CHƯƠNG
THỨ BẢY
SỰ
KHAI TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG PHẬTGIÁO VÀ SỰ KHẢO SÁT VỀ THIỀN
TIẾT
THỨ NHẤT:
ÐỊA
VỊ CỦA THIỀN TRONG PHẬT GIÁO.
Thiền
(dhyana) hay Tam Muội (samadhi), xét về phương diện đức mục
của Phật giáo, là một trong Tam-học, Bát-chính-đạo và lục-ba-la-mật,
còn xét về lập trường các Tông-phái thì Thiền là một
trong các tông đó. Bởi vậy về mặt tu đạo trong Phật giáo,
Thiền tuy được coi như có một địa vị trọng yếu, nhưng
thật thì trong các pháp môn tu niệm, Thiền cũng chỉ là một
trong số đó mà thôi. Song đây cũng chỉ mới là sự quan sát
trên bề mặt. Nếu tiến thêm một bước nữa mà khảo sát
thì Thiền không những là một trong những đức mục Phật
giáo mà ngay cơ sở của tư tưởng Phật giáo, tất cả đều
là kết quả của sự khảo sát về Thiền, và nhờ có tư
duy về Thiền mà tư tưởng Phật giáo mới được thể nghiệm
hóa. Nếu Cơ-Ðốc gốa lìa bỏ phần cầu nguyện thì Cơ-Ðốc
giáo sẽ không còn sự sống; cũng thế, nếu Phật Giáo ly
khai Thiền quán thì Phật Giáo sẽ mất hết sinh khí.
Song
tư tưởng Phật Giáo ngày một phân hóa, tuy bề trong có thói
Thiền quán, nhưng bề ngoài phần nhiều chỉ chú trọng đến
lý luận về giáo lý, và kết quả là Phật Giáo đã dần
dần sa vào vòng học giải, còn cái sinh khí thật thì cơ hồ
đã mất. Theo một ý nghĩa nào đó, ta có thể nói đây là
một điều đại bất hạnh cho Phật Giáo. Câu Xá Tông thì
như thế, đến như Thành Thật Tông, Pháp Tướng Tông, Thiên
Thai Tông, và Hoa Nghiêm Tông cũng lại như thế. Vì tất cả
các Tông phái đó khi kiến lập giáo lý làm nền tảng cho
tông phái mình đều lấy Thiền quán làm điểm trọng yếu,
nhưng không phải thực tiễn Thiền mà là giáo tướng Thiền,
chỉ thiên trọng về mặt luận lý nên đã trở thành những
lý luận tông, và mất hẳn ý nghĩa thực tu về đặc chất
của Thiền. Nếu không có sự tu hành về tứ Thiền, tứ vô
sắc định thì đã chẳng có Câu Xá Tông; không có Ngũ Trùng
Duy Thức Quán, thực tiễn thì không có Pháp Tướng Tông; không
có Nhị Ðế Tông Quán thực tu thì Tam Luận Tông đã chẳng
ra đời nếu không có sự thực nghiệm về chỉ quán thì Thiên
Thai Tông sẽ mất hế sinh khí. Thiền Tông tuy lấy việc khôi
phục lại tinh thần cố hữu của nó làm nhiệm vụ, nhưng
cho tới ngày nay cũng vẫn thế, duy chỉ chú trọng đề xướng
những vấn đề tổ truyền hoặc giảng giải về phương pháp
ngồi Thiền mà quên hẳn cái trọng yếu tính của sự ngồi
Thiền, và kết quả cũng chẳng khác học giải Phật pháp
một chút nào cả.
Tóm
lại, Phật giáo chân truyền-thể nghiệm Phật giáo_trước
sau vẫn còn năm trong Thiền hay Tam Muội; tất cả sự tổ
chức giáo lý đều phát xuất từ Thiền, do đó về mặt thực
tu cũng như về mặt lý giải pháp luật, nếu muốn được
hoàn toàn, chúng ta không thể không phát kiến cái thỏa đáng
tính tối hậu của Thiền.
Không
có thực tu, thực chứng mà nói về Thiền thì chẳng khác
nào một lũ xẫm rờ voi. Chính tôi cũng thuộc hàng ngũ đó.
Nhưng ở đây, trên cương vị một học đồ muốn tìm hiểu
tư tưởng Phật giáo một cách chính xác, tôi mạo muội nói
lên quan điểm của mình về vấn đề này.
TIẾT
THỨ HAI:
THIỀN
QUÁN : MẨU THAI CỦA GIÁO LÝ.
Trước
hết xin nói rõ về lý do tư tưởng Phật giáo được thành
lập do kết quả của cuộc khảo sát về Thiền. Thật ra,
không phải chỉ riêng Phật giáo mới lấy sự khảo sát về
Thiền làm bối cảnh để thành lập tư tưởng, mà nói chung,
tư tưởng Ấn Ðộ thời đại Áo-Nghĩa-Thư trở về sau (800-600
tr. TL) đều lấy nội quán, tức là Du Dà (Yoga-tương ứng)
làm phương pháp quan sát để phát kiến và thể nghiệm chân
lý mà tiến triển. Sự khảo sát về Thiền trong Phật giáo
cũng xuất phát từ cái học phong nhất ban đó. Ở đây tôi
sẽ không đề cập đến cái học phong nhất ban ấy, mà chỉ
đứng riêng về lập trường Phật giáo để tìm hiểu mối
quan hệ giữa sự khảo sát về Thiền và tư tưởng Phật
giáo mà thôi. Nhưng có điều trọng yếu tôi xin nhấn mạnh
là: tư tưởng Phật giáo, trên bề mặt, dù có hợp lý đến
đâu đi nữa cũng quyết không phải chỉ lý luận hoặc cái
biết ấy làm mục tiêu cốt tủy thì mới mong thấu suốt
một cách triệt để tư tưởng Phật giáo, nhất là tư tưởng
Thiền. Nếu thật sự thể nghiệm hóa đó, ta sẽ không bao
giờ thấy được bản chất của Thiền.
Về
tính chất, Thiền có hai phương diện: tiêu cực và tính cực.
Về mặt tiêu cực, hành giả phải ngăn ngừa cảm giác, ức
chế biểu tượng, trừ bỏ tất cả mọi vọng niệm, tạp
nhiễm; về mặt tích cực, thống nhất tinh thần, triệt để
tập trung vào sức chú ý, chuyên tư duy về một vấn đề
(công án) nào đó để cuối cùng đi tới sự dung hòa với
toàn ý thức. Nói theo thuật ngữ thì mặt tiêu cực gọi là
"Chỉ" (sammatha), mặt tích cực gọi là "quán" (vipasyana), mà
lập trường của Phật giáo là lấy sự quân bình của Chỉ,
Quán làm phương pháp trọng yếu để phát kiến và thể nghiệm
chân lý. Nghĩa là nhờ có Chỉ mà ngăn ngừa được tình cảm,
không để cho tình thân vấn loạn, dao động, đồng thời,
có được cảm giác phong khoáng mà không bao lâu sẽ tiến
tới một trạng thái hỷ duyệt. Nhờ có Quán mà làm quan niệm
nội dung nhất trí, không còn sự khu biệt về nội, ngoại,
không còn sự đối lập về chủ quan khách quan, toàn vũ trụ
là một công án suy nhất, và lúc đó hành giả sẽ cảm thấy
chân lý xác thực là căn cứ tâm lý cốt tủy của mình. Bởi
vậy, đứng trên lập trường của Phật giáo mà nói thì lý
luận dù có tinh nhuệ đến đâu, lý tưởng dù có cao thượng
đến bao nhiêu chẳng qua cũng ngừng ở phạm vi tri thức, tất
kính chỉ là một thứ đồ án mà thôi. Dù lấy đồ án đó
làm nền tảng rồi nhờ vào phương pháp Chỉ-Quán, nhưng nếu
không triệt để dụng công hoán chuyển nội tâm thì quyết
không thể cụ thể hóa đồ án đó được. Không những thế
mà đến cái gọi là tám vạn bốn nghìn pháp môn cũng sẽ
biến thành bánh vẽ nếu ta không dụng tâm cải tạo nội
tâm ta. Ðây cũng là lý do chính tại sao tư tưởng phật giáo
không phải đơn thuần lý luận, và Phật giáo không phải
chỉ là một tôn giáo lấy sự cầu cúng làm mục tiêu sinh
tồn vậy.
TIẾT
THỨ BA:
NỘI
DUNG CỦA THIỀN.
Ðến
đây vấn đề được nêu lên là: nội dung Thiền quán của
Phật giáo như thế nào? Tuy cũng gọi là Thiền, nhưng ngoại
đạo Thiền, Phật giáo Thiền, Tiểu Thừa Thiền, Ðại Thừa
Thiền… có những phương pháp quán tưởng khác nhau chứ không
phải đồng nhất. Vấn đề này mới nhìn qua tuy có vẻ rất
đơn giản, nhưng thật thì nó phức tạp. Và đối với sự
triển khai của tư tưởng Phật giáo nó cũng quan hệ rất
mật thiết.
Trước
hết, đứng trên lập trường bình phàm mà nói thì nội dung
Thiền quán của Phật giáo đã xuất phát từ sự tự ngộ
và thuyết giáo của đức Phật, nghĩa là theo thủ tục tư
duy của Phật đã thể nghiệm rồi đem áp dụng và thực hành
chỉ, quán, đó là khóa trình chính yếu của sự khảo sát
về Thiền. Song căn cứ vào lịch sử thì sự tự ngộ của
Phật được thành tựu do công phu Thiền quán dưới gốc Bồ
Ðề, về điểm này những hình tướng khác nhau trong Thiền
quán Phật giáo của hậu thế vị tất miêu tả Tam Muội lịch
sử của Phật, mà phần lớn có thể được coi là kết quả
sáng tạo của các nhà tu Thiền quán sau này. Bởi vậy khi
khảo sát về nội dung Thiền quán Phật giáo, nếu không đề
cập đến cái nguyên động lực sáng tạo đó thì không thể
nói là hoàn toàn được, vấn đề này nếu suy cứu cho cùng
thì hết sức phức tạp, ở đây tôi xin chia ra ba đoạn để
khảo sát.
Thứ
nhất, liên quan đến cái gọi là nguyên động lực toàn thể,
nghĩa là khi ngồi Thiền để niệm nội dung nhất định thì
tại sao lúc đó có dược trạng thái "pháp hỷ Thiền duyệt
(khoái cảm tâm linh)"? Ðây là sự khảo sát có liên quan đến
căn cứ tâm lý. Nếu nói một cách đơn giản thì có được
trạng thái đó là do hai yếu tố tạo thành: sự mong muốn
về sinh mệnh vĩnh viễn và nhu cầu giải thoát. Ðiểm này,
như sẽ được trình bày sau, là căn đề của mọi tôn giáo.
Nhất là Ấn Ðộ, tất cả mọi tư tưởng từ thời Áo Nghĩa
Thư trở về sau, đều lấy hai yếu tố lớn trên đây làm
nền tảng. Nếu truy cứu đến nguồn gốc của nó thì Thiền
quán Phật giáo cũng sẽ được trình bày sau-trên đại thể,
yêu cầu giải thoát tuy là nguyên động lực mạnh mẽ, nhưng
sự mong muốn một sự sống vĩnh viễn cũng đã dần dần
trở thành một yếu tố có cường lực không kém. Do đó,
mà nội dung Thiền quán, ít ra cũng trên bề mặt có nhiều
chỗ bất đồng. Ðây là điểm ta cần ghi nhận nếu ta muốn
hiểu rõ nội dung Thiền quán của Phật Giáo.
Thứ
hai: chính cái nguyên động lực trên đã cấu tạo thành nội
dung Thiền quán và hình thức biểu hiện của đức Phật đã
là điểm xuất phát của Thiền quán Phật Giáo.
Theo
truyền thuyết thì đức Phật ngồi tư duy dưới gốc cây
Bồ Ðề và kết quả cuối cùng đã đưa Ngài đến giác ngộ
thành Phật. Nhưng cái nội dung đó như thế nào? Ðứng trên
lập trường tự nội chứng mà nhận xét thì đây là một
sự thần bí trong thần bí, là cái cảnh giới mà người ngoại
cuộc không thể biết được, duy chỉ có Phật với Phật
mới hiểu được mà thôi, nhưng đức Phật không chỉ ngừng
ở tự nội chứng mà lại đưa ra một hình thức nhất định
để biểu hiện nội dung ấy: đó là cái mà mọi người đều
biết như tứ đế quan, Thập-nhị-nhân-duyên-quan, Tứ-niệm-xứ-quan,
Tứ-vô-lượng-quan... đã trở thành những đầu đề thuyết
pháp trọn một đời. Cũng vì thế mà Thiền quán Phật giáo
sau này, bất luận là hình thức hay nội dung, tất cả đều
lấy những đề mục của Phật nói trên đây làm tiêu chuẩn,
căn cứ vào lời Phật nói mà quy định.
Thứ
ba: đứng về mặt hình thức mà nhận xét thì như đã nói
ở trên, giáo lý của Phật giáo nêu ra cùng với nội dung
Thiền quán mà các đệ tử tu tập cần nhất trí. Trên nguyên
tắc, cái gọi là "Giáo, Thiền nhất trí" chính điểm này.
Song ở đây, đối với sự quan hệ giữa nội dung Thiền quán
và Giáo lý biểu hiện chúng ta lại cần phải khảo sát sâu
rộng hơn nữa. Lấy Thiền-quán làm bản vị thì giáo lý biểu
hiện, vì là phiên dịch, nên giữa giáo lý và nguyên điển
không phải đã hoàn toàn nhất trí, ta cần phải kiểm tra
lại. Ðó là lập trường "Giáo, Thiền nhất trí". Nhưng thực
ra đây chỉ là một sự đòi hỏi thôi, trên thực tế, không
những không nhất trí mà còn có nhiều điểm bất đồng vì
những lẽ sau đây:
a)_Nội
dung của Thiền quán trước sau vẫn là sự thể nghiệm tự
nộ chứng, nói cho cùng thì ngoài bản thân người thể nghiệm
ra không một phương pháp nào khác có thể diễn tả một cách
chính xác được. Bởi vậy khi đem phiên dịch nó để mà
giáo lý hóa, tổ chức hóa, thì bất luận thế nào đi nữa,
trên bề mặt, cũng không thể tránh khỏi sự thêm thắt về
ý nghĩa kinh nghiệm, Do đó mà nội dung chân thật cũng bị
ảnh hưởng.
b)_Giữa
những nhà giải thích về giáo lý, trên đại thể, tuy lấy
sự nhất trí làm nguyên tắc, nhưng nếu chuyển sang lĩnh vực
Thiền quán, thì các nhà Thiền-quán nhờ vào nguyên động
lực sáng tạo cùng kết hợp, đôi khi có những linh cảm nội
dung khác hẳn với phần giáo lý biểu hiện. Ðó là trường
hợp rất thông thường.
c)_Tứ
đế quan, Duyên khởi quan, Tứ niệm xứ quan, Tứ vô lượng
quan tuy được cho là vì nội dung Thiền quán mà quy định,
nhưng khi được mở rộng vì đã trở thành một mô hình,
nên khi được áp dụng vào Thiền-quán thì không phải lấy
toàn bộ mà chỉ dùng một bộ phận làm công án cụ thể
mà thôi. (Chẳng hạn Duyên-khởi quan: do thức mà có danh sắc,
do danh sắc mà có thức, lấy đó làm công án độc lập, trong
tứ niệm xứ quan thì lấy tâm vô thường làm một công án:
trong tứ vô lượng quan thì Từ quán hay hỷ quán làm công
án). Cũng vì thế mà về mặt giáo lý biểu hiện ta thấy
nhiều khi một bộ phận của nội dung Thiền quán được đề
cao, đó là lẽ tất nhiên.
Vì
ba lý do trên đây nên giữa nội dung Thiền-quán của các đệ
tử vào giáo lý biểu hiện của Phật, trên nguyên tắc thì
tuy cần phải có sự nhất trí, nhưng trên thực tế, về trình
độ rộng, hẹp, nông, sây hay về phương pháp biểu hiện
hóa, không nhiều thì ít đã phát sinh những điểm bất đồng
về nội dung Thiền-quán đó lại được các đệ tử mang
ra để biểu hiện hóa, giáo lý hóa, để bắt đầu việc
tổ chức giáo lý sơ khởi thì ít ra về mặt giải thích không
thể nào tránh khỏi một vài sự thay đổi, đó cũng lại
là lẽ tất nhiên vậy.
Như
thế là giáo lý biểu hiện đã bị sức Thiền-quán đưa đẩy
dần dần đến chỗ phân hóa, phức tạp, để rồi cuối cùng
đã tiến đến độ khai triển về mọi phương diện, nhất
là Ðại Thừa cho ta thấy rõ điểm này hơn hết, vì Đại
Thừa coi trọng sáng tạo hơn truyền thống. Thí dụ: không
quán của Bát-Nhã là kết quả của sự quan sát về Duyên-khởi
quan của Phật Giáo Nguyên Thủy. Rồi vô tận Duyên-khởi quan
của Hoa-Nghiêm thì lại điều hòa mà theo biểu hiện trực
quán, cho đến Phật thân quan, Tịnh độ quan lấy hai quan niệm
trên làm bối cảnh, tất cả đều là kết quả của những
linh cảm đạt được trong Tam muội. Ðó là tất cả những
dự kiện mà ta thấy trong kinh điển. Cũng vì thế mà Thiền
quán đã được giáo lý hóa, tổ chức hóa và nhất nhất
đều có một lập trường tông phái riêng.
Tóm
lại, đến Ðại Thừa tuy Phật giáo đã bị phân hóa nhiều,
nhưng có thể nói đến đây những quan niệm về Tam Muội
cũng đã phát triển và nội dung Thiền quán cũng đã dần
dần được giáo lý hóa.
Thế
là lấy Thiền làm trung tâm, Giáo lý Phật giáo đã triển
khai để rồi dần dần đã đi đến biến hóa và phức tạp.
Mà nguyên động lực của sự biến hóa đó chủ yếu là do
sức sáng tạo tiềm tàng trong Thiền-định Tam Muội mà trong
đó "yêu cầu giải thoát" và sự " mong muốn một sinh mệnh
vô hạn" tuy không hỗ tương liên hệ, nhưng có khi tác dụng
mạnh về một mặt để hoặc trở thành giáo lý Chân-Không
hoặc trở thành sự quan sát về Diệu-Hữu. Ðó là những
lý do có thể nói đã khiến cho Phật giáo đồng nhất chia
thành nhiều tông phái.
TIẾT
THỨ TƯ:
SỰ
PHỔ BIẾN HÓA CỦA NỘI DUNG THIỀN QUÁN.
Ðến
đây, vấn đề được đặt ra là: nội dung Thiền quán, tức
là điểm khế cơ của Tam Muội. Khi được biểu hiện hóa
và giáo lý hóa như thế nào? Vì bất luận ở Tam Muội nào,
ngay trong đó tuy là một thế giới độc lập, nhưng nhận
xét từ bề ngoài thì đó mới chỉ là sự thể nghiệm cá
nhân chủ quan. Chứ chưa có được thỏa đáng tính khách quan.
Tam Muội của Ca-Diếp, A-Nan không biết. Nhưng khi trao truyền
đạo lý đó cho người khác, chẳng hạn ta mãn túc thì cũng
làm cho người khác cũng mãn túc, ta giải thoát cũng làm cho
người khác được giải thoát , thì đại khái nhất ban đều
phổ thông. Tuy nhiên nếu đem cái nội dung Tam Muội đó mà
giáo lý hóa thì cần phải có một thỏa đáng tính cho tất
cả. Ðó là một lập trường mới là nguyên động lực khiến
cho các Tông phái mới hưng khởi, và là điểm mà các nhà
tổ chức giáo lý rất mong đạt đến. Mà phương pháp đó
tuy có nhiều, nhưng tôi tưởng nên đứng tên ba lập trường
sau đây để quan sát: Thứ nhất, khách quan hóa nội dung Tam
Muội, nghĩa là coi nội dung đó như một biệu tượng hoặc
tư niệm của sự thật. Khi nội dung đó được coi là chủ
quan thì tuy nó là của riêng cá nhân, nhưng khi nó được biểu
tượng hóa, sự thực hóa. Thì tư niệm cá nhân cũng phải
đứng trên cơ sở cộng thông của toàn thể: có như thế
nó mới có được phổ-biến-tính thỏa đáng và giá trị
Thế-giới-quan hoặc Tịnh độ quan của Phật Giáo đại khái
cũng đã do sự kinh quá ấy mà được cấu tạo. Lấy tâm
thái Thiền làm cơ sở để lập thành thuyết Tam-giới: Dục-giới,
Sắc-giới, Vô-sắc-giới là do sự quan chiếu về Bát-chu Tam
Muội (pratyutpanna Samadhy_Phật hiện tiền Tam Muội ); còn Phật
và Tịnh Ðộ thì do cái gọi là "chỉ phương lập hướng"
như Tây-phương-Tịnh-độ ở một phương hướng nhất định
làm sự tồn tại khách quan.
Thứ
hai, đem nội dung Thiền quán thiết lập thành tổ chức về
mặt lý luận, đây là điều vô cùng khó khăn. Vì lẽ về
phương diện đối tượng thì như Chân-Không quan, Chân-như
quan và Pháp-giới quan thật khó mà biểu tượng hoá được.
Tại sao? Vì đặc sắc của Thiền quán, trong giai đoạn kinh
quá, tuy có lúc phải suy lý, nhưng đến chỗ chung cự thì
nó vượt hẳn ra ngoài vòng suy lý và tư lự, chỉ nhờ vào
trực quán mà khế hợp với chân lý. Do đó mà trong giáo lý
của Phật Giáo, Thiền quán được mệnh danh là "Hiện tượng
trí" (kinh nghiệm trực tiếp).
Nhưng
cái kinh nghiệm nội tại trực tiếp đó, về tính chất, duy
chỉ có bản thân người thể nghiệm được nó là thỏa đáng,
bởi thế khi nhất ban hóa nó thì trên căn bản lý luận, ít
ra theo một thuận tự nào đó cũng cần phải cho nó một nguyên
tắc tư duy. Ðó tức là điểm khế cơ khai triển của triết
học Phật giáo. Thí dụ như thuyết "Không" của Trung luận
là muốn đứng lên Biện-chứng-luận để thuyết minh; như
Duy-thức-luận lấy A-lại-da-thức làm trung tâm để rồi muốn
đứng lên nhận thức luận mà khảo sát vạn hữu; rồi đến
khởi-tín-luận thì lấy Chân-như làm trung tâm mà muốn theo
lập trường Bản-thể-luận (Bán nhận-thức-luận) để thuyết
minh thế giới.
Tất
cả những hình thức trên đây tuy có vẻ như thuần luận
lý, nhưng thật ra đó là chân lý do thể nghiệm của Thiền
mà trực quán rồi đem lý luận hóa theo hình thức khác nhau
mà thôi.
Thứ
ba, nhất ban hóa phương pháp lấy tâm truyền tâm. Có thể
nói phương pháp này là hình thức phổ biến nhất. Vì từ
xưa các nhà tu Thiền quán, sau khi thể nghiệm được chân
lý, muốn truyền cho đệ tử, đều áp dụng phương pháp trực
tiếp là làm cho đệ tử cũng thể nghiệm được chính mình.
Nhưng người đem nội dung của Thiền để thực tại hóa,
tuy có đặt ra những phương thức luận lý nhưng đó chẳng
cũng chỉ nói rõ cái đồ án và cái hành đạo mà thôi. Còn
như sự thể nghiệm bản thân thì thất ra, như đã nói nhiều
lần. Không thể nào thuyết minh hay luận lý và cái phương
pháp thỏa đáng hơn cả mà thấy có thể dùng để trao truyền
chân lý cho đệ tử là phương pháp" lấy tâm truyền tâm".
Chính phương pháp này không những chỉ là lập trường căn
bản của Thiền-Tông , mà nó còn thông cả Ðại Thừa, Tiểu
Thừa, đó là một sự thật hiển nhiên. Duy có điểm đặc
biệt là: Thiền-Tông lấy Bát-Nhã làm bối cảnh nên phương
pháp lấy tâm truyền tâm được ứng dụng một cách triệt
để.
Như
vậy thì trong ba phương pháp trên đây nên căn cứ vào phương
pháp nào? Có khi phải ứng dụng cả ba phương pháp, vì giáo
lý Phật Giáo từ nội dung Tam Muội cá nhân biểu hiện thành
hình thức tổ chức thì cả về nhận thức sự thật lẫn
tổ chức lý luận, giáo lý Phật Giáo hiển nhiên đã được
thành lập trên cơ sở đó. Lúc đầu thì Tam Muội là căn
bản của giáo lý, nhưng về sau, trái lại Tam Muội được
qui định bởi những quỹ phạm của giáo lý. Song đến đây
sự tổ chức giáo lý tuy đã đến giai đoạn thể nghiệm
hóa Thiền-quán, nhưng vì sự thể nghiệm hóa ấy có tính
cách cá nhân chủ quan nên không nhiều thì ít, Tam Muội đã
bị thêm thắt, đó cũng là lẽ tự nhiên. Và chính cũng vì
muốn đem những sự sáng tạo chủ quan đó biểu hiện thành
giáo lý mà hiện tượng tông phái đã nảy sinh. Tuy nhiên,
tư tưởng Phật Giáo, như đã nói ở trên, nhờ có trải qua
những giai đoạn như thế mới được phát triển và tiến
bộ.
TIẾT
THỨ NĂM:
THIỀN
QUÁN LÀ PHƯƠNG PHÁP NHẬN THỨC.
Phật
Giáo dùng sự khảo sát về Thiền để thể nghiệm và nhận
thức chân lý, vậy nhiệm vụ khảo sát Thiền phải như thế
nào? Tôi tưởng ở đây nên nói rõ đặc chất của tư tưởng
Phật giáo.
Như
chúng ta đều biết, Thiền là một phương pháp trực quán
thần bí; ý nghĩa chung cực của Thiền là chỉ dương hết
thảy mọi kinh nghiệm, trực tiếp dùng trí tuệ nội tâm mà
đạt quan chân tướng của thật tại, do đó không thể nội
tâm mà đạt chân tướng của thật tại, do đó không thể
dùng phương pháp thuyết minh giáo nghĩa học mà khoả sát về
Thiền được. Ðường lối duy nhất để khảo sát Thiền
là sự triệt ngộ tâm tính.
Bây
giờ xin nói qua đến lập trường của Phật Giáo về vấn
đề này. Tự-Ngã quan, tâm tính quan, sinh mệnh quan của Phật
Giáo tuy có nhiều cách nhận xét, nhưng bất luận là cách
nào, trên lập trường thực tiễn, chỗ lập cước căn bản
vẫn là: "trước hết phải diệt trừ cái cố chấp về bản
ngã nhỏ nhen của ta, rối từ đó mở rộng ra một chân trời
( tâm cảnh) tự do phóng khoáng".
Ðể
làm căn cứ thật sự cho việc xả trừ ngã chấp đó, Phật
Giáo chủ trương Vô-ngã-luận. Duyên-khởi-luận; để biểu
hiện cái tâm tự do kia, Phật Giáo dùng nhiều danh từ chuyên
môn: hoặc gọi nó là không, là Như-Lai Tạng, là Niết-bàn
là Phật tính, hoặc là Thường-lạc-ngã-tịnh. Chung quy, tất
cả những danh từ trên đây chỉ là sự phiên dịch khác nahu
của hai câu: "ly niệm cảnh giới, duy chứng tương ứng". Tôi
gọi sự sinh hoạt của Tiểu-Ngã chấp là tiểu sinh mệnh
(hay Tiểu-Ngã), và gọi cái đương thể của sự đã phá Tiểu-Ngã
chấp là sinh mệnh tuyệt đối ( hay Ðại Ngã). Tóm lại, những
quan niệm trên đây đại biểu cho hai phương diện sinh hoạt
tinh thần của chúnh ta. Nhìn qua Thiền hay Tam Muội của Phật
Giáo, ta thấy nó hoàn toàn liên quan đến điểm này. Mặt
tiêu cực, tức là phương diện "chỉ" đả phá tiểu ngã chấp;
mặt tích cực, tức là phương diện "quán" về nội dung, tuy
giả hiện nhiều biểu tượng, nhưng kết quả cuối cùng vẫn
lấy một cái gì nhất trí, bất khả tư nghị làm mục tiêu
tối cao. Duy khi phiên dịch cái đó ra thì, như trên vừa nói,
hoặc gọi là không, Niết-Bàn, cho đến Ðai-nhật. A-di-đà,
tuy có nhiều tên khác, nhưng về bản chất, nó không ngoài
sự khai phát của tự thể tâm tính, không ngoài sự hoạt
động linh diệu, tự do của tự thể sinh mệnh. Lấy sự khảo
sát về Thiền làm trung tâm để triển khai, tư tưởng Phật
giáo tất kính không ngoài việc quy định cái quan hệ giữa
Tiểu-sinh-mệnh ( sinh-mệnh hiện thực) và sinh mệnh tuyệt
đối nhu thế nào, và đem ứng dụng vào tổ chức Thiền như
thế mà thôi.
Song,
nếu luận như thế thì lập trường của Phật Giáo cũng giống
như lập trường của các phái Số-Luận và Phệ-đàn-đa hay
sao? Ðó là một nghi vấn tất nhiên. Mục tiêu của phái Phệ-đàn-đa
(Vedanta) và phái số luận (Samkhya) là diệt bỏ cái ta giả
tạm để trở về với cái ta chân thật. Mà phương pháp để
thực hiện điều đó là Du-già (yoga), tức Thiền-quán, như
vậy cũng giống hệt như Phật Giáo. Về vấn đề này, tôi
tưởng nên nêu ra hai điểm dưới đây để phân biệt đặc
chất của tư tưởng Phật Giáo.
Thứ
nhất, Số Luận và Phệ-đàn-đa coi sinh mệnh tuyệt đối
là "Thể", còn Phật Giáo thì coi là "Dụng". Ðó là điểm
bất đồng giữa Phật Giáo, Số Luận và Phệ-đàn-đa.
Thứ
hai, Số Luận và Phệ-đàn-đa vì an trụ vào sinh mệnh tuyệt
đối sinh mệnh lý tưởng _nên đối với sinh mệnh hiện thực
không quan hệ gì cả. Về mặt biểu tượng tuy có tích cực
hoá sinh mệnh tuyệt đối, nhung về mặt sinh hoạt thì lại
rất tiêu cực. Còn Phật Giáo vì coi sinh mệnh tuyệt đối
là dụng, nên về mặt biểu hiện sự hoạt dụng đó nếu
không thông quá sinh mệnh hiện thực thì không thể nào thực
hiện được. Ðứng trên lập trường này mà nhận xét thì:
về phương diện hướng thượng; phủ định mọi sinh hoạt
hiện thực, nhưng về phương diện hướng hạ lại muốn đưa
ra một ý nghĩa mới. Ðạo lý đó đã biểu hiện ngay trong
chính nhân cách của Phật, và về phương diện Giáo lý thì
Ðại Thừa đặc biệt chủ trương. Chẳng hạn như giai đoạn
Thập-địa-Bồ-Tát khi đã hoàn thành được ngôi thứ tám
Bình đẳng giới (cảnh-địa của sinh mệnh tuyệt đối),
nếu lại không chuẩn bị đem thích ứng với sai biệt giới
ngôi thứ chín (sinh hoạt hiện thực) thì không thể nào thành
tựu được quả vị Phật. Tức cũng như tín ngưỡng "Vãng
sinh Tịnh độ" thì trong tướng "Vãng" (trở về với sinh mệnh
tuyệt đối) cần phải có tướng "hoàn" (trở lại sai biệt
giới)... Tóm lại, tất cả các phái Ðại Thừa, bất luận
dưới hình thái nào, đều chủ trương từ Bình-đẳng giới
trở lại sai biệt giới. Ở các phái Số Luận, du-già và
Phệ-đàn-đa người ta không thể tìm thấy ý tứ đó. Ta có
thể nói đây là điểm pháp huy đặc biệt của Phật Giáo.