giáo
có thể làm thỏa mãn, thì Phật Giáo là một tôn giáo. Phật
Giáo không thừa nhận một vị Thần siêu việt hẳn những
hạn chế thiên nhiên. Vì những vị Thần chẳng qua cũng chỉ
là một sự tồn tại tự nhiên nên cũng có một sự hạn
chế. Còn tôn giáo nảy mầm trong sự mâu thuẫn bất hợp
lý của nhân sinh. Về điểm này, tín ngưỡng tôn giáo cũng
có những yếu tố bất hợp lý, đó là một thực tại. Nhưng
nếu đem những yếu tố bất hợp lý đó mà hợp lý hóa thì
người ta không thể tìm thấy sự mãn túc toàn nhân cách,
do đó mà đức Phật đã không coi trọng vị Nhân Cách Thần
là đối tượng của tín ngưỡng.
TIẾT
THỨ NĂM:
SỰ
MONG MUỐN MỘT CUỘC SỐNG VÔ HẠN VỚI YÊU CẦU GIẢI THOÁT.
Nền
tảng cơ bản về mặt tôn giáo của đức Phật là sự phản
tỉnh tự tâm. Dù đối với lòng mong muốn một cuộc sống
vô hạn hay yêu cầu giải thoát, tất cả đều phát sinh từ
nội tâm của ta. Đã thế thì sự giải quyết tối hậu tất
nhiên phải tìm ngay trong tự tâm. Như ai cũng biết, lời dạy
cuối cùng của đức Phật là: “Hãy tự mình thắp đuốc
lên; hãy tự mình nương tựa nơi mình, nương tựa Chính Pháp,
chứ đừng nương tựa vào một nơi nào khác”. Đó là những
lời minh chứng rõ ràng về ý nghĩa trên đây và từ đấy
về sau lập trường của Phật Giáo đều lấy đó lầm chủ
nghĩa quán thông. Song theo Phật Giáo, người thể nhập được
sinh mệnh vô hạn quyết không thể dựa vào phương pháp biểu
tượng hóa tích cực mà tìm cầu được, trái lại phải bắt
đầu từ cái cá thể bất hợp lý của ngã chấp, ngã dục
để giải phóng chính mình. Song khi thể nghiệm được sinh
mệnh vô hạn thì tự mình biến thành nội dung của sự thể
nghiệm, đó là một lập trường mới về tôn giáo của Phật
Giáo. Nói một cách đơn giản thì: Lập trường của Phật
Giáo là lấy giải thoát làm mục đích và đằng sau đó dự
tưởng một sinh mệnh vô hạn (cuộc sống tự chủ tuyệt
đối) nhưng vô hạn sinh mệnh đó chỉ được thể nghiệm
nội tại chứ không biểu tượng hóa: đó có thể nói là
một hình thức tôn giáo mới, tuy thần bí nhưng rất hợp
lý.
Các
tôn giáo phổ thông lấy vô hạn sinh mệnh làm tiêu biểu bên
ngoài, biến nó thành một hình thái nhất định để biểu
tượng hóa, Phật Giáo lấy giải thoát làm biểu tượng bên
ngoài, mà vô hạn sinh mệnh vẫn không biểu tượng, nếu nói
một cách miễn cưỡng thì đem sức “không” (Rein Aktivitat)
vào nội tâm tất cả đều quy về nhất tâm: đó là lập
trường độc hữu của Phật Giáo. Song đối với những người
chưa thể nghiệm được lý thâm áo đó không khỏi có cảm
giác hoang mang, cho nên tùy theo đà tiến triển của tư tưởng
mà đem Chân-không biểu tượng thành Diệu-hữu và để thích
ứng với đường lối đó, Phật Giáo đã dùng nhiều danh
từ như Pháp-thân, Chân-như, Tịnh-độ v.v…tư tưởng đó
tuy có nhiều biến hóa nhưng tóm lại, theo ý nghĩa căn bản,
thì đó chỉ là những phương pháp khai thác triệt để nơi
tự kỷ nội tâm.
TIẾT
THỨ SÁU:
SỰ
THỎA MÃN YÊU CẦU TÔN GIÁO VỚI NHẤT TÂM.
Căn
cứ theo sự quan sát trên, người ta không thể không thừa
nhận rằng Phật Giáo, về mặt tự lực, đối với sự thỏa
mãn yêu cầu tôn giáo, trên bản chất là một tôn giáo hoàn
toàn sung thực. Nếu muốn so sánh với quan niệm Thần và Người
của các tôn giáo khác thì tương đương với Thần và Niết
Bàn, Không, Pháp; còn tương đương với Người thì lấy ngã
dục làm trung tâm mà khiến cho tự kỷ phải khổ đau trong
cuộc sống mâu thuẫn. Nhưng cái tự kỷ đó lại luôn hướng
đến một cuộc thoát ly, nổ lực giải phóng tự kỷ để
thể nghiệm thế giới tuyệt đối tự do (Niết Bàn, Pháp
giới, Phật địa), điểm này tương đương với sự cầu
nguyện hay kỳ đảo trong các tôn giáo phổ thông. Song, đối
với Phật Giáo, trong Thần Người tôn giáo khách quan, tôn
giáo chủ quan, tất cả đều do nhất tâm của người ta. Nghĩa
là do nơi tự tâm để tìm cầu sự siêu việt và cái cảnh
giới siêu việt đó nhất trí với nội tâm: đó là hình thức
tôn giáo đặc sắc nhất của Phật Giáo.
Tóm
lại, trong tôn giáo tất phải có hai phương diện tiêu cực
và tích cực, và hai phương diện đó rất quan hệ mật thiết
với nhau, không thể tách rời. Các tôn giáo phổ thông thì
từ mặt tích cực tiến đến tiêu cực, nhưng đặc sắc của
Phật Giáo thì lại tự mặt tiêu cực tiến đến mặt tích
cực. Những người cho Phật Giáo không phải là tôn giáo đã
không để ý đến sự thực này nên mới kết luận một cách
sai lầm như thế. Mà ngày nay thì hầu hết các tôn giáo thần
quyền đang đi dần vào bóng tối thì Phật Giáo, vì có những
đặc chất trên, nên vẫn được phát triển mạnh mẽ: có
thể nói Phật Giáo là một tôn giáo đã được thành lập
theo phương pháp tâm lý tôn giáo chân chính và vĩnh viến bất
diệt.
Đọc
Thêm:
Yếu
Tính Thể Nghiệm Trong Tôn Giáo Của Ðạo Phật Từ Phật Giáo
nguyên Thủy Ðến Phật Giáo Phát Triển
Ðời
Sống Và Kinh Nghiệm Tôn Giáo
Tôn
Giáo Và Giá Trị Thực Tại