CHƯƠNG
THỨ BA
ÐẶC
CHẤT CỦA PHẬT GIÁO TẠI BA QUỐC GIA
TIẾT
THỨ NHẤT:
NGUYÊN
THỦY PHẬT GIÁO VÀ BỘ PHÁI PHẬT GIÁO.
Nói
một cách khái quát thì tuy gọi là Phật giáo song trong đó
có nhiều lập trường khác nhau. Chúng ta hãy đứng trên lập
trường giáo lý và lịch sử chia thành ba loại để quan sát.
Thứ nhất, Nguyên thủy Phật Giáo, thứ hai, Bộ phái Phật
Giáo, và thứ ba, Ðại thừa Phật Giáo. Do đó, muốn hiểu
rõ đặc chất của Phật Giáo Ðại Thừa, trước hết ta phải
hiểu qua về Nguyên thủy Phật Giáo và Bộ phái Phật Giáo.
Nguyên
thủy Phật Giáo, còn được gọi là căn bản Phật Giáo, thường
được coi như gần với lịch sử và lập trường của đức
Phật nhất, và gần đây rất được các giới học giả lưu
tâm nghiên cứu. Bởi thế về chân tướng của Phật Giáo
Nguyên thủy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nói một cách
đại thể, ta hãy chia thành số mục sau đây:
1)
Những người do đức Phật trực tiếp cảm hoá, tập hợp
thành giáo đoàn, lấy Phật làm thầy, muốn được an tâm
lập mệnh như Phật, chỉ khi thành Phật đạo đến một trăm
năm sau khi Phật nhập diệt (từ đầu thế kỷ thứ năm đến
hết thế kỷ thứ tư trước Tây lịch).
2)
Xuất phát từ điểm muốn được an tâm lập mệnh, người
ta ý thức nhiều về những nỗi khổ não cố hữu của kiếp
sống.
3)
Các pháp thế gian đều lưu chuyển không ngừng, khó có thể
quán phá được các Pháp duyên khởi. Nguồn góc của mọi
khổ đau là tham dục, chấp ngã.
4)
Bởi thế muốn thoát ly mọi khổ đau, người ta chỉ cần
diệt trừ tham dục, chấp ngã, trước hết phải bình tĩnh
quán sát các pháp thế gian một cách thuần túy khách quan,
coi lão, bệnh, tử và hết thảy điều bất như ý là hình
tướng của các pháp thế gian. Nếu lý hội được như vậy
thì các cái đó không còn làm ta khổ não, tâm hồn ta sẽ
đạt đến cảnh an nhiên tự tại và còn được gọi là Niết
Bàn. Khổ, vui, mê, ngộ đều không ngoài tâm: hết thảy đều
do tâm chủ trì.
5)
Nếu muốn đạt được những mục đích kể trên, người
ta cần nổ lực cải tạo hành vi, quán tưởng, mở mang trí
tuệ, làm cho cái tâm trong sáng, gạn trừ mọi tư tưởng nhiểm
ô.
Trên
đây là những lập trường chủ yếu của Phật Giáo Nguyên
thủy. Căn cứ vào lập trường của Phật Giáo Nguyên thủy
với những quá trình phát triển về tâm lý hoặt luận lý
để lần lần tiến đến nhiều phương hướng khác nhau, ta
thấy bề ngoài Phật Giáo Nguyên thủy vẫn đượm một màu
sắc thuần phát chứ không như những thuyết lý do đời sau
chủ trương. Không những thế mà thôi, thái độ giáo hóa
của đức Phật cực kỳ bao quát, không những đối với hàng
đệ tử xuất gia chỉ bày con đường giải thoát, mà đối
với tất cả vấn đề trọng đại của nhân sinh, đức Phật
cũng lấy quãng đại quần chúng làm đối tượng, dùng mọi
phương tiện thích ứng để dẫn đạo họ về con đường
tốt lành và hạnh phúc.
Tóm
lại, đặc chất của Phật Giáo Nguyên thủy là ở chổ ít
quan tâm đến lý luận chỉ trọng thực hành; ít thuyết minh
về giáo điều, chỉ cần thể nghiệm được pháp vị, ít
chú ý đến hình thức, mà trọng tinh thần; còn đối với
việc xây dựng một thế giới hiện thực tốt đẹp tuy cũng
có lưu tâm, nhưng điều đó chỉ có nhân cách hoàn toàn của
đức Phật mới cảm hóa và thực hiện được mà thôi.
Kế
thừa Nguyên thủy Phật Giáo là Bộ-Phái Phật Giáo, nhưng
đến Bộ-Phái Phật Giáo thì cái nhân cách cảm hóa của đức
Phật dần dần suy giảm, chỉ chuyên duy trì giáo pháp và giới
luật của Phật để bảo toàn sự sống còn của giáo đoàn.
Do đó giáo pháp mới được chỉnh lý, chú giải, đặt nền
tảng cho thần học và xác định giáo điều của Phật Giáo.
Song như đã nói ở trên, vì lập trường của Phật Giáo Nguyên
thủy không triệt để chú trọng về luận lý, cho nên với
vấn đề chi li về giáo điều hay thần học tất nhiên là
đã phát sinh nhiều ý kiến bất đồng, và đây kà một trong
những nguyên nhân chủ yếu đưa giáo đoàn đến chổ phân
biệt vậy. Và theo truyền thuyết thì khoảng bốn, năm trăm
sau khi Phật nhập diệt, giáo đoàn đã chia thành hơn mười
Bộ phái với những lập trường khác nhau, nhưng nói một
cách tổng quát thì đại để đặc chất Bộ-phái Phật Giáo
không ngoài những điểm sau đây:
1)
Nguyên thủy Phật Giáo lấy nội tâm làm chủ; Bộ phái Phật
Giáo tuy cũng lấy nội tâm làm chủ nhưng đói với ngoại
giới cũng đặc biệt chú ý.
2)
Nguyên thủy Phật Giáo dẫu trên hình thức cũng thuyết minh
phân tích, nhưng về nội tâm lấy duyên khởi quan “một tức
hết thảy" làm nền tảng, đến Bộ-phái Phật Giáo thì phân
tích những yếu tố của vạn hữu và rất coi trọng sự phân
tích đó.
3)
Nguyên thủy Phật Giáo tuy có một quy tắc thực hành nhất
định nhưng lại lấy tinh thần làm chủ chứ không lấy hình
thức ngoại làm chủ, đến Bộ-phái Phật Giáo thay vì chú
trọng nội tâm, lại chú trọng đến quy định ở ngoài.
4)
Nguyên thủy Phật Giáo đối với cái gọi là đạo tại gia
cũng rất chú ý; đến Bộ-phái Phật Giáo thì chỉ chuyên
chú trọng về đạo xuất gia, lấy đó làm vấn đề trung
tâm mà sao lãng đạo tại gia, do đó, đối với các xu thế
của thời đại hầu như không quan tâm.
1.
5) Ở Nguyên thủy Phật Giáo người ta được coi như đức
Phật là lấy giải thoát làm mục đích: đến Bộ-phái Phật
Giáo vì quá tôn sùng nhân cách cao cả của phật, cho nên coi
Phật là bậc cao siêu hơn hết người thường không thể sánh
được, tất cả người tu hành chỉ được coi là đệ tử
của Phật mà thôi.
2.
Tóm
lại, Bộ phái Phật Giáo đã phức tạp hoá Phật Giáo Nguyên
thủy đơn thuần, biến cái chủ nghĩa lấy nhân cách làm trung
tâm của Phật Giáo Nguyên thủy chủ nghĩa hình thức. Phật
Giáo đến đây tuy đã được chỉnh lý rất nhiều, nhưng
đến một trình độ nào đó; vì muốn tùy thuận với thời
đại, địa phương và hoàn cảnh để cứu độ chúng sinh,
nên xét theo tinh thần tự do của đức Phật, thì Phật Giáo
đến đây cũng đã bị hạn cục rất nhiều, đó là một
sự thật không thể che dấu được.
TIẾT
THỨ HAI:
ÐẶC
CHẤT CỦA ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO.
Trên
hình thức, Phật Giáo đến thời đại Bộ-phái đã được
chỉnh đốn một cách rất nghiêm chỉnh. Tuy nói là hạn cục,
nhưng vì muốn kế tiếp tinh thần truyền đạo của đức
Phật, Bộ-phái Phật Giáo không những chỉ lưu hành trong nội
đại Ấn Ðộ mà còn phát triển ra các nước ngoài. Ngày
nay chỉ truyền là nam phương Thượng-tọa-bộ được truyền
tại các nước Xiêm-La, Miến Ðiện, Tích Lan v.v… nhưng thật
thì đã có một thời các Bộ-phái khác cũng đã được truyền
bá bốn phương, và điều này chỉ cần xem các tập du ký
của ngài Huyền Trang, Nghĩa Tịnh cũng đủ rõ. Song nhận xét
theo phần nội dung của giáo nghĩa thì như trên đã nói, Bộ-phái
Phật Giáo vì quá chú trọng về vấn đề chuyên môn hoá,
nên đã biến thành chủ nghĩa xuất gia, còn đối với quãng
đại quần chúng tại gia, Bộ-phái Phật Giáo đã không thể
tiếp xúc trực tiếp để duy trì và hướng đạo họ, điều
này cũng là một sự thật hiển nhiên. Cũng vì thế mà đối
với những xu hướng tiến bộ và tinh thần hoạt động không
ngừng của thời đại, Phật giáo đã không có sự thích ứng
thỏa đáng, nên tinh thần của đức Phật đối với xã hội
cũng đã suy giảm nhiều. Các nhà Ðại Thừa gọi Bộ-phái
Phật Giáo là Tiểu Thừa chính là do điểm này. Ðã phá thái
độ đó, vận động làm sống lại tinh thần hoạt động
của đức Phật để thích ứng với những đòi hỏi tiến
bộ của thời đại chính là Ðại Thừa Phật Giáo. Kết quả
của cuộc vận động này đã đưa đến cuộc kết tập các
kinh điển Phương-Ðẳng của Phật, như: Bát Nhã, Pháp Hoa,
Duy Ma, Thắng Man. Hoa nghiêm, Ðại Vô Lượng Thọ, Ðại Thừa
Niết Bàn v.v… đều là sản phẩm của cuộc vận động này.
Nói vào niên đại thì đại khái vào khoảng đầu thế kỷ
thứ tư hay thứ năm sau Tây-lịch. Ðại Thừa tuy đến lúc
đó mới phát khởi và hoàn thành, nhưng truy đến uyên nguyên
của nó thì tinh thần đó đã có sẳn ngay ở đức Phật,
và sau này khi Ðại Thừa được truyền sang Trung Quốc, Nhật
Bản, thì tinh thần đó lại được khai triển rất nhiều.
Nhưng có thể nói cho đến ngày nay tinh thần Ðại Thừa vẫn
chưa được hoàn toàn viên mãn.
Như
vậy đặc chất của Ðại Thừa Phật Giáo như thế nào? Câu
hỏi đó tưởng không cần nói là một câu rất khó trả lời.
Tuy nhiên, nếu chỉ đề cập đến một vài khía cạnh nổi
bật thì đại khái có những điểm như sau:
1)
Thời kỳ Tiểu Thừa Giáo, vì chỉ tìm cầu sự giải thoát
cho bản thân, việc cứu độ người khác đối với con đường
giải thoát của mình không phải là một điều tất yếu.
Nhưng Ðại Thừa vì cho rằng tất cả mọi người đều có
khả năng tính thành Phật, cho nên chủ trương người ta ai
cũng có thể tu thành Phật, được như Phật, bởi vậy mới
lấy việc cứu độ hết thảy chúng sanh làm lý tưởng tối
cao của mình. Tiểu Thừa chỉ nhận có một Phật Thích Ca,
Ðại Thừa thừa nhận chư Phật đồng thời tồn tại, đó
là lý do minh chứng mọi người đều có thể thành Phật chứ
không riêng gì Phật Thích-Ca. Và không những chỉ ở thế
giới này mà còn ở các thế giới khác trong mười phương
đều có Phật cả; không những chỉ có Phật ở hiện tại,
mà ở quá khứ, tương lai đều có Phật. Thành Phật là lý
tưởng tối hậu; nhưng thật ra không phải thực hiện được
lý tưởng đó một cách dễ dàng. Theo Ðại Thừa, muốn thành
Phật trước hết hành giả phải thành một vị hậu bổ Bồ-Tát,
tu theo hạnh Bồ-Tát của các bật Bồ-Tát tiền bối. Bồ
Tát là người cầu đạo Bồ Ðề (sự giác ngộ của Phật),
tức là thời kỳ tu để thành Phật. Song Bồ-tát đây không
như Thanh Văn chỉ hạn cục ở người xuất gia, những người
tuy ở tại gia sông theo thế gian, nhưng nếu diệt trừ lòng
tham dục ích kỷ, làm lợi cho đời, dắt dẫn người đời
về đường thiện, tích công lập đức, cuối cùng hồi hướng
cho quả vị Phật, đều được coi là Bồ-Tát cả. Mà trái
lại chính những người ở tại gia phát tâm cầu đạo mới
chính là bản vị của Bồ-Tát. Cứ theo ý nghĩa đó thì đạo
Bồ-Tát là một loại thế tục đạo và như Nghiêm Mật nói
là một đạo chỉ dương giữa thế tục và xuất gia.
Nhưng
tuy cũng gọi là Bồ-Tát song trong đó cũng có nhiều loại
và cấp bậc khác nhau, có vị đã gần thành quả vị Phật,
chỉ có vị chỉ mới phát tâm trên cầu đạo Bồ Ðề, dưới
hóa độ chúng sinh mà thôi. Lý do tại sao Ðại Thừa lấy
Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm làm đầu để lập nên vô số
Bồ-Tát là ở chổ đó. Lấy Bồ-Tát làm trung tâm là đặc
trưng của Ðại Thừa Phật Giáo; và gọi Ðại Thừa là Phật
Thừa hay Bồ-Tát-thừa để đối lại với Tiểu Thừa và
Thanh-Văn-thừa hay La-Hán-Thừa cũng lại do ở điểm đó.
Nói
tóm lại, lập trường của Ðại Thừa là lấy Phật làm lý
tưởng và lấy sự trở về với tinh thần của đức Phật
làm mục tiêu. Nếu theo ý nghĩa đó, ta có thể nói Ðại Thừa
đứng trên lập trường thâm sâu để mưu khôi phục Phật
Giáo Nguyên thủy.
2)
Bồ-Tát lấy việc trên cầu đạo Bồ Ðề, dưới hóa độ
chúng sinh làm bản nguyện, và lấy tại gia làm điểm xuất
phát, cho nên khác hẳn Ðại Thừa, không theo chủ nghĩa ẩn
dật, mà trái lại, ở ngay trong thế gian hoạt động với
đời, lấy việc cứu dộ làm cơ sở, vì nhu cầu giải thoát
chung, cố kiến thiết một thế giới tốt đẹp hơn, nói một
cách khác muốn cùng một lúc hoàn thành cả hai nhiệm vụ
tại gia và xuất gia, kết quả đã phát họa một quốc gia
lý tưởng, đó là lý tưởng Tịnh-Ðộ vậy. Tiểu Thừa vì
lấy sự giải thoát cá nhân làm chủ nghĩa nên không có lý
tưởng Tịnh Ðộ. Ðại Thừa vì có lý tưởng Tịnh Ðộ
nên nhất nhất hoạt động đều tỏ cái hy vọng là lý tưởng
hóa thế gới, đó là đặc chất của Ðại Thừa ta cần phải
chú ý chổ này (về ý nghĩa và các loại Tịnh Ðộ, xin xem
thiên thứ ba, chương Hiện thực và Tịnh Ðộ).
3)
Ðại Thừa vì chấp nhận giá trị của sự thích ứng với
sinh hoạt hiện thực cho nên cách khảo sát về dục vọng
hay phiền não cũng có nhiều điểm khác hẳn với cách quan
sát của Tiểu-Thừa cho rằng con người khổ vì dục vọng,
muốn thoát khổ người ta phải diệt hết dục vọng, mà diệt
dục tức là chuyên theo giải pháp tiêu cực. Nếu theo nghĩa
hẹp của chữ "dục" thì cũng như Tiểu Thừa. Ðại Thừa
nhân đó là nguồn gốc của mọi khổ đau, nhưng Ðại Thừa
muốn cho chữ dục một định nghĩa rộng rải hơn để đạt
tới vô hạn dục, nhờ vào vô hạn dục đó mà phát tâm mong
cầu thành Phật trong kiếp sống vô hạn đau khổ này. Nói
tóm lại, Ðại Thừa muốn cho chữ dục một ý nghĩa đạo
đức và tôn giáo. Bởi vậy, đối với những khổ đau của
kiếp người, khác hẳn với Tiểu Thừa tìm cách trốn tránh,
Ðại Thừa lấy khổ đau làm cơ duyên để tiến đến khía
cạnh cao sâu hơn của sự sống; tuy nhận khổ đau là hiện
hữu nhưng vẫn có một ý nghĩa đạo đức nên Bồ-Tát mới
lăn lộn trong vòng khổ đau để cứu độ chúng sinh và coi
đó là một phương châm thoát khổ chân chính duy nhất. Do
đó, quan niệm về luân hồi giữa Ðại Thừa và Tiểu Thừa
cũng có chổ bất đồng. Tiểu Thừa lấy việc cắt đứt
vòng luân hồi làm lý tưởng. Trái lại, Ðại Thừa chấp
nhận luân hồi, lấy luân hồi làm căn cứ để phát tâm tu
hành hướng thượng. Bởi vậy, nếu đứng trên lập trường
tu nghiệp mà nhận xét, ta có thể nói luân hồi là điều
kiện tất yếu của Bồ-Tát để thực hiện bản nguyện của
mình, nói một cách đơn giản thì trong dục vọng khổ đau
và luân hồi cũng có giá trị về luân lý, muốn áp dụng
giá trị đó vào cuộc sống tự chủ để tiến tới tích
cực hoạt động, đó là đặc sắc nhân sinh quan của Ðại
Thừa.
4)
Như ở trên đã nói, lập trường của Phật Giáo Nguyên thủy
là đặc biệt chú trọng vào nội tâm, nhưng đến Tiểu Thừa
Phật Giáo thì cho tâm là điều kiện động, nghĩa là đối
với sự tồn tại bên ngoài cũng chú ý, và dần dần chú
ý quá đến nỗi coi dó là một ý nghĩa đặc biệt trọng
yếu, cho nên đã sản sinh ra những người chủ trương thực
tại luận một cách cực đoan. Ðại Thừa Phật Giáo muốn
trở về lập trường của Phật Giáo Nguyên thủy nên chủ
trương hết thảy đều do tâm, nhưng ý nghĩa của tâm ở đây
so với ý nghĩa tâm của Phật Giáo Nguyên thủy có phần thâm
thuý hơn, hoặc nói là tâm kinh nghiệm cũng được mà nói
là vật cũng được, tâm chỉ dương hết thảy. Căn cứ vào
đó để, hoặc đứng về phương diện Bản luận, dần dần
quy định trạng thái hoạt động của tâm một cách tinh tế,
đó kà trung tâm của triết học Ðại Thừa. Trong cái tâm
của ta có đầy đủ đức tính của Như Lai (Như-lai-tạng
hay Phật-tính) cũng như có cả vô minh phiền não, tùy theo
cách nó biểu hiện như thế nào mới có mê, ngộ, địa ngục,
tịnh độ khác nhau. Như vậy hết thảy hiện tượng chẳng
qua chỉ là biểu tượng của cái vọng tâm của ta, và cứ
theo lập luận đó thì hết thảy đều là không; diệt trừ
được vọng tâm làm cho chân tâm biểu hiện thì lúc đó mới
thấy chân tướng của vũ trụ. Căn cứ vào lập luận này
mới thành lập thế giới quan "Chân-không Diệu-hữu". Xét
ra tất cả tư tưởng của Ðại Thừa đều xuất phát từ
điểm đó và rồi cũng quy kết về điểm đó cả.
Sau
hết nên tìm hiểu đặc chất của Ðại Thừa. Ðại Thừa
căn bản muốn thích ứng với tinh thần thời đại mà có,
đồng thời Ðại Thừa cũng lại có đặc tính thích ứng
với tinh thần thời đại. Phật Giáo Nguyên thủy của đức
Thế Tôn đối với thời đại bấy giờ tỏ ra rất quan tâm
một cách sâu sắc, đều đó là một sự thật không thể
chối cãi. Ðến Tiểu Thừa Phật Giáo vì chỉ chuyên tâm vào
việc tìm tòi tài liệu của Phật Giáo Nguyên thủy mà không
hề để ý đến tinh thần thời đại, cho nên dần dần Tiểu
Thừa trở thành khô khan. Theo một ý nghĩa đó thì Ðại Thừa
chống đối điều này, và vận động xướng lên phong trào
Ðại Thừa mục đích để tiếp xúc rộng rãi với tinh thần
thời đại. Do đó, trong tư tưởng Ðại Thừa ta thấy phản
ánh rất nhiều vấn đề thuộc tinh thần giới đương thời.
Cho nên ta có thể nói nếu không hiểu được tinh thần văn
hóa của thời bấy giờ thì không hiểu được phong trào Ðại
Thừa một cách chính đáng, bởi vì giữa tinh đương thời
và Ðại Thừa Phật Giáo có những quan hệ rất mật thiết.
Về điềm này ta cũng nên chú ý rằng, khi Ðại Thừa được
truyền bá ra các nước ngoài, trải qua nhiều thời đại đã
phải dùng nhiều phương tiện và tùy cơ ứng biến để phát
triển.
Tóm
lại, Tiểu Thừa có tính chất tiêu cực, Ðại Thừa có thì
tích cực, giáo hội truyền thống Tiểu Thừa không nhiều
thì ít do khuynh hướng tự do cá nhân mà vận động, Ðại
Thừa do phong trào quần chúng, Tiểu Thừa lấy việc giải
thoát cá nhân làm mục tiêu, Ðại Thừa lấy việc cứu tế
xã hội làm chuẩn đích. Tiểu Thừa chủ trương ẩn dật,
Ðại Thừa chủ trương thông tục; Ðại Thừa nêu khẩu hiệu
trở về với tinh thần của đức Phật, và trên thực tế
kế thừa tinh thần Nguyên thủy Phật Giáo, cho nên ta có thể
nói Ðại Thừa gần với chân lý của đức Phật hơn.
TIẾT
THỨ BA:
ÐẶC
CHẤT CỦA PHẬT GIÁO TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN.
Trở
lên tuy mới đề cập một cách sơ lược đến đặc chất
của Phật Giáo, song lấy đó làm bối cảnh thì đặc chất
của Phật Giáo Nhật Bản như thế nào? Nếu muốn hiểu rõ
điểm này, trước hết ta phải tìm hiểu qua về đặc chất
của Phật Giáo Trung Quốc. Vì Phật Giáo Nhật Bản không phải
du nhập trực tiếp từ Ấn Ðộ, mà hoàn toàn từ Trung Quốc
thì không thể lý giải được đặc chất của Phật Giáo
Nhật Bản . Phật Giáo Trung Quốc tuy có nhiều đặc chất,
nhưng ba đặc chất sau đây được coi là chủ yếu nhất:
a)
Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc hiển nhiên là Phật
Giáo Ðại Thừa, tiêu biểu cho chân lý của đức Phật, còn
Tiểu Thừa chỉ được coi là phương tiện quyền xảo mà
thôi. Ở Ấn Ðộ, như đã nói trên, về hình thức Tiểu Thừa
do giáo hội truyền thống mà truyền bá, còn Ðại Thừa phong
trào vận động phục cổ mà khởi xướng. Ðứng về địa
vị giáo hội mà nói, mãi về sau này cũng thế, giáo hội
Tiểu Thừa vẫn chiếm ưu thế, trái lại Ðại Thừa không
có ưu thế. Tiểu Thừa có tất cả mười tám phái hai mươi
phái, mà Ðại Thừa mãi về sau này cũng vậy, chỉ có hai
phái đối lập nhau, đó là phái Trung Quán (Tam Luận Tôn) và
phái Du Dà, đây là một sự thật rất hiển nhiên. Nhưng khi
Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc thì cái khẩu hiệu:
"Ðại Thừa phi Phật thuyết" đã tiêu tan mà bắt đầu quy
định bản vị của Ðại Thừa. Ðứng trên lập trường ưu
thế của giáo hội mà so sánh thì địa vị của Ðại Thừa
ở Trung Quốc rõ ràng khác hẳn với địa vị ở Ấn Ðộ.
Trong
mười ba phái dưới thời Tuỳ, Ðường chỉ có Tỳ Ðàm Tôn(
sau là Câu Xá Tôn) có thể nói là chân chính Tiểu Thừa, còn
tất cả các phái khác, trên bản chất thì thuộc Tiểu Thừa,
nhưng đều coi mình là Ðại Thừa, bởi thế mà địa vị
Ðại Thừa được thành lập.
b)
Ðiểm thứ hai cần nêu ra là vì có những đặc chất như
đã kể trên nên đã thịnh hành cái gọi là " giáo tướng
phán tích". Nghĩa là bất luận Tiểu Thừa hay Ðại Thừa,
mà dù ngay trong Ðại Thừa, cũng có những chủng loại khác
nhau, trong đó vô luận là chủng loại nào đều tự coi như
từ đức Phật mà ra cả, và đều có thể đại biểu cho
chân lý của Phật. Cũng vì thế nên mỗi phái đều đưa ra
những quy định riêng để thuyết minh tín ngưỡng của mình
và trạo việt. Chẳng hạn như Thiên Thai Tôn chủ trương thuyết
"Ngũ Thời Bát giáo" và Hoa Nghiêm Tôn thì chủ trương thuyết
"Ngũ Giáo Thập Tôn" v.v… làm đại biểu của mình. Ðến
đấy thì hoặc đã có nhiều sự chống đối mà phát sinh
nhiều cách phán thích khác nhau, và kết quả đã đưa đến
sự thành lập nhiều tôn phái Ðại Thừa. Nhất là trong các
kinh điển Ðại Thừa , mỗi phái tùy ý lựa chọn một bộ
để làm tôn chỉ của mình, đó là đặc sắc của Phật Giáo
Trung Quốc, mà tại Ấn Ðộ chưa từng có hiện tượng ấy.
Lại
nữa về việc chú thích kinh luận một cách hoàn bị, làm
nổi bật nhiều đạo lý thâm sâu, đó cũng là một đặc
sắc của Phật Giáo Trung Quốc. Tại Ấn Ðộ, tưởng không
cần nói cũng có chú thích kinh điển tuy không nhiều thì ít,
cũng khơi thêm được ý nghĩa thâm sâu của nguyên văn, nhưng
không thể vượt qua giới hạn của nguyên văn, cho nên thiếu
hẳn tính chất tự do. Ở Trung Quốc, trái lại lấy việc
phiên dịch những nguyên điển làm chủ, cho nên đối với
vấn đề giải thích, phương pháp "Ý nghĩa giải văn" đã
được áp dụng, kết quả là ngoài ý nghĩa của nguyên văn
ra, trong các bản chú thích cũng có rất nhiều ý nghĩa đặc
biệt nữa. Chẳng hạn như Thiên Thai chú thích kinh Pháp Hoa,
và Hiền Thủ chú giải kinh văn khác, những học giả của
các tôn phái, theo chiều lập trường, đặc biệt giải thích
cũng có rất nhiều. Tại Ấn Ðộ và Nhật Bản, chúng ta không
thấy hiện tượng đó, bởi vậy mà việc ấy đã thành đặc
sắc của Phật Giáo Trung Quốc và cơ sở của sự phán thích
nói trên cũng do đó mà được thành lập.
c)
Trên thực tế, tưởng không cần nói, Phật Giáo Trung Quốc
qua dòng thời gian đài đặc của lịch sử, tuy đã phát huy
nhiều ý nghĩa về văn hoá sử, nhưng rõ ràng nhất ở hai
điểm:
- Như
đã nói ở trên, đem Phật Giáo cấu thành nền học vấn,
do đó, ta có thể nói Phật Giáo Trung Quốc là nền Phật Giáo
học vấn, đây là điểm rất cụ thể.
- Sự
hưng thịnh của Thiền quán và giới luật. Về phương diện
này, giáo lý Phật Giáo đã lan tràn khắp nơi, đâu cũng nghiêm
trì giới luật, ham mê Thiền quán, bởi thế Phật Giáo đã
trở thành vật sở hữu riêng của tăng lữ, đó cũng là lẽ
tự nhiên.
Theo
một ý nghĩa nào đó thì sự hưng thịnh của Phật Giáo được
căn cứ vào số lượng của tăng lữ nhiều hay ít mà có.
Nhận xét theo điểm này thì Phật Giáo Trung Quốc tuy lấy
Ðại Thừa làm đặc sắc, nhưng phần nhiều vẫn còn mang
sắc thái Tiểu Thừa, đó cũng lại là một lẽ hiển nhiên.
Ba
điểm trên đây là những đặc sắc chủ yếu Phật Giáo Trung
Quốc, vậy đối với Phật Giáo Nhật Bản có những đặc
sắc gì?. Nói một cách đại thể thì Phật Giáo Nhật Bản
cũng lấy Trung Quốc làm mô phạm và thâu nhập những phong
thái của Trung Quốc, điều đó tưởng không cần nói cũng
rõ. Duy có hai điểm dần dần đã trở thành bất đồng với
Phật Giáo Trung Quốc, mà đứng về phương diện cơ năng quyền
xảo của Ðại Thừa mà nói thì đây là điểm hết sức trọng
đại.
Ðiểm
thứ nhất, Phật Giáo Nhật Bản phát huy đặc chất của Ðại
Thừa, coi nhẹ phần ẩn dật mà thiên trọng phần hoạt động,
coi nhẹ phần học vấn mà coi trọng phần thực hành. Ðiểm
này ta hãy lấy ngay trường hợp của Thái Tử Thánh-Ðức
sẽ rõ: Thái-tử Thánh Ðức chú thích kinh Pháp Hoa đến đoạn
nói" nên ở những nơi núi rừng u tịch mà tu luyện" thì ông
chua thêm là:" không nên vì mục đích của đạo Phật mà lấy
sự hoạt động ngay giữa xã hội thực tiễn để phát huy
cơ năng của mình". Và mãi mãi về sau tinh thần Thánh Ðức
đã trở thành tinh thần chỉ đạo của Phật Giáo giới Nhật
Bản. Tựu trung, Phật Giáo Nhật Bản từ triều đại Nại-Lương
đến triều đại Bình An, do kết hợp với sự tinh hoạt quốc
gia mà phát huy những hoạt động cơ năng của mình, cho nên
đã dễ đi sâu vào mọi tầng lớp dân chúng: đó là sâu sắc.
Rồi
đến triều đại Liêm-Phương thì Phật Giáo lại từ chỗ
sinh hoạt quốc gia tiến đến chỗ lấy sinh hoạt cá nhân
làm trung tâm, lấy sự an tâm lập mệnh cá nhân làm cơ năng
cao nhất, đến đây thì tinh thần Phật Giáo đã thật sự
thu hút toàn bộ sinh hoạt quốc gia, và trên thực tế, điểm
này có thể nói đã trở nên thiết yếu nhất của Phật Giáo
Nhật Bản. Tại Trung Quốc, ngoài triều đình và các vị tăng
già ẩn tuẫn trong các nơi thâm sơn u tịch ra, đối với dân
gian. Phật Giáo chỉ phụ thuộc cho nên tinh thần Phật Giáo
có vẻ bạc nhược. Ở thời đại Liêm-Thương của Nhật
Bản, giáo nghĩa của Thiền-Tông, Nhật-Liên-Tông và Tịnh-Ðộ-Tông
đã trực tiếp chi phối tín ngưỡng của quốc dân. Do đó,
điểm thứ hai ta thấy đặc sắc của Phật Giáo Nhật Bản
dưới thời Liêm-Thương. Về bối cảnh tuy có những triết
lý cao thâm, nhưng về mặt biểu tượng giáo lý lại cực
kỳ đơn giản, cho đến nỗi Phật Giáo đã thành một tôn
giáo dễ thực hành của mọi tầng lớp.
Nhận
xét theo điểm, nếu so sánh với Phật Giáo có tính cách học
vấn và ẩn tuẫn của Trung Quốc, ta có thể nói Phật Giáo
Nhật Bản phù hợp với chân tinh thần của cuộc vận động
Ðại Thừa tại Ấn Ðộ hơn. Ngày nay, trên lục địa Ấn
Ðộ, nơi sản sinh ra Phật Giáo, mà Phật Giáo chỉ còn là
một sự kiện" vang bóng một thời”, tại Trung Quốc tuy còn
một chút hình thức, nhưng Phật Giáo đối với sự sống
còn của quốc dân hầu như không còn một chút ảnh hưởng
trực tiếp nào nữa: duy tại Nhật Bản mặc dầu bị coi là
suy đồi, nhưng theo một ý nghĩa nào đó, tinh thần Phật Giáo
vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong sinh hoạt quốc dân đó
cũng là một đặc điểm vậy.