CHƯƠNG
THỨ TÁM
TƯ
TƯỞNG PHẬT GIÁO VỚI VĂN HÓA SỬ
TIẾT
THỨ NHẤT:
ÐỨC
PHẬT VỚI TƯ TRÀO THỜI ÐẠI
Trước
hết hãy căn cứ vào sự thành lập và khai triển của tư
tưởng Phật Giáo để tìm hiểu lập trường nội quán.
Tư
tưởng Phật Giáo tuy lấy nội quán làm nền tảng, nhưng vì
nhiều yếu tố phức tạp nên được thêm thắt vào, nên kết
quả sự thành lập cũng như khai triển của tư tưởng Phật
Giáo không thể nào nói một cách đơn giản được. Nhất
là Phật Giáo nguyên thủy và Phật Giáo Ðại Thừa, như trên
đã nói, đối với tư tưởng giới và phong khí xã hội thời
bấy giờ có những quan hệ rất mật thiết. Nếu không hiểu
được xu thế của nền văn hoá đương thời mà mong lý giải
được chân lý của tư tưởng Phật Giáo là một điều vô
cùng khó khăn. Phật giáo tuy đã phát xuất từ sự tự giác
của đức Phật, nhưng vì bối cảnh của thời đại, vì muốn
hướng dẫn lòng người, nên bất luận dưới hình thức nào,
cũng cần phải có sự tiếp xúc với tinh thần thời đại.
Do đó hãy thử đứng về phương diện này để tìm hiểu
sự khai triển của tư tưởng Phật Giáo.
Trước
hết hãy đề cập đến Phật Giáo nguyên thủy.
Phật
Giáo nguyên thủy là thành qủa của sự tự giác của đức
Phật, đó là điề chúnh ta thấy đã được ghi rõ trong các
kinh điển Phật Giáo. Nhưng vì phương tiện giáo hoá quần
chúng nên đối với xu thế của tôn giáo giới hoặc xã hôi
đương thời, đức Phật ít ra đã suy nghĩ rất kỹ lưỡng.
Có
một số học giả đã nói: " Ðặc sắc của Phật là thâu
thái những sở trường của tôn giáo giới thời bấy giờ
rồi đem phê phán, chế biến mà lập thành giáo thuyết của
mình. Nếu đem tất cả những yếu tố đó trả lại nguyên
bản của nó thì giáo thuyết của Phật không còn gì mới
mẻ". Dĩ nhiên đây là một nhận định có tính cách võ đoán
và cực đoan, nhưng không phải hoàn toàn không đúng. Vì dù
sao thì sự thành lập Phật Giáo nguyên thuỷ đối với nền
văn hoá đương thời cũng mang nợ rất nhiều, đó là điều
không ai có thể phủ nhận. Trong nhiều thí dụ, xin cử ra
đây một thí dụ rất hiển nhiên, đó là trường hợp "Duyên-khởi-quan"
mà được coi là chổ lập cước căn bản của Phật Giáo
nguyên thuỷ.
Duyên-khởi
quan là một nguyên lý yếu ước, nó cho rằng tất cả các
hiện tượng (lấy sinh hoạt tâm lý làm trung tâm ) liên quan
lẫn nhau mà tồn tại, cái này duyên cái kia, không một vật
gì đứng riêng biệt. Ðức Phật chính nhờ ở sự thấy triệt
được lý Duyên-khởi này mà thành chính giác. Về sau, tất
cả tư tưởng Phật Giáo đã xuất phát từ điểm cơ bản
này, cho nên đối với Phật Giáo nó đã hình thành một quan
niệm nền tảng của giáo lý (xin xem Nguyên thuỷ Phật Giáo
tư tưởng luận ).
Các
học giả cận đại thường đề cập đến Duyên-khởi quan,
nhưng đối với ý nghĩa Nguyên thuỷ của nó, đức Phật cứu
kính muốn dùng nó để giải quyết cái gì? Câu hỏi này đại
khái là bất khả tư nghị, bởi vậy các học giả vẫn chưa
có được sự lý giải rõ ràng. Theo chỗ tôi hiểu, lúc đầu
lý Duyên-khởi liên quan đến vấn đề giải quyết vận mệnh
của con người. Nghĩa là lấy lão, bệnh, tử làm trung tâm
suy cứu đến cái căn nguyên của khổ, vui, hoạ, phúc.
Ðây
cũng là một vấn đề trung tâm của tất cả tôn giáo giới
thời bấy giờ. Nhưng theo tư tưởng giới đương thời thì
giải đáp cho vấn đề này có ba luận thuyết khác nhau:
_ Tha
Tác luận (Paramkata vada): tất cả sự khổ, vui của kiếp người
là do một tác dụng nào con người quy định, con người không
biết được, đó là chủ trương của Túc mệnh lụân.
_ Tự
Tác luận (Sayamkata vada): trái hẳn với thuyết trên, thuyết
này cho rằng tất cả khổ, vui đều tự con người chuốc
lấy, tất cả đều do mình tự tạo đó là chủ trương của
Tự do luận.
_ Vô
nhân vô duyên luận (Mahetu appaccaya vada): thuyết này cho rằng
tất cả khổ, vui, hoạ, phúc đều là những sự kiện ngẫu
nhiên.
Duyên-khởi
quan của Phật bài xích cả ba quan niệm về nhân sinh kể trên,
nhưng đồng thời theo một ý nghĩa nào đó, cũng lại bao gồm
cả ba thuyết ấy. Các kinh thường nêu ba thuyết trên ra trên
ra để phủ định rồi sau mới nói đến Duyên-khởi quan của
mình.
Theo
Phật thì khổ, vui, hoạ, phuc không phải là kết quả ngẫu
nhiên, không phải là vận mệnh an bài, mà cũng không phải
là chủ thể cố định tự mình chuốc lấy, mà là do nhiều
nhân duyên, và chỉ cần biến đổi những nhân duyên đó thì
khổ, vui, họa, phúc, cũng có thể được biến đổi. Mà căn
bản của những nhân duyên đó là cái tâm của ta, nếu ta
cố gắng hoán cải tâm ta thì ta có thể chinh phục được
khổ, vui, hoạ, phúc. Nói cách khác, khổ đau hay hạnh phúc
là tuỳ theo thái độ tinh thần của mỗi người. Chú ý của
câu Phật thường nói: "Ta là người chủ trương nỗ lực
luận " chính là ở điểm này .
Như
vậy thì bản ý của Duyên-khởi quan không phải là Tự-do-luận.
Nhưng, không may vì bối cảnh tư tưởng như đã nói trên,
vì sự thiếu sự khảo sát thâm sâu nên bản ý của Duyên-khởi
quan từ xưa đã bị hiểu lầm.
Cho
đến những năm gần đây tôi đã được thấy hai sự ngộ
nhận công khai phát biểu như sau :
Lập
trường Phật Giáo, vì xây dựng trên nền tảng Duyên-khởi
quan, nên tất cả đều đươc coi như đã đựơc quy định
bởi những quan hệ nhân quả tất nhiên, do đó duyên-khởi
quan của Phật Giáo cũng gần như là Túc mệnh luận.
Duyên-khởi
quan thật ra tự do quy định và cũng gần như Tự-tác-luận.
Ðó là những nhận định sai lầm.
Tóm
lại, chỗ lập cước căn bản của Phật Giáo đã có những
quan hê mật thiết với tư tưởng giới đương thời như thế
thì, ngoài ra những đức mục những phương pháp hành đạo
đoàn Phật Giáo có quan hệ như thế nào đối với tư tưởng
giới hạn chế độ tôn giáo thời bấy giờ, thiết tưởng
do đó ta cũng có thể hiểu được phần lớn vậy.
TIẾT
THỨ HAI:
KINH
ÐIỂN ÐẠI THỪA VỚI BỐI CẢNH VĂN HÓA SỬ.
Về
điểm nghiên cứu này, Phật Giáo Nguyên thuỷ tuy cũng đã
có nhiều tiến bộ, nhưng Phật Giáo Ðại Thừa cũng ở trong
một hoàn cảnh, nghĩa là cũng phải thích ứng với thời thế
để phát triển, so với Phật Giáo nguyên thuỷ tựa hồ như
chưa có gì đáng kể. Ðó là một điều thật đáng tiếc.
Sự nghiên cứu của Ðại Thừa, trên đãi thể, hầu như chưa
đạt đến điểm mà Phật Giáo Nguyên thuỷ đã đạt. Phương
pháp biểu hiện của kinh điểm Ðại Thừa rất nghệ thuật
và rất biến hình, cho nên nếu đem nó trực tiếp trở về
với tình hình văn hóa đương thời mà khảo xác, người ta
sẽ cảm thấy vô cùng phiền phức và khó khăn. Do đó, ở
đây tôi chỉ có thê đứng trên lập trường đại lược
mà tìm hiểu xem giữa sự hưng khởi của Phật Giáo Ðại
Thừa và thời thế lúc đó có những quan hệ mật thiết nào
mà thô, chứ nếu tìm ra cho tất cả các mối liên hệ một
cách tường tận thì việc đó không thể làm được.
Nói
một cách đại thể, đối với thời thế lúc đó, tư tưởng
Ðại Thừa có quan hệ về hai phương diện tích cực và tiêu
cực. Ðiểm này, theo tôi không còn hồ nghi gì nữa.Về mặt
tích cực, vì muốn thích ứng với áng thơ Ma-ha-bà-la-đa (mahabharata)
gồm mười vạn bài tụng, thì đầu tiên là Ðại bản Bát
-Nhã (Thập vạn tụng Bát-Nhã ) sản sinh ra mười vạn bài
kinh tụng khác nhau.Rồi lại trong tính ngưỡng giới Tân Bà-la-môn
Giáo đương thời có những quan niệm về các õi Tịnh Ðộ
của thần linh, thì để kích ứng với điểm này, Phật Giáo
cũng lại cố gắng đế xuất những tính ngưỡng Tịnh độ,
cứ như thế mà đối chọi nhau, đó là về mặt tích cực,
đối với thời thế tư lúc đó Phật Giáo cũng thấy thiếu
sót, nên nảy ra ý kiến bổ chính hoặc cải tạo ra nhiều
hình thức. Mà sứ mệnh của Phật Giáo Ðại Thừa trên lĩnh
vực văn hoá sử. Nhưng, như vừa nói ở trên, vì còn nhiều
điểm mà Phật Giáo Ðại Thừa chưa đạt đến, nên ở đây
tôi chỉ xin nêu lên hai, ba điểm để tiến tới việc nghiên
cứu toàn bộ.
Ðiểm
thứ nhất, về chủ nghĩa Kim sắc nguyện trong kinh Di Ðà bản
nguyện. Kinh Ðại Vô Lựơng Thọ nguyện thứ ba và thứ thư
nói : "Xin cho nhân dân trong nước cùng toàn một sắc vàng
". Chủ ý của nguyện này là không có sự phân biệt sâu sắc.
Nhưng nếu truy tầm cho kỹ ta sẽ thấy lời nguyện đó rõ
ràng ngụ một lý tưởng đã phá giai cấp để thực hiện
một sự bình đẳng nhân chủng. Ðó là điều ta cần lưu
ý. Rồi đến kinh A Sơ Phật Quốc nói: "Nguyện cho nhân dân
trong cõi Tịnh Ðộ của ta không có sắc màu xấu xí ". Lại
trong Ðại Phẩm Bát-Nhã cũng có câu: "Nguyện cho nhân dân
không có sự sai khác về sắc tướng ". Nhất là trong Ðại
Bản Bát-Nhã (mười vạn bài tụng) lại nói "Trong cõi nước
của đức Phật ta không có các loài hữu tình sai khác về
hình sắc như đoan chính hay xấu xí, mà tất cả đều là
sắc vàng, trang nghiêm, đẹp đẽ, ai cũng muốn nhìn, thành
tựu màu sắc trong sạch đầy đủ thứ nhất".
Tóm
lại, chủ ý của những câu kinh trên đây là nguỵên cho tất
cả mọi người, không trừ một ai, đều được cái hình
tướng nhân chủng bình đẳng, vì sắc vàng thật ra cũng chỉ
là một loại hình dung.
Nguyên
lai sự phân biệt về nhân chủng đã trở thành cơ sở rồi
từ đó đã phát sinh ra tứ tính (varna: sắc: tính) và do sự
phân biệt tứ tính mà nhân loại đã có quan niệm về giai
cấp, làm cản trở sự dung hợp giữa nhân dân. Ðối với
cái tệ tập phân biệt giai cấp của xã hội đương thời,
muốn bài trừ, cho nên những bản nguyện trên đây bày tỏ
một lý tưởng: lý tưởng xã hội bình đẳng. Ðiều này
trong bản nguyện của Ðại Bản Bát-Nhã được ca ngợi một
cách rõ ràng, đặc biệt trong nguyện 12 và 13 nói: "Trong cõi
Tịnh Ðộ của ta không có sự phân biệt tứ tính, trong tất
cả chúng sinh không có sự phân biệt thượng, trung, hạ ".
Rõ ràng là bản nguyện này do tình thế xã hội hiện thực
đương thời mà có, mục đích là bài trừ thành kiến về
nhân chủng, và thủ tiêu sự tranh chấp giai cấp, mà phương
tiện hoà giải là căn cứ vào tinh thần bình đẳng của Bát-Nhã
và lòng từ bi của Phật.
Tóm
lại, nếu không thấy rõ được tình thế xã hội đương
thời và thái độ của Phật Giáo đối với tình thế đó,
thì không thể lĩnh hội được các ý nghĩa đạo đức của
bản nguyện Kim Sắc trên đây.
Giờ
đến điểm thứ hai. Một đặc sắc lớn trong bản nguyện
của Ðại Phẩm Bát-Nhã là dân chúng trong cõi lý tưởng đó
không còn cái "nạn " đại tiện, tiểu tiện nữa. Mới nghe
qua, tuy có vẻ hoàn toàn là không tưởng, nhưng nếu đem bản
nguyện này trở về vơí cái trạng thái của xã hội lý tưởng
sau khi Di Lặc giáng sinh mà khảo sát tinh thần của nó, ta
sẽ thấy nó bao hàm một lý tưởng thiết bị về văn hoá.
Khi Di Lặc giáng sinh thì tất cả mọi thiết bị về văn hoá
đều hoàn mỹ, như về thiết bị tiểu tiện thì nói: "Lúc
đó, dân chúng muốn đại, tiểu tiện thì đấy tự nhiên
nứt ra, xong rồi khép lại ", nói theo ngôn ngữ ngày nay thì
câu trên có nghĩa là những nơi đại, tiểu tiện phải đươc
giữ gìn sạch sẽ. Nhưng trong bản nguyện của Ðại phẩm
Bát-Nhã ở trên lại đi xa hơn mà lý tưởng hoá cho đến
không còn có cả cái nạn đại tiện, tiểu tiện nữa. Tại
Ấn Ðộ cũng như tại Trung Quốc những thiết bị trong các
nơi đại tiện, tiểu tiện rất nghèo nàn và nhơ nhớp: riêng
trong các tự viện và tịnh xá của Phật Giáo những nơi đó
mới luôn luôn được giữ gìn sạch sẽ mà thô, điều này
trong Luật-tạng chỉ dạy rất cặn kẽ . Ðứng về phương
diện văn hoá sử mà nhận xét, bản nguyện này có một ý
nghĩa thật thú vị.
Trên
đây, tuy chỉ đưa ra hai thí dụ nhưng những biểu hiện của
Phật Giáo Ðại Thừa, nhìn qua, tuy có vẻ như không tưởng,
song nếu đưa căn bản của nó đặt trước vấn đề hiện
thực, thì từ mặt đạo đức, văn hoá dẫn đến một lý
tưởng tối cao, thật nó đã bao hàm một ý nghĩa rất sâu
xa. Do Ðó, nếu không lý giải được tình huống của văn
hoá đương thời thì đối với tư tưởng Phật Giáo (nhất
là về phương diện mượn nghệ thuật để biểu hiện) quyết
không thể nào hiểu được chân ý của nó. Căn cứ vào hai
thí dụ trên đây đại khái ta có thể thấy rõ điều đó
(Về điểm này, xin xem thiên thứ ba, tiết mục "Sự triển
khai của tư tưởng Bản-nguyện ").
TIẾT
THỨ BA:
KINH
ĐIỂN ĐẠI THỪA VỚI SỰ BIỂU HIỆN NGHỆ THUẬT.
Hai
thí dụ trên tuy mới chỉ liên quan đến vấn đề xã hội
hoặc văn hoá nhưng ngoài điểm đó ra, các kinh điển Ðại
Thừa cũng còn muốn dùng sự biểu hiện nghệ thuật để
làm cái phương án giải quyết các vấn đề nội bộ của
giáo hội Phật Giáo nữa. Về điểm này, theo tôi, tháp Ða-Bảo
trong kinh Pháp-Hoa là thí dụ điển hình có ngụ ý ấy.
Lúc
Phật đang nói kinh Pháp-Hoa thì đột nhiên từ dưới đất
mọc lên một ngôi đại-bảo-tháp và cứ lơ lửng giữa không
trung. Trong tháp có toàn bộ xá lợi (di cốt) của Phật Ða-Bảo,
và từ trong xá-lợi phát ra âm thanh lớn vui mừng khen ngợi
và chứng minh kinh Pháp-Hoa của Phật Thích-Ca. Trong lịch trình
kinh Pháp-Hoa, đến đây, nếu coi sự xuất hiện của bảo
tháp này là sự trang trí cho đạo tràng Pháp-hoa thì nó có
một ý nghĩa rất trọng yếu. Nhưng tôi xin thú thật rằng,
lúc đầu tôi đã đọc phẩm Pháp-Hoa này với một cảm nghĩ
phân vân, thắc mắc, vì mặc dầu nói đó là xá lợi của
Phật Ða-Bảo, song nếu bắt một bộ xương khô làm một việc
trọng yếu như vậy (trừ ra đó là đối tượng của Thiền-quán
mang ý nghĩa Bảo-thápTam Muội thì không nói, bởi đây là
một vần khác ) thì thật là một việc quá vô lý, quá giả
tạo. Nhưng sau để ý đến vấn đề văn hoá sử, tôi mới
nhận thấy rằng sự hiện diện của tháp Ða-Bảo bao hàm
một ý nghĩa giải hoà cho hai chủ trương đó là chủ trương
tôn sùng Xá-Lợi và chủ nghĩa lấy Chính-Pháp làm trung tâm.
Khi
Phật nhập diệt có di chúc cho A-Nan : "Hãy tự thắp đuốc
lên mà đi; y chỉ vào mình chứ đừng y chỉ vào một ai khác,
lấy Chính-Pháp làm đuốc, y chỉ vào pháp chứ đừng y chỉ
vào nơi nào khác". Sau khi Phật nhập diệt, những lời di chúc
đó đã trở thành tinh thần chỉ đạo cho Giáo-Ðoàn, vận
mệnh của giáo-đoàn tuỳ thuộc ở sự thực hành chính-pháp,
đó là điều tất nhiên. Song cùng với việc đó, cảm tình
kính mến đức Phật đã dần dần đưa đến một phong thái
tôn sùng Xá-Lợi của Phật, và cuối cùng thậm chí thừa
nhận Xá Lợi là một sức linh thiêng thần bí, rồi phát động
phong trào xây tới tám vạn bốn nghìn ngôi tháp. Việc làm
này, ít ra về hình thức, cũng đã phổ biến hoá Phật Giáo
một phần lớn, dù cho người ta chẳng biết đến nghĩa lý
căn bản của Phật Giáo, nhưng khi xây tháp cúng dường, lễ
bái Xá-Lợi cũng được vô lượng công đức. Dạy cho người
ta có lòng tin đó, kết quả, về mặt hình thức, đã tăng
thêm thế lực của Phật giáo rất nhiều, điều này tưởng
nói, ai cũng biết.
Song,
cùng với sự thịnh hành của phong tục lễ bái tháp Xá-Lợi,
phương diện khẩn yếu của chủ nghĩa lấy Chính-pháp làm
trung tâm, dù chưa thay đổi hẳn nhưng trên thực tế, cũng
đã giảm sút rất nhiều. Vì trong việc tuyên truyền Phật
Giáo, lấy việc xây cất tháp Xá-Lợi làm việc cấp thiết,
còn việc dùng giáo pháp để bồi bổ pháp thân thì lại bị
sao lãng, đó là lẽ tất nhiên, khó tránh khỏi. Chính cũng
vì thế mà trong giáo-đoàn thuộc các Bộ -phái Phật Giáo
lúc bấy giờ đã nảy ra sự tranh luận về việc lễ bái
tháp Xá-Lợi. Phía Thượng-toạ-bộ thì như Thuyết-Nhất-Thiết
-Hữu-bộ, Pháp-Tạng-bộ v.v..cho rằng lễ bái tháp Xá-Lợi
được nhiều quả báo, còn về phía Ðại-chúng-bộ thì như
Án-Ðạt-La phái (Chế-Ða-Sơn-Bộ, Bắc-Sơn-Trụ-Bộ)chủ trương
rằng lễ bái tháp không được quả báo gì cả. Phái này
trước sau vẫn đứng trên lập trường lấy chính pháp làm
trung tâm mà phát động phong trào phản đối tập tục lễ
bái tháp Xá-Lợi của đương thời. Sự tranh luận này tiếp
tục đến Ðại Thừa, trên đại thể, Ðại Thừa thuộc Bát-Nhã
hệ vẫn lấy chủ nghĩa Chính-pháp trung tâm làm chỗ tập
cước. Như Tiểu phẩm Bát-Nhã nói: "Dù cúng dường Xá-Lợi
toàn thế giới cũng không bằng trụ trì, đọc tụng một
quyển kinh Duy-Ma thì chủ trương lấy sự cúng dường Xá-Lợi
(kinh-Bát-Nhã Tiểu-phẩm, Bảo-pháp Công-Ðức phẩm thứ ba,
Thưởng thán Công-đức phẩm thứ 4, kinh Duy-Ma : Pháp Cúng-dường
phẩm ). Vấn đề này đã trở thành nguyên nhân của cuộc
tranh luận trường kỳ trong giáo hội Phật Giáo. Nếu nói
theo ngôn ngữ ngày nay thì : vì muốn cho tinh thần Phật Giáo
phổ cập đến mọi tầng lớp dân chúng, nên lấy việc xây
cất chùa cảnh, tháp miếu hoặc tổ chức giáo-hội làm đầu,
hay nên lấy sự thực hành tinh thần tự thể của Phật Giáo
làm đầu? Trên lý luận thì nên lấy vịêc thực hành tinh
thần để làm chủ, nhưng trên vấn đề thực tế, nhất là
về phương diện dân chúng hoá, thì việc kiến tạo chùa cả,
tháp miếu, sùng bái Thánh-địa, thì ít ra cũng trên bề mặt,
lại thích hợp với công việc khoáng trương Phật Giáo, mà
những người tán thành sự kiện này cũng không phải ít,
vì thế mà vấn đề có vẻ rất khó quyết định. Và vấn
đề này, ngay trong giáo hội Phật Giáo tại Ấn Ðộ xa xưa
cũng là nguyên nhân của nhiều cuộc tranh cãi rồi. Sự điều
hoà và thống nhất được vấn đề này là con đường mà
giáo hội nên tiến hành. Và ý đồ muốn dùng sự biểu hiện
nghệ thuật trang trí để thực hiện sự điều hoà đó chính
là tháp Ða-Bảo trong kinh Pháp-Hoa. Ðặc sắc của kinh Pháp-Hoa
là ở chỗ muốn điều hoà Ðại Thừa, Tiểu Thừa, thống
nhất chuyên môn và thông tục, cho nên đối với vấn đề
này, muốn đưa ra con đường thống hợp cả hai chủ trương.
Ngôi tháp từ dưới đất nhô lên rồi lơ lửng giữa không
trung, tuy nói là tháp Xá-Lợi, nhưng đó hoàn toàn không phải
là vật kỷ niệm chết, mà trong đó ngụ một ý nghĩa sinh
động cực kỳ linh hoạt. Xá-Lợi của Phật Ða-Bảo được
đặt trong tháp tán thán kinh Pháp-Hoa không phải chỉ lấy
di cốt làm đối tượng sùng bái, mà trái lại ngụ một ý
nghĩa tượng trưng cái chân lý vĩnh viễn. Như việc vị chủ
Pháp-Hoa trong tháp Ða-Bảo (đức Phật Ða-Bảo ) cuối cùng
đã thỉnh Phật Thích-Ca đã thành Xá-Lợi, mà đã là đệ
tử của Phật thì một mặt phải bảo tồn Xá-Lợi, mặt
khác, phải cổ xuý Pháp-thân (giáo-pháp-lý-pháp) của Phật,
vì chân lý mà di cốt phát đại thanh, kết quả do đó mà
được tướng thọ mệnh vô lượng như Phật. Ðó chính là
điểm cốt yếu mà kinh Pháp-Hoa dựa vào Xá-Lợi của Phật
Ða-Bảo để biểu thị : vì Pháp-thân mà thừa nhận ý nghĩa
Xá-Lợi mà có thể phát kiến được ý nghĩa Pháp.
Dĩ
nhiên, Pháp-thân thường trụ quan của kinh Pháp-Hoa không phải
chỉ là thí dụ, mà thực ra đã được thực thể hoá. Cho
nên căn cứ vào ý nghĩa trên đây mà giải thích cái nghĩa
đích thực của tháp-Ða-Bảo Phật tuy không phải đã thoả
đáng, nhưng dù sao ở đây đưa ra trương hợp tháp Ða-Bảo
Phật, ngoài cai ý nghĩa tượng trưng cho giáo-lý thâm diệu
ra, đối với các vấn đề thực tế trong nội bộ giáo hội,
muốn tìm một phương án qiải quyết, thật ra đã trở thành
một tài liệu chủ yếu, và cũng là cái kết quả khổ tâm
của hoàn cảnh : đó là điều chúng ta nên thừa nhận.