CHƯƠNG
THỨ CHÍN.
KINH
PHÁP HOA : ÐẠI BIỂU CHO ÐẠO BỒ TÁT
Ðặc
chất chủ yếu của Bồ-Tát gồm bốn điểm sau đây:
_ Ðứng
trên lập trường chỉ dương giữa đạo tại gia và đạo
xuất gia, phát âm đại Bồ Ðề, lấy lòng Vô-ngã và lòng
thương yếu người khác mà hành mọi hạnh nguyện, hồi hướng
công đức cho hết thảy chúng sinh để hoàn thành sự nghiệp
cứu mình và cứu người.
_ Cố
gắng tích tập công đức, tu tập hạnh nguyện Bồ Ðề để
từng bước tiến tới việc cắt đứt vòng luân hồi vô tận.
_ Coi
hết thảy chúng sinh đều là Bồ-Tát, đều có khả năng tính
thành Phật trong tương lai, bởi thế, bất luận là người
nào đều nên lấy việc phát tâm tu hạnh nguyên Bồ-Tát làm
lý tưởng cứu kính.
_
Theo nguyện lực "chúng sinh vô biên, thệ nguyện độ ", nên
lấy việc cùng với chúng sinh xây dựng một nước Cực-Lạc
ngay trên thế gian làm lý tưởng.
Như
vậy là khác với Tiểu Thừa có tính cách chuyên môn, đạo
Bồ-Tát (Ðại Thừa) lấy thông tục làm đặc sắc; Tiểu
Thừa theo chủ nghĩa tịch tĩnh, đạo Bồ-Tát lại lấy hoạt
động làm chủ. Nếu nói theo hình thức thì : Ðại Thừa là
văn học, là thí dụ, Tiểu Thừa là ký thuật, là thần học.
Do đó, tất cả các kinh Ðại Thừa lấy việc thuyết minh
đạo Bồ-Tát làm nhiệm vụ đều mang sắc thái kể trên.
Tuy nhiên, trên thực tế, vì ở vào nhiều tình trạng khác
nhau nên vị tất các kinh điển đã phát huy được toàn bộ
đặc sắc, không những thế mà, trái lại, ta có thể nói
rất ít kinh điển đã phát huy được toàn bộ đặc sắc.
Về điểm này, kinh Diệu-Pháp Liên-Hoa có thể được coi là
bộ kinh mô phạm cho đạo Bồ-Tát .
TIẾT
THỨ NHẤT :
Ý
NGHĨA SỰ XUẤT HIỆN CỦA KINH PHÁP HOA.
Tư
tưởng Chân Không Diệu Hữu của Bát Nhã đã được kinh Hoa
Nghiêm Duy Ma dùng nhân cách hoạt động tự do vô ngại để
khoáng trương làm cho tinh hoa của Phật giáo Đại thừa xán
lạn, rực rỡ.
Nhưng
tư tưởng của các bộ kinh trên đây, tuy nói là phát huy chân
ý của Đức Phật, song thật thì chỉ hạn cuộc vào một
giai cấp đặc quyền nào đó thôi, nếu đứng về phương
diện thệ nguyện của Bồ Tát cứu độ hết thảy chúng sinh
mà nhận xét, thì các kinh đó vẫn còn có điểm khiếm khuyết,
thiếu sót đáng tiếc. Vì lẽ cái đối cơ của kinh Hoa Nghiêm
chỉ thuộc riêng cho Bồ Tát chứ không có Thanh Văn, nhất
là kinh Duy Ma hay kinh Tư Ích còn đi xa hơn nữa mà muốn gạt
hẳn Thanh Văn ra khỏi phạm vi của đạo Bồ Tát Đại thừa.
Nếu cái thái độ này là một sự cảnh cáo đối với những
người có khuynh hướng trốn đời, lấy chủ nghĩa tịch tĩnh
vô vi làm lý tưởng mà quên hẳn tinh thần hoạt động của
Đức Phật thì còn tạm được, chứ nếu thật nó là một
thái độ cố ý bài xích miệt thị, thì chính Đại thừa
cũng chẳng còn gì đặc sắc hơn Tiểu thừa vì nếu như thế
thì Đại thừa đã mất hẳn cái cứu độ tính phổ biến
rồi. Lại nữa, về mặt lịch sử, kinh Bát Nhã là thực hiện
cái gọi là Tam Thừa Tông Giáo. Như vậy, các kinh điển Đại
thừa khác lấy Bát Nhã làm điểm xuất phát mà lại bài xích
Nhị Thừa thì há không phải đã đi ngược lại chủ ý của
Bát Nhã rồi sao? Và câu “Chúng sinh vô biên thệ nguyên độ”
cũng chỉ còn là một câu văn vô nghĩa vì thái độ bài xích
Nhị Thừa đó. Chính vì tự thấy thế mà da Đại thừa cũng
ý thức được cái sứ mệnh bản lai của mình là phải mở
một con đường bao dung cả Tam Thừa để đưa về Nhất Phật
Thừa, và chính kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharma pundarika sutra)
là bộ kinh đã ý thức được sứ mệnh đó và dốc toàn
lực để thực hiện.
Như
trên đã nói, các kinh điển Đại thừa tuy đều phát huy đạo
Bồ Tát nhưng chỉ ở một phương diện nào thôi, chưa được
toàn bộ, duy có kinh Pháp Hoa mới thật đã phát huy được
toàn bộ đạo Bồ Tát.
TIẾT
THỨ HAI:
SỰ
TỔ CHỨC CỦA KINH PHÁP HOA.
Đứng
trên lĩnh vực sử học mà nói, sự thành lập kinh Pháp Hoa
cũng có thứ tự của nó. Về các bản dịch chữ Hán, nên
lấy bản dịch của La Thập gồm 7 quyển, 28 phẩm, (phẩm
Đề Bà Đạt Đa là sau thêm vào) làm tiêu chuẩn, về nguyên
điển thì nên lấy bản Ni Bạc Nhĩ do Khắc Lỗ Ân Thị (?)
và Nam Điều Thị (?) xuất bản làm tiêu chuẩn. Trên đại
thể hai bản này tuy có thể được coi là nhất trí, nhưng
về chi tiết thành lập Pháp Hoa thì thật không có được
điều đó. Căn cứ vào đây mà phân biệt sự tổ chức và
nội dung của 28 phẩm Pháp Hoa như sau: 14 phẩm đầu là cách
thuyết pháp được gọi là Tích Môn, 14 phẩm sau là Bản Môn,
mà giữa hai môn này thái độ tư tưởng có đôi chỗ bất
đồng. Sự phân biệt giải thích này là của Thiên Thai đại
sư và từ trước đến nay nó đã trở thành một quy tắc
phổ thông. Về sau các nhà chú thích kinh Pháp Hoa đại khái
cũng đề theo quy tắc đó, nhưng theo tôi, đem chia cắt 28 phẩm
làm hai để phối hợp hai Bản, Tích như thế thì có điểm
hơi máy móc, vả lại, xết về phần nội dung thì giữa khoảng
Bản, Tích đó cũng có chỗ lầm lẫn nhau. Nếu đứng về
mặt sử học mà quan sát, thì ta không thể không thừa nhận
điều này.
Song
căn cứ vào đây để tìm cho ra sự liên lạc giữa sự khai
triển lịch sử và tư tưởng của 28 phẩm ấy? Vấn đề
này cần phải nghiên cứu từng phẩm vói sự thành lập và
quan hệ hổ tương của nó để rồi sau mới có thể xác định
được, nhưng thật ra đây không phải là một việc dễ dàng.
Ở dây, ta hãy tạm nhận là giữa 28 phẩm đó có sự quán
thông toàn thể, và trải qua những giai đoạn tiển khai về
tư tưởng nó cũng có một vài lập trường bất đồng. Thừa
nhận như thế rồi, bây giờ ta hãy đem toàn bộ tổ chức
của 28 phẩm chia thành số mục mà quan sát như sau:
I-
Phẩm Tổng Tự (VidanaParvarta)
Điểm
cốt yếu của phẩm Tựa này là nêu rõ cái nghi thức mà Phật
Thích Ca ở hiện tại đang nói kinh Pháp Hoa, và cái nghi thức
mà Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh ở quá khứ đã nói kinh Pháp
Hoa. Hai nghi thức này đều giống nhau. Ở đây ta nên lưu ý
về mặt sử học: để chuẩn bị cho việc thuyết kinh Pháp
Hoa, trước hết Phật đã nói kinh Vô Lượng Nghĩa. Trong ba
bộ kinh Pháp Hoa lưu truyền đến ngày nay có kinh Vô Lượng
Nghĩa do Đàm Ma Già Đà Gia Xá dịch), mà trong kinh đó có cả
tên Bát Nhã, Hoa Nghiêm v.v... cũng có luôn cả câu nổi tiếng
“Tứ thập dư niên vị hiển chân thực (hơn 40 năm chưa hiển
Chân thật) của Phật nói, và trên thực tế từ xưa tới
nay vẫn lấy đó làm kim chỉ nam cho việc nghiên cứu kinh Pháp
Hoa. Song kinh Vô Lượng Nghĩa lưu truyền cho chúng ta ngày nay
có giống với phẩm Tựa không? Hoặc giả tên kinh được
nói đến trong phẩm Tựa này là đời sau thêm vào? Hay là
dựa vào tài liệu kinh Vô Lượng Nghĩa mà làm phẩm Tựa này?
Nếu thế thì có thể nói đó là sau này thêm vào. Dù sao đi
nữa đây cũng là một đề mục đáng được nghiên cứu.
II_
Pháp và Thoả Ðáng Tính của nó.
(Quyển
Hội Tam Quy Nhất Thụ Ký thành Phật)
Cương
Lĩnh:
-Phẩm
Phương-Tiện (thứ 2)
Tường-thuyết:
-Phẩm
Thí-Dụ (thứ 3 )
-Phẩm
Tín Giải (thứ 4)
-Phẩm
Dược Thảo Dụ (thứ 6)
-Phẩm
Thụ-Ký (thứ 6)
-Phẩm
Hoá-Thành-Dụ (thứ 7)
-Phẩm
Ngũ Bách Ðệ-Tử-Thụ-Ký (thứ 8)
-Phẩm
Thụ-Học-Vô-Học-Nhân-Ký (thứ 9)
Kết
luận:
-Phẩm
Pháp-Sư (thứ 10)
4)
Truy thuyêt phu luc:
-Phẩm
Ðề-Bà-Ðạt-Ða (thứ 12)
-Phẩm
Khuyến-Trì (thứ 13)
-Phẩm
An-Lạc-Hạnh (thứ 14)
III_
Quyển Pháp Phật Vĩnh Viễn Tính:
Tựa:
-Phẩm
Kiến Bảo Tháp (thứ 11)
-Phẩm
Tòng Ðịa Dũng Xuất (thứ 15)
Phật
thọ vô lượng và tính vĩnh viễn của Pháp:
-Phẩm
Như-lai-Thọ-Lương (thứ 16)
-Phẩm
Phân-Biệt-Công-Ðức (thứ 17)
-Phẩm
Tuỳ Hỷ Công Ðức (thứ 18)
Truy
thuyết khuyến du:
-Phẩm
Pháp Sư Công Ðức (thứ 19)
-Phẩm
Thường-Bất-Khinh-Bồ-Tát (thứ 20)
-Phẩm
Như-lai-Thần-Lực (thứ 21)
Kết
luận:
-Phẩm
Chúc-Luỵ (thứ 22)
IV._
Pháp Và Nhân Cách Hoạt Ðộng
(lấy
Bồ-Tát làm trung tâm )
Pháp
Và Nhân:
-Phẩm
Dược-Vương Bồ-Tát-Bản-Sự (thứ 23)
-Phẩm
Diệu-Âm-Bồ-Tát (thứ 24)
-Phẩm
Quan Âm Bồ-Tát-Phổ-Môn (thứ 25)
-Phẩm
Ðà-La-Ni (thứ 26)
-Phẩm
Diệu-Trang-Nghiêm-Vương-Bản-Sự (thứ 27)
Khuyến-Thuyết
Lưu Thông
-Phẩm
Phổ hiền Bồ-Tát khuyến pháp (thứ 28)
Chia
ra như trên mà khảo sát thì ta thấy sự tổ chức của kinh
Pháp-Hoa, trừ phẩm Tựa, gồm thành ba đoạn: đoạn thứ nhất
nói rõ hết thảy chúng sinh cuối cùng đều có thể quy về
một Phật-thừa; đoạn thứ hai hiển thị căn cứ của điều
đó; và đoạn thứ ba thuyết minh pháp Nhất-Phật-Thừa và
nhân cách hoạt động của Bồ-Tát. Mà sự thành lập của
kinh Pháp-Hoa nếu có các giai đoạn lịch sử thì đại khái
có thể nói đã trải qua ba giai đoạn trên đây mà khai triển.
Sau
đây tôi xin căn cứ vào sự phân khoa kể trên để nói qua
về những tư tưởng cương yếu của kinh Pháp-Hoa.
TIẾT
THỨ BA:
QUAN
NIỆM CHỦ YẾU CỦA KINH PHÁP-HOA .
Kinh
Pháp-Hoa gồm 27 phẩm như trên, bởi thế nếu thu thập tất
cả các câu văn rải rác trong đó lại, ta có thể cấu tạo
thành nhiều giáo lý khác nhau. Tuy nhiên, cái tư tưởng nhất
quán và cốt tuỷ cuả kinh Phap-Hoa là: "Hết thảy chúng sinh
đều có thể thành Phật bất luận ở đây và bất cứ lúc
nào ". Tư tưởng này là để phản lại với tư tưởng của
Tiểu Thừa từ xưa vẫn cho rằng việc thành Phật chỉ dành
riêng cho một hạng người đặc biệt nhờ kết quả của
sự tu dưỡng đặc biệt trải qua nhiều giai đoạn, còn hàng
đệ tử (tức Thanh-Văn) của Phật không thể tu thành như
Phật được. Do đó mà giáo đồ tân tiến Ðại Thừa liệt
Thanh-Văn vào hạng người "tiêu nha bại chủng ", nghĩa là
người diệt hạt giống Phật. Hết thảy chúng sinh đều có
thể thành Phật. Vì muốn chỉ dẫn cho chúng sinh thể nhập
được cái tri kiến của Phật nên đức Phật mới ra đời.
Muốn nói rõ điểm này là cái ý chỉ nhất quán của kinh
Pháp-Hoa.
Theo
ý nghĩa đó thì chủ yếu của kinh Pháp-Hoa là thuyết minh
sự thích ứng phổ biến của tư tưởng Ðại Thừa và như
vậy, có thể nói Pháp-Hoa là bộ kinh hoàn toàn về môn ứng
dụng. Bởi lẽ, nếu so với các kinh Ðại Thừa, như Hoa-Nghiêm,
Bat- Nhã, Duy - Ma, những yếu tố triết học của kinh Pháp
- Hoa không quá mạnh, mà trái lại về mặt tôn giáo, Pháp
- Hoa lại lấy việc nhất-ban- hóa và thông tục hóa làm chủ
yếu.
Các
nhà chú thích Trung Quốc, nhất là phái Thiên Thai, trong phẩm
Phương Tiện cho rằng chân lý Thập Như Thị: Như Thị tướng,
Như Thị tính, Như Thị thể, Như Thị lực, Như Thị tác,
Như Thị nhân, Như Thị duyên, Như Thị quả, Như Thị báo,
Như Thị bản mạt cứu kính, là bản ý của Pháp- Hoa, nhất
là của cái gọi là Tích Môn. Nhưng theo tôi thì đó chưa hẳn
đã là cái chủ ý của kinh Pháp-Hoa. Và bản Phạm Ngữ đề
không có. Và đoạn Thập Như Thị trên đây trong bản Phạn
Ngữ là:
Yaca
te dharma yatha ca te dharma Yadrsasca te dharma yallaksanasca te dharma
yatsvabhavasca te dharma ye ca yatha ca yadrsasca yallaksanasca nasca yatsvabhavasca
te dharma itii tesudharmesu tathagata eva praty akso paroksah ii.
Dịch:
Các
pháp đó là pháp chân thật, là những pháp thế, là những
pháp như thế, là những pháp như thế, những phá đó duy chỉ
có Phật thấy được.
Trong
chính Pháp-Hoa thì có: "Như-lai đều biết rõ nguyên do của
các pháp, các tự nhiên từ đâu mà đến, phân biệt những
tướng mạo của các pháp, biết tất cả các pháp tự nhiên".
Rồi
đến Pháp - Hoa kinh luận của Thế Thân thì lại đem mổ xẻ
đoạn văn trên thành ra cái gọi là " Ngũ Như Thị": " Hà Ðẳng
Pháp, Vân Hà Pháp, Hà Tự Pháp, Hà Tướng Pháp, Hà Thể Pháp",
chứ tuyệt nhiên không có Thập Như Thị.
Tóm
lại, vấn đề này tự nó tuy có giá trị về mặt nghiên
cứu, nhưng lập trường chính của Pháp - Hoa quyết không phải
như Thiên Thai đã tưởng đặt trọng tâm vào cái gọi là
Thập Như Thị đâu. Như Thị giáo chẳng qua chỉ muốn nói
lên sự dụng lực của Phật khi thuyết kinh Pháp-Hoa để chứng
minh rằng kinh Pháp-Hoa là chân lý mà thôi. Cho nên, căn cứ
vào đó mà kiến thiết cái thế giới quan Tam Thiên Tam Ðế,
có thể nói là ngoài chân ý của kinh Pháp-Hoa. Kinh Pháp-Hoa
sở dĩ được gọi là Pháp-Hoa và hơn hẳn các kinh điển
khác là hoàn toàn ở điểm " Mở hai hiển một, hội ba quy
một", cực lự nhấn mạnh điểm hết thảy thảy quy vào một
Phật Thừa, tức là nêu lên ý nghĩa của chân lý Tam Thừa
không sai biệt vậy. Mà hai chữ Sen Trắng (Bạch Liên - Pundarika)
được thêm vào sau, ngoài ý nghĩa trong trắng ra, nó còn bao
hàm cả ý nghĩa đại biểu cho cái tấm, ám chỉ cái căn cứ
của một Phật - Thừa đều có đủ trong tâm của tất cả
mọi người. Theo tôi thì đây là chủ ý của kinh Pháp - Hoa,
tuy không liên quan gì đến thuyết Thập - Như Thị, nhưng về
phương diện Tích - Môn, nhất là từ phẩm Phương - Tiện
đến phẩm Pháp - Sư, ý nghĩa đó luôn luôn là lập trường
thuần nhất của kinh Pháp - Hoa. Nếu đứng trên lĩnh vực
lịch sử mà nói thì bộ môn này hoàn chỉnh nhất và cũng
nghuyên thủy nhất. Tuy nhiên, tôi không dám coi nhẹ ý nghĩa
và giá trị của phẩm Thọ - Lượng hoặc phẩm Phổ - Môn,
mà trái lại tôi cho rằng tư tưởng Nhất - Thừa của Pháp
- Hoa nếu không đạt được điểm đó thì sức diệu dụng
và cái nguồn gốc của nó không thể hoàn thành được.
Nhưng
nếu đối chiếu với các kinh điển khác thì ý nghĩa phẩm
Thọ - Lượng không những chỉ kinh Pháp - Hoa mới có, mà ngay
cả kinh Quang Minh, kinh Niết Bàn, cho đến nhiều kinh điển
khác cũng đều có cả. Cũng như sự diệu dụng của Bồ-Tát
Quan Âm không phải chỉ có trong kinh Pháp-Hoa, mà trong các kinh
khác cũng có dưới hình thức này hay hình thức khác. Còn
như việc lấy phẩm Phương - Tiện làm trung tâm để khai ba
hiển một, thụ ký thành Phật trong Tích - Môn thì đến kinh
Pháp - Hoa mới nói một cách rõ ràng khúc chiết. Nếu không
có bộ môn này thì dù có phẩm Thọ - Lượng hay phẩm Phổ
- Môn đi nữa thì kinh Pháp - Hoa cũng quyết không thể chiếm
được địa vị trọng yếu trong các kinh điểm Ðại -Thừa
như thế. Theo ý nghĩa đó thì dù không có hai phẩm Thọ -
Lượng và Phổ - Môn mà chỉ có từ phẩm Phương - Tiện đến
phẩm Pháp - Sư, đối với các kinh khác, kinh Pháp - Hoa đã
trình bày, diễn tả cái lý do và quá trình của con đường
"giai cộng thành Phật" (hết thảy đều thành Phật) với một
bút pháp cực kỳ trong sáng, giản dị nhưng lại rất cao siêu.
Nói
tóm lại, lập trường của kinh Pháp - Hoa có tính cách tôn
giáo hơn là triết học, thông tục hơn là chuyên môn, thực
hành hơn là lý luận, xúc tiến lý tưởng tự giác hơn là
minh chứng sự thực, vả lại còn có thái độ bao dung, hòa
hợp được sự đối chọi từ trước giữa Ðại Thừa và
Tiểu Thừa bằng cách đưa hết thảy tới con đường tiến
đến một Phật - thừa. Nhận xét về phương diện này, ta
có thể đó là chỗ quy thú chân chính của kinh Pháp-Hoa.
TIẾT
THỨ TƯ :
QUYỂN
HỘI TAM-QUY NHẤT, THỤ-KÝ THÀNH PHẬT.
(quan
niệm chủ yếu của tích môn)
Nếu
đứng về phương diện lịch sử mà khảo sát vấn đề này,
thì cái gọi là Thanh Văn (Sravaka), Ðộc Giác (Pratyekabudha -
Duyên Giác), Bồ - Tát hay Phật (Bodhisattva, or Samyaksamboddha),
tất cả đều xuất phát từ nhân cách hoặc sự kinh lịch
của Phật lịch sử. Thanh Văn có nghĩa là những người nghe
theo lời dạy của Phật, tức là các đệ tử hay tín đồ
của Phật. Ðộc giác, tuy ngồi dưới cây bồ đề mà tự
giá, nhưng vẫn chưa có khuynh hướng giáo hóa để giác tha.
Quan niệm về Ðộc Giác đã có từ trước đức Phật. Bồ-Tát
được phỏng theo thời đại tu hành của Phật trong kinh Bản
Sinh, tức là những người sẽ kế tiếp Phật. Nói một cách
chặt chẽ thì không cần phải có sự sai biệt giữa ba hạng
này, nhất là sự quan hệ giữa Phật và Thanh Văn, tuy có sự
phân chia Thầy và trò, nhưng tất cả đều nhắm đến một
con đường giải thoát trong đó không có sự phân biệt về
bản chất, đó là quy tắt thông thường của phật giáo nguyên
thủy.
Nhưng
về sau khi Phập nhập diệt, một mặt vì sự biện luận về
Phật thân phát triển quá nhanh chóng, mặt khác về kết quả
của sự khảo sát chi li về La Hán (Thanh Văn) dần dần đã
trở nên rõ ràng, còn Ðộc Giác thì hầu như được coi là
vị Thánh độc lập, do đó mới thành lập tư tưởng Tam Thừa
sai biệt. Kết quả: Phật, ngoài sự tự giác viên mãn rồi,
lấy việc giác tha, lợi tha làm đặc trưng (Bồ-Tát là người
kế tiếp Phật, lấy hành vi tinh tiến tự lợi, lợi tha làm
đặc chất). Ðộc Giác, về điểm tự giác thì cũng bằng
Phật, nhưng lại kém Phật ở điểm lợi tha, cho nên so với
Ðộc Giác vẫn còn kém hơn. Ðó là lập trường của các
nhà đại thừa lấy đạo Bồ-Tát (Phật-thừa) làm mục tiêu
mà phê phán như trên. Không những chỉ Ðại Thừa có chủ
trương đó, mà ngay cả các nhà Phật giáo truyền thống (Tiểu
Thừa) cũng thừa nhận rằng giữa Phật và các đệ tử (Thanh
Văn) có sự khu biệt không thể vượt qua: người thường,
tuy có thể là đệ tử Phật, nhưng không thể nào tu hành
đầy đủ các đức tính như Phật. Khác với các nhà Ðại
Thừa, các nhà Tiểu Thừa tuy không coi thường vị trí của
Thanh Văn nhưng cũng thừa nhận rằng nếu muốn thành được
như Phật thì trước hết phải lấy nhiệm vụ hóa độ chúng
sinh làm bản chất, đó là một sự thật hiển nhiên.
Như
vậy, vấn đề được nêu lên là: Tam Thừa sai biệt, nhưng
đây là sự sai biệt về bản chất mà không có cách nào dung
hợp được ư? Hoặc giả đây là cách tạm chia thành Tam Thừa
để rồi cuối cùng sẽ đưa về một Phật-thừa? Về điểm
này, như đã nói ở trên, về phương diện Tiểu Thừa giáo
mặc dầu không có bất đồng về bản chất, nhưng trên thực
tế giữa Tam Thừa vẫn có sự khu biệt mà không có cách nào
dung hợp được. Giáo pháp Ðại Thừa trước thời Pháp-Hoa
(lấy Bát- Nhã, Hoa-Nghiêm, Duy-Ma làm đại biểu) cũng vì thế
mà cho rằng căn cơ của Như Thị thấp kém, không có tư cách
thực hành đạo Bồ-Tát cứ như thế tranh luận nhau và kết
quả là Phật Giáo đã hiển nhiên chia làm hai: mà phái Tân
Ðại Thừa tuy có nêu lên những ý tưởng cao xa, nhưng thực
tế thì lại chật hẹp thiên vị. Còn giáo đoàn truyền thống
tuy chiêm được địa vị Nguyên thủy, nhưng thường bị các
nhà Tân Ðại Thừa dèm chê là trình độ thấp kém, do đó
cũng mất đi tư tưởng rường cột. Ðó là tình hình giáo
hội Phật Giáo trước thời Pháp-Hoa xuất hiện.
Ðể
dung hòa, đến một mức độ tối thiểu, cần phải có sự
liên lạc và trao đổi tư tưởng giữa Ðại Thừa và Tiểu
Thừa, một mặt vẫn duy trì được chủ nghĩa Bồ-Tát đạo,
nhưng mặt khác cũng thừa nhận ý nghĩa của chủ nghĩa Thanh-Văn
đạo: đó chính là lập trường của kinh Pháp-Hoa. Mà chủ
yếu là đề mục được trình bày trong cái gọi là Tích-Môn.
Song
làm thế nào có thể phát hiện được con đường của Pháp-Hoa
nếu một mặt cứ duy trì địa vị của chủ nghĩa Ðại Thừa?
Về điểm này, trong kinh Pháp-Hoa, trước hết đức Phật nói
riêng về Tam Thừa: đối với Thanh Văn Phật nói Tứ-Ðế,
với Ðộc-Giác (Duyên Giác) nói 12 nhân duyên: với Bồ-Tát
nói Lục-Ðộ. Nhưng theo Pháp-Hoa, vì trình độ của chúng
sinh cao thấp khác nhau, cho nên đó chỉ là những phương tiện
chia ra để hoá độ mà thôi, vì nếu bắt đầu nói Ðại
Thừa ngay sợ nhiều người không hiểu sẽ sinh ra nghi ngờ
mà cản trở con đường đắc đạo của mình. Pháp-Hoa cũng
còn dẫn chứng sự suy nghĩ của Phật dưới gốc cây Bồ
Ðề làm cái lý do thuyết pháp của mình.
Sau
khi giác ngộ Phật ngồi lại dưới gốc Bồ Ðề 21 ngày để
suy nghĩ xem có nên đem cái ma Ngài đã giác ngộ nói cho mọi
nguời nghe không? Ðã có lúc ngài tự nghĩ sự giác ngộ của
Ngài quá sâu xa vi diệu, người đời khó có thể lĩnh hội,
tốt hơn nên nhập Niết Bàn ngay. Nhưng rồi ngài bỗng hồi
tưởng lại cái hành tích của tất cả các Phật trong thời
quá khứ, bất luận vị nào ra đời đều đặt phương tiện
nói Tam Thừa. Song bản ý của Phật trước sau vẫn là Nhất-Phật-Thừa,
Tam-Thừa chẳng qua chỉ là phương tiện dắt dẫn mà thôi
(Phẩm-Phương-Tiện). Như vậy là kinh Pháp-Hoa đã chú hết
tâm lực vào việc thông tục hóa, dùng mọi cách thí dụ để
thuyết minh đạo lý đó, bởi thế mà Tích Môn trong kinh Pháp-Hoa
đã trở thành một bộ môn nổi tiếng.
Thứ
nhất là dụ "Nhà lửa và ba xe" trong phẩm Thí-Dụ. Ông trưởng
giả vì muốn cứu lũ con ngu dại ra khỏi ngôi nhà đang cháy,
nên dùng phương diện đặt ra cổ xe dê, xe hươu và xe trâu
phía ngoài nhà rồi thúc giục lũ con mau ra khỏi nhà lửa để
thoát thân. Nhưng khi chúng ra khỏi nhà thì ông trưởng giả
không cho cúng xe nhỏ do dê và hươu keo mà chỉ cho chúng một
cỗ xe lớn do một con bạch ngưu (trâu trắng) kéo để cho
chúng tất cả đều vui mừng. Phật cũng thế, vì muốn hóa
độ cho bọn chúng sinh ngu dại, cứu ra khỏi cái nhà lửa
ba cõi này mà trước hết phải dùng phương tiện nói đạo
Tam-Thừa mục đích muốn cho chúng sinh mau ra khỏi nhà lửa
chứ không phải nhắm vào Thanh Văn, Duyên-Giác mà là nhắm
vào Bồ-Tát-Thừa, tức là Phật-Thừa ( bởi thế mà coó câu
nói rất phổ thông là: " Ba cõi này là của ta, chúng sinh trong
đó đều là con ta, nhưng nay ba cõi rất đều hoạn nạn, chỉ
có ta là người duy nhất có thể cứu giúp được").
Thứ
hai là dụ: " Người cùng tử của Trưởng-giả" trong phẩm
Tín-Giải. Gã nọ vốn là con của một trưởng giả giàu có,
nhưng ham mê thú giang hồ, nay đây mai đó, lê gót khắp bốn
phương trời, cuối cùng đã quên hẳn mình là con của Trưởng-giả
và rất nghèo khổ. Sau dần dà trở về nhà cha và lâu lâu
đã làm quen với nếp sống của một người con Trưởng-giả,
sau cùng được hưởng cơ nghiệp của cha (trong phần kệ tự
sự cũng có vụ này).
Thứ
ba là dụ: "Mưa với cây cỏ" trong phẩm Dược-Thảo-Dụ. Nghĩa
là cùng một trận mưa nhưng vì cây cỏ lớn, nhỏ khác nhau
nên sự thấm nhuần cũng bất đồng: tuy nhiên, bất luận
là lớn hay nhỏ đều được lợi ích nhưng trong vẫn có sự
sai biệt. Cũng như thế, Phật tuôn xuống những trận pháp
vũ tuy tràn lan, nhưng vì trình độ thấm nhuần của chúng
sinh có khác nên phải nói Tam-Thừa khu biệt.
Thứ
tư là dụ "Hoá-thành" trong phẩm Hóa-Thành-Dụ. Tại hơn 500
do tuần tuy có một tòa kinh thành tráng lệ nhưng vì giữa
đường gặp nhiều khó khăn hiểm trở, e rằng những hành
giả trở nên sợ hãi chán nãn mà thoái chí, nên người dẫn
đường dùng phương tiện thần lực, tại khoản 300 do tuần
biến hiện ra một tòa Hóa-thành để tạm nghĩ ngơi rồi dần
dần mới đưa hành giả đến mục đích địa (deatination)
chân thật tại 500 do tuần. Ðức Phật cũng thế, tuy lấy
Phật-thừa tại 500 do tuần làm mục tiêu, nhưng để chuẩn
bị đi đến đấy trước hết nói Thanh-Văn-thừa tại 300
do tuần (Ðộc Giác tại 400 do tuần) rồi dần dần mới đưa
đến Bồ-Tát-thừa, tức mục tiêu cuối cùng của Phật-thừa,
tức mục tiêu cuối cùng của Phật-thừa tại 500 do tuần.
Như
vậy, Pháp-Hoa đã dùng nhiều thí dụ khéo léo dể nói lên
cái ý chỉ Tam-Thừa là phương tiện mà Nhất-Thừa mới là
chân thật. Nhưng từ trước đến nay thành kiến phân cách
Tam Thừa đã ăn sâu và chỉ cho Thanh-Văn là mãn nguyện rồi,
giờ muốn chuyển hướng về Ðại Thừa thì phải làm thế
nào? Ở đây Pháp-Hoa vận dụng hai phương thức có thể bổ
sung cho nhau.
Thứ
nhất, nói về chư Phật quá khứ và các bậc đại Thanh-Văn
ở các kiếp trước đã từng có duyên với Pháp-Hoa.
Thứ
hai, nói về các bậc đại Thanh-Văn trong tương lai đều sẽ
được thành Phật: đó là điều thường được mệnh danh
là " thụ ký thành Phật".
Trước
hết hãy nói về phương diện chư Phật quá khứ.
Trong
Phật Giáo Nguyên thủy đã có tư tưởng về đạo Nhất Phật-Thừa
rồi, và dựa vào tư tưởng đó, đối với sự giác ngộ
của đức Phật tuy có cho nó một phổ biến tính và tất
nhiên tính, nhưng đến tư tưởng Pháp-Hoa mới thật sự thông
tục hóa nó bằng cách dựa vào tinh thần huyền thoại của
kinh Bản Sinh mà tạo thành mà luận đàm về nhân duyên túc
thế. Ðiểm này, đối với Pháp-Hoa có một ý nghĩa rất trọng
yếu. Trong kinh Pháp-Hoa tuy vẫn chưa biểu hiện ý thức " hết
thảy chúng sinh đều có Phật tính", nhưng trong Nhân duyên
đàm này đã ngầm ý chứa ý tưởng đó và chính cũng muốn
biểu hiện nó về mặt thông tục. Theo kinh Pháp-Hoa thì "trong
Phật độ ở mười phương duy chỉ có pháp Nhất-Thừa, không
có hai cũng không có ba" (thập phương Phật độ trung, duy hữu
Nhất-Thừa pháp vô nhị, diệt vô tam), cho nên tất cả chư
Phật đều nói kinh Pháp-Hoa. Do đó, nếu ở quá khứ có Phật
thì tất nhiên Phật cũng nói kinh Pháp-Hoa như thế. Và nếu
chư Phật ở quá khứ đều đã nói kinh Pháp-Hoa, thì hết
thảy chúng sinh, trong cái vòng luân hồi vô tận này, tất
cũng đã từng có lần nghe kinh Pháp-Hoa (giai thành Phật luận).
Như
vậy, trong phẩm Tựa kinh Pháp-Hoa, tuy có đề cập đến cái
nhân duyên nói kinh Pháp-Hoa của Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh
ở quá khứ, nhưng đặc biệt trong phẩm Hóa Thành Dụ lại
muốn nói rõ công việc đó hiện nay Phật Thích-Ca cũng đang
làm. Theo ý nghĩa đó thì người con thứ mười sáu của phật
Ðại Thông Trí Thắng (tức nay là Phật Thích Ca), sau khi nghe
kinh Pháp-Hoa từ cửa miệng của cha, đã trãi qua bao nhiêu
đời kiếp tu đạo Bồ-Tát mãi đến nay mới nói đạo Nhất
Phật Thừa để kết mối duyên Pháp-Hoa với hết thảy chúng
sinh vậy. Mà trong những kiếp xa xưa ấy cũng đều có Xá
Lợi Nhất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp và tất cả các bậc Thanh-Văn
khác, nhưng chỉ vì đến nữa đường họ đã quên bẵng đi
cái nhân duyên Nhất Phật-Thừa, tự cho mình không có khả
năng thành Phật, nên mới tự cảm thấy mình thấp kém, cũng
hệt như người cùng tử của nhà trưởng giả kia, tự quên
đi cái thân phận của mình mà sa vào căn tính nô lệ. Nếu
nói theo một thí dụ khác thì điều đó chẳng khác gì người
mang sẵn trong mình một viên ngọc quý mà không biết, cứ
than khóc cho số phận của mình là nghèo khổ. Bởi vậy, khác
hẳn với giáo đồ Tiểu Thừa, hoặc một số các nhà Ðại
Thừa tưởng, Pháp-Hoa cho rằng lúc đầu là Thanh-Văn, song
cuối cùng là lấy sự ước thúc "tất cả thành Phật" làm
phương châm hoạt động. Không những thế mà ngay cả các
vị La hán đã nhập Niết-Bàn rồi cũng chưa thật đã tuyệt
diệt mà vẫn còn chịu sự biến dịch sinh tử đó để cuối
cùng chuyển đến Nhất Phật Thừa mà thành Chính Giác. Nói
một cách rốt ráo thì hết thảy chúng sinh, do những quan hệ
của quá khứ?( đặc biệt lấy Bồ-Tát Thích Ca làm trung tâm),
tất cả đều đã gieo hạt giống Phật (Phật chủng), cho
nên cuối cùng đều có thể là Phật. Ðó là chủ trương
của Pháp-Hoa Tích Môn.
Như
thế là kinh Pháp-Hoa đã nói rõ cái lý do Nhị Thừa thành
Phật (khai Tam hiển Nhất), đồng thời đã cho hàng Thanh-Văn
một sự cam kết sau này tất sẽ thành Phật, đó là điều
mà thường được nói đến bằng một từ ngữ nổi tiếng
là "thụ ký thành Phật". Người đầu tiên được lựa chọn
là Xá lợi Phất. Trong kinh Duy Ma thì ông Xá Lợi Phất cũng
như hầu hết các vị Thanh-Văn bị liệt vào hàng "bại Phật
chủng" (dứt giống Phật), nhưng đến kinh Pháp-Hoa trong phẩn
Thí Dụ thì Xá Lợi Phất được Phật thụ ký riêng như sau:
trãi qua trăm nghìn kiếp sau này sẽ được thành Phật, hiệu
là Hoa Quang Như-Lai (Padmaprabha), làm chủ nước Ly Cấu (Virajà)
là một cõi Phật thanh tịnh hoàn toàn. Kế đó đến phẩm
Thụ Ký thì bắt đầu với đại Ca Diếp (nước Quang Ðức,
Quang Minh Như-Lai), rồi lần lượt đến Tu Bồ Ðề (nước
Bảo Sinh, Danh Tướng Như-Lai), Ðại Ca Chiên Diên (nước Diêm
Phù Ðề, Kim Quang Như-Lai), Ðại Mục Kiện Liên (nước Ðại
Ma la bạt, Chiên Ðàn Hương Như-Lai). Rồi đến phẩm thụ
ký cho 500 người đệ tử thì bắt đầu với Phú Lân Na, ngoài
ra 1200 vị Thanh-Văn khác cũng đều được thụ ký. Tiếp đến
thụ ký riêng cho bọn ông Trần Kiều Như 500 người. Rồi
tiếp đến phẩm thụ ký cho những người có học và vô học
thì bắt đầu với A Nan, la hầu La cho đến 2000 vị La Hán
thuộc hạng học và vô học, tất cà đều được thụ Phật
ký. Như vậy là trước kia, trong kinh duy Ma hầu hết hàng Thanh-Văn
bị coi như những người dứt hạt giống Pháp thì nay tất
cả lại đều được thụ ký thành Phật, đó là mục đích
duy nhất của kinh Pháp -Hoa cuối cùng đã được thâu tóm
và đúc kết một cách trọn vẹn ở phẩm Pháp-Sư thứ 10.
Song,
tiến thêm một bậc nữa mà khảo sát, nếu chỉ nói như trên
đây thì vẫn còn có điểm thiếu sót. Theo lập trường kinh
Pháp-Hoa thì hết thảy chúng sinh đều có thể thành Phật,
nhưng vì quá chuyên chú vào việc dẫn dụ Nhị-Thừa nên ngòi
đối cơ về Nhị-Thừa ra, không đề cập đến cái đạo
lý cỏ, cây, quốc độ thành Phật. Không những thế mà ngay
cả đến hàng ngũ Tỷ-Khưu-Ni cũng là Thanh văn mà lại quên
bẵng họ đi, không nhắc gì tới cả, bở thế họ không khỏi
có cảm giác bất an. Có lẽ vì ý thức được sự thiếu
sót đó mà muốn biểu hiện đầy đủ nên mới có thêm những
phẩm Ðề-Bà-Ðạt-Ða và phẩm Khuyến Trì chăng? Trong phẩm
Khuyến-Trì, Ma-Ha-Ba-Xà-Ba-Ðề và Da-Du-Ðà-La, đại biểu cho
hàng Tỷ-Khưu-Ni, cũng được Phật thụ ký. Do đó đã nói
lên cái khả năng của phụ nữ cuối cùng cũng có thể thành
Phật. Nhất là trong phẩm Ðề-Bà-Ðạt-Ða, nếu tìm về quá
khứ của ông, thì Ðề-Bà-Ðạt-Ða là một người cực ác,
song vì có nhân duyên với kinh Pháp-Hoa nên cũng được thụ
ký cho thành Phật với danh hiệu Thiên Vương Như-lai. Rồi
đến trường hợp nàng Long Nữ mới chỉ tám tuổi cũng biến
thành con trai mà Phật ở phương nam trong thế giới Vô Cấu.
Hai trường hợp ác nhân và tiểu nữ thành Phật đã đủ
chứng minh cái đạo lý "hết thảy chúng sinh sau này nhất
định đều sẽ thành Phật". Duy ở đây có điều làm cho
người thắc mắc là: theo phẩm Phương Tiện, khi Phật sắp
nói kinh Pháp-Hoa có 5000 vị tăng thượng mạn Tỷ-Khưu bỏ
phòng giảng đi ra, nhưng kết quả của hành động này ra sao?
Không ai biết. Trong kinh Tư-Ích Phạm-Thiên gọi họ trở lại
với chính đạo Phạm-Thiên trả lời: Giả sử họ có muốn
xa lìa chính đạo, họ xa cũng không được, cũng như chúng
ta muốn xa hư không mà không thể nào xa nổi. Cho nên 5000 người
kia tuy có bỏ giảng đường nhưng vẫn có thể được coi
như những người còn trong môn nội" (kinh Tư-ích, phẩm Hành-Ðạo).
Ở
đây, trái lại, kinh Pháp-Hoa đối với những người xuất
tịch chỉ nói "ra cũng được", rồi người ta không biết
sau đó kết quả ra sao, đó là điểm mà ta không thể không
cảm thấy bất mãn. Cực ác như Ðề-Bà-Ðạt-Ða mà còn được
cứu độ thì 5000 Tỷ-khưu kia vì một phút khiêu mạn mà xuất
tịch, ta tin rằng nhất định họ sẽ hồi tiểu hướng đại
mà thành Phật, nhưng kinh Pháp-Hoa lại không hề đả động
đến điểm đó, cho nên ta không thể không thắc mắc. Vấn
đề Tăng-thượng-mạn Tỷ-Khưu thật đã gây hoang mang, vì
như bản ý của Tích-Môn sau vẫn chủ trương Nhất-Thừa là
chân thật mà Tam Thừa chỉ là phương tiện. Ðể chứng minh,
đại khái ta có thể tóm tắt những điểm sau đây:
1)_Trong
tất cả mọi người đều có khả năng tính thành Phật.
2)_Chỉ
có Phật là hoàn toàn phát huy được khả năng tính đó, bởi
vậy, nhất thiết chư Phật đều đặt trọng tâm, cực ý
vào việc nói đạo Nhất Thừa.
3)_Vì
trình độ của thượng, trung, hạ khác nhau, muốn dẫn dắt
người trung, hạ căn nên mới phương tiện nói pháp Nhị Thừa.
4)_Từ
vô thủy đến nay chúng sinh lăn lộn trong vòng luân hồi, vậy
trong khoảng thời gian dài dặc đó, mỗi chúng sinh từng đã
có lần được nghe qua đạo Nhất Thừa, chỉ vì sự sai khác
trong việc thực hiện hóa-chủng-tử nên mớ chia ra có phàm
phu và Tam-Thừa.
5)_
Do sự triển khai của hạt giống đã được gieo từ các kiếp
quá khứ, cuối cùng tất cả mọi người đều sẽ thành Phật;
chính vì cơ duyên ấy mà Pháp-Hoa nói pháp Nhất-Thừa chân
thực và sự ước thúc thụ ký thành Phật vậy.
TIẾT
THỨ NĂM:
PHẬT
PHÁP VĨNH VIỄN.
(Tư
tưởng trung tâm của Bản Môn).
Như
thế hết thảy chúng sinh đã gieo hạt giống Phật ở cả
kiếp quá khứ, tuy đó là cái căn cứ để thành Phật, nhưng
chỉ bảo cho cúng sinh biết điều đó và lại thụ ký cho
tất cả sau này đều sẽ thành Phật thì chính là Phật Thích-Ca.
Do đó mặc dầu chúng sinh có khả năng tính thành Phật, song
nếu không có Phật Thích-Ca thì không thể thực hiện được.
Bởi vậy Phật Thích Ca là người khai phát, người bảo chứng
và là người thụ khí cho vô lượngchúng sinh thành Phật.
Nhưng
nếu đứng về phương diện thời đại thành lập kinh Pháp-Hoa
mà nói thì Phật Thích Ca đã nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi,
duy chỉ lưu lại tháp Xá Lợi để làm tiêu biểu cho một
đại sự nhân duyên mà Ngài ra đời, chứ chính Phật thuyết
pháp và thụ ký thì khong còn ở thế gian nữa. Do đó vấn
đề được đặt ra là: chúng sinh trong hội Linh Sơn lúc còn
Phật tại thế thì có được người bảo chứng cho thành
Phật, còn chúng sinh sau thời Phật nhập diệt, tuy có khả
năng tính thành phật, nhưng nếu chỉ lễ bái Xá Lợi thì
liệu có đủ để thành Phật không? Về điểm này, không
những chỉ đối với những người hiện diện trong hội Linh
Sơn, mà đối với hết thảy chúng sinh trong tương lai muốn
đưa ra cái bảo chứng thành Phật, nên Pháp-Hoa đã bàn đến
phần được gọi là Bản-Môn, phần này lấy thuyết "Phật
thọ vô lượng" làm trung tâm để biểu thị bộ môn hoạt
động dịu dụng của các vị Bồ Tát.
Thông
thường, khi nói đến phần Bản-Môn của kinh Pháp-Hoa, ta thường
cho rằng nó bắt đầu từ phẩm Tòng-Ðịa-Dũng-Xuất thứ
15, nhưng nếu đứng về phương diện đạo tràn mà nói, thì
Bản-Môn thật sự đã bắt đầu từ phẩm Kiến-Bảo-Tháp
thứ 11. Vẫn nói theo phương diện đạo tràng: Mười phẩm
trước lấy núi Linh-Thứu làm trung tâm; còn từ phẩm Kiến-Bảo-Tháp
trở đi thì lại biến thành cái nguyên do của pháp hội giữa
không trung (Tích-Môn lấy những người đến thời đại đức
Phật làm đối tượng, cho nên, bất luận về địa điểm
hay về nhân vật, đều đã được quy định; còn Bản-Môn
thì lại lấy hết thảy chúng sinh ở tương lai làm đối cơ,
cho nên ta có thể nói là lấy không trung bất định làm pháp
hội). Mà Bản-Môn thì bất luận là phẩm Dũng-Xuất, phẩm
Thọ-Lượng hay phẩm Phổ-Môn, tất cả đều đã dự tưởng
tháp Ða-Bảo-Hoa, và do sự xuất hiện của Tháp-Ða-Bảo mà
đến đây kinh Pháp-Hoa đã đến một khúc quanh quan trọng.
Tóm
lại, sự xuất hiện của tháp Ða-Bảo đã đưa đạo tràng
Pháp-Hoa đến một khúc quanh mà xét về mọi khía cạnh rất
có hứng thú và cũng mang một ý nghĩa rất sâu xa.
Tháp
đa bảo (Prabhutaranastupa) nguyên do ở thời quá khứ, về phương
đông, trong nước Bảo-Tịnh (Ratnavisuddhaksetra) có đức Phật
hiệu là Ða-Bảo (Prabhutaratna) đã nhập Niết-Bàn và xá lợi
của Ngài được thu vào tháp Ða-Bảo, tuy là một lẽ bất
khả tư nghị nhưng muốn vì Pháp-Hoa làm người bảo chứng
nên bất luận ở địa phương nào, hễ có người nói kinh
Pháp-Hoa thì tháp Ða-Bảo cũng theo đó mà xuất hiện trước
pháp hội để tán thán Pháp-Hoa và chứng minh chân lý của
nó. Do đó mà nay, khi Phật Thích-Ca đang nói kinh Pháp-Hoa thì
bỗng nhiên tháp Ða-Bảo cũng dưới đất nhô lên, rồi lơ
lũng giữa không trung và từ trong tháp vọng ra tiếng khen ngợi
rằng:" Hay lắm thay! Hay lắm thay! Ðức Thế-Tôn Thích-Ca Mâu-Ni!".
Rất tiếc là tôi vẫn chưa tìm ra được cái nguồn gốc của
tư tưởng tháp Ða-Bảo này đã xuất phát từ đâu và sự
khai triển của tư tưởng đó như thế nào. Nhưng dù sao đi
nữa tôi cũng công nhận rằng sự xuất hiện của tháp Ða-Bảo
ở đây mang một ý nghĩa rất trọng đại.
Trước
hết nó có ý nghĩa đại biểu cho Phật ở quá khứ. Theo kinh
Pháp-Hoa thì đức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh hay Phật Ðại
Thông Trí Thắng ở quá khứ tuy đã nói kinh Pháp-Hoa rồi,
nhưng nay tiếp đến Phật Thích-Ca thì vẫn chưa biểu hiện
tư thái đó. Bởi vậy, để chứng minh cho tính chất trường
cửu của Pháp-Hoa và việc Phật Thích-Ca nói Pháp-Hoa hiện
tại chỉ là kế tục công việc của chư Phật ở quá khứ
thì cần phải có sự bảo chứng, đó là yêu cầu của hậu
thế. Và sự xuất hiện của tháp Ða-Bảo là để đáp ứng
nhu cầu đó.
Thứ
hai, nó biểu hiện ý nghĩa điều hòa giữa sự cúng dường
Xá-Lợi và sự cúng dường Pháp, rồi từ đó tiến lên mà
muốn phát hiện ý nghĩa Pháp-thân nằm trong tháp Xá-Lợi.
Do đó, hiện tại Phật-Thích-Ca tuy cũng thị hiện nhập Niết-Bàn,
nhưng không phải Niết-Bàn như xưa nay mà người ta thường
cho là tuyệt diệt, mà trong đó đã bao hàm ý nghĩa mở đường
đưa đến thuyết cho rằng Phật sống lâu vô lượng như trong
phẩm Thọ-Lượng đã nói rõ.
Tóm
lại, sự xuất hiện của tháp Ða-Bảo mục đích nói lên
cái tính vĩnh viễn của chân lý Pháp-Hoa và vĩnh viễn tính
của Pháp-thân, ta có thể nói đó là sự phối hợp rất linh
hoạt giữa Phật hiện tại và Phật quá khứ. Về ý nghĩa
này, Tiêu Ðức, khi giải thích kinh Pháp-Hoa, đã nói rằng
Phật Thích-ca và Phật Ða-Bảo chỉ là một. Ðó là ý kiến
rất xác đáng.
Như
vậy là Pháp-Hoa đã dựa vào bối cảnh trên đây cùng với
sự xuất hiện đột nhiên vô số Bồ-Tát để chuẩn bị
và chỉnh lý đạo tràng mà khai triển va thuyết minh, đức
Phật thật ra đã thành Phật lâu lắm rồi: Ðó là cách thuyết
pháp trong phẩm Như-Lai-Thọ-lượng thứ 16 và được coi là
trung tâm của bản Môn vậy.
Nếu
nói một cách đại cương thì bản ý của thuyết đó là:
tất cả chúng ta xưa nay đều tin rằng đức Phật Thích-Ca
giáng sinh vào giòng họ Thích. Xuất gia tu đạo tại miền
phụ cận thành Già-Da mà giác ngộ thành Phật, do đó Ngài
là vị Phật đầu tiên mới thành. Nhưng điều đó hoàn toàn
vì phương tiện giáo hóa mà thị hiện ra như thế, chứ thật
thì Ngài đã thành Phật trải qua vô lượng vô số kiếp rồi.
Song ở phẩm Hóa-Thành-Dụ thì lại nói khi Phật còn là người
con thứ 16 của Phật Ðại-Thông-Trí-Thắng, hoặc theo truyền
thuyết vào thời đức Phật Nhiên-Ðăng cũng vậy, Ngài phát
tâm tu hành không phải chí tâm ở Phật đạo mà lại chí
tâm ở Bồ-Tát đạo. Ðiều này chẳng qua cũng lại chỉ là
cách thuyết pháp phương tiện để thể hiện cái nổ lực
tu hành vĩnh viễn bất duyệt mà thôi, chứ thật thì Như-Lai
đã hoàn thành quả vị Phật từ lâu lắm rồi. Do đó, dù
ở hiện tại hay tương lai, đức Phật cũng luôn luôn gần
gũi chúng sinh để giáo hóa. Còn việc Ngài thị hiện nhập
Niết-Bàn vào lúc 80 tuổi chỉ là phương tiện để bảo cho
chúng sinh biết rằng Phật không thể ở đời lâu được,
do đó chúng sinh phải gấp rút phát tâm cầu đạo giải thoát,
chứ thật ra Ngài chưa diệt độ. Và đức Phật vĩnh viễn
đó vẫn ở trên núi Linh-Thứu và các nơi khác, luôn luôn
nói pháp, không bao giờ gián đoạn, chỉ vì chúng sinh bị
vọng kiến chi phối nên không thể thấy đó thôi. Nếu người
nào chân thành muốn dùng tâm mà thấy Phật thì bất luận
ở đâu và lúc nào Ngài cũng sẽ hiển hiện cho thấy. Bởi
vậy, cái quốc lộ mà ta ở đây nhờ thế cũng là một cảnh
địa trong sạch, trong đó mọi người đều mãn túc chỉ vì
chúng sinh mê muội nên mới thấy thế giới này là khổ đau,
là nhơ bẩn đó thôi. Ðó là đại cương của phẩm Như-lai-Thọ-lượng.
Như
thế, nếu người ta chân thành lấy quả Phật làm lý tưởng
mà mong cầu thành Phật thì bất luận ở thời gian nào hay
địa phương nào đức Phật cũng sẽ thể hiện mà thụ ký
cho. Thế là sự bảo chứng thành Phật bất luận vào lúc
nào hoặc với hạng người nào cũng đều có được.
Dĩ
nhiên, nhưng điều được trình bày trên đây chỉ mới thuyết
minh về bề mặt mà thôi. Còn nếu lại truy cứu về bề sâu
để tìm tòi cái chân lý của Pháp-Hoa thì vì đức Phật lich
sử có tính cách sinh lý vĩnh tục, mà là ám chỉ Pháp-Thân
thường trụ để làm chổ lập cước. Và chính ở đây mà
giữa Bản-Môn và Thích-Môn đã có điểm bất đồng. Ở Tích
Môn đức Phật ở thời Ðại-Thông-Trí-Thắng-Phật thì ứng
hiện tu hành Báo-Thân-Phật, nghĩa là dùng hình thức Báo Thân
để tạm thời dễ dàng thuyết minh cái Pháp-Thân vô hạn
vĩng kiếp của Phật. Câu "thành phật đã lâu xa; cõi người
ta thanh tịnh, an ổn, trời người thường mãn túc" đều hàm
ngụ ý nghĩa trên. Ngoài Pháp-Thân ra không còn phương pháp
nào để lý giải ý nghĩa đó. Chính vì thế mà ở đây tư
tưởng Bản-Môn của Pháp-Hoa lại có chỗ cộng thông với
tư tưởng Hoa-Nghiêm ( phẩm Phật-Quốc trong kinh Duy Ma cũng
thế ), Ðó là lẽ tự nhiên vậy, duy có điểm khác trong kinh
Hoa-Nghiêm và trong phẩm Phật-Quốc kinh Duy-Ma, về thời gian,
chưa chú trọng mất đến tính vĩnh viễn của Phật, trái
lại trong phẩm Thọ-lượng của Pháp-Hoa thì lại tận lực
nói về điểm này, khiến cho năng lực trở nên hoạt động,
trực tiếp phục vụ hết thả chúng sinh, hệt như tư tưởng
của kinh Vô-Lượng Thọ Phật. Ðó là đặc trưng rất lớn
của kinh Pháp-Hoa.
Song
, nếu đứng về phương diện thế giới quan, Phật thân quan
mà nói thì chổ lập cước của Bản-Môn có vẻ như phiếm
thần luận cùng với thực tại luận của Tích Môn có chổ
bất đồng. Ðó là một sự thật không thể che dấu được.
Và nếu lại cứ theo tư tưởng đó mà suy cứu mãi lên thì
điều được gọi là "Phật thành Phật đã lâu xa rồi" Chẳng
qua chung cục vẫn chỉ là cái tháp tính hoặc Phật tính vĩnh
viễn mà thôi. Ðem vận dụng tư tưởng này, chủ trương biểu
hiện hóa, chính là các kinh thuộc loại Như-lai-tạng, đứng
đầu là hai kinh Ðại Thừa Niết-Bàn : Kinh Pháp-Hoa cũng hàm
ngụ ý nghĩa đó nhưng vẫn chưa đạt đến trình độ của
kinh Niết-Bàn. Ở lĩnh vực triết học, tuy Pháp-Hoa chưa biểu
thị được tư tưởng đó, nhưng ở địa hạt tôn giáo thì
Pháp-Hoa đã mang lại nhiều hy vọng, ta có thể nói đó là
đặc trưng của Pháp-Hoa.
TIẾT
THỨ SÁU:
ÐẠO
BỒ TÁT: PHÁP THÂN HOẠT ÐỘNG CỤ THỂ.
(
Lấy kinh Quan Âm làm trung tâm)
Như
vậy là kinh Pháp-Hoa tuy đã cố làm cho Pháp Nhất Thừa và
"Phật thành đã lâu" được nhất trí, nhưng đó mới chỉ
là một đồ án lý tưởng thôi, chứ chưa phải là giá trị
nhân cách chân chính. Muốn cho đồ án đó trở thành giá trị
nhân cách chân chính thí cần phải thực hiện nhân cách của
Phật. Ma muốn thế, nếu không đi sát với thế giới hiện
thực để thanh tịnh hóa nó bằng những hoạt động cụ thể
thì ý nghĩa ấy không được hoàn toàn. Do sự hoạt động
nhân cách đó mà tư tưởng nhất Thừa của Pháp-Hoa cuối
cùng chẳng qua cũng chỉ là quá trình của việv Diệu-Hữu
hóa chân không mà thôi. Nói một cách đơn giản thì xa lắm
rồi, nhưng vị nguyện độ tận chúng sinh nên thị hiện tu
chứng mà hoạt động giữa xã hội hiện thực, dùng mọi
phương tiện diệu dụng để hóa độ người đời.
Ðể
thỏa mãn nhu cầu đó mà khai triển chính là đoạn thứ ba
của tư tưởng Pháp-Hoa, và đứng về phương diện văn hiến
mà nói, có lẽ đây là giai đoạn cuối cùng của kinh Pháp-Hoa.
Nói cách khác, vì muốn thực hiện Pháp Nhất Thừa nên tận
lực nói đến hành tích và tác dụng của các vị Bồ-Tát
ở quá khứ, ở hiện tại và tương lai, luôn luôn gánh lấy
trách nhiệm phục vụ chúng sinh để cứu độ, và nhiệm vụ
đó được kế tục từ kiếp này qua kiếp khác, không bao
giờ gián đoạn. Bởi lẽ Bồ-Tát là môi giới giữa Phật
và chúnh sinh: Chúng sinh tu hành thành Phật hay Phật thị hiện
để hóa độ chúng sinh, tất cả đều nhờ nhân cách Bồ-tát
mà thực hiện, và chính vì nhiệm vụ đó nên đã cố gắng
nói lên thành tích của các vị Bồ-Tát vậy. Tựu trung, các
Bồ-Tát ở quá khứ đã có nổ lực truyền trì Pháp Nhất
Thừa, tuy là vô lượng vô số, nhưng trong Bản-Môn, để làm
điển hình cho kinh Pháp-Hoa , đại khái là Thường Bất kinh
Bồ-Tát (Sadaribhuta) và Dượng Vương Bồ-Tát (Bhaisajvaraja).
Cái tên Thường Bất Khinh Bồ-Tát tuy có thể khiến ta liên
tưởng đến vị Thường Ðề Bồ-Tát trong kinh Bát-Nhã, nhưng
theo kinh Pháp-Hoa thì đây là một trong những kiếp tiền thân
của Phật Thích-Ca. Ðặc tính của vị Bồ-Tát này là bất
luận gặp ai trong hàng đệ tử Phật cũng nói to lên rằng:
"Trong tương lai Ngài sẽ thành Phật, bởi vậy tôi tôn kính
Ngài và quyết không dám khinh Ngài". Nói xong rồi chắp lay
lễ lạy họ. Ðối với thái độ đó chúng nhân lại hiểu
lầm và cho rằng chế giễu họ, nên người ta thường chửi
mắng thậm tệ, có khi còn đánh đập nữa, Nhưng vị Bồ-Tát
ấy không hề chán nản, cứ tiếp tục công việc mình đã
làm, mục đích cố khích động lòng tự giác của mọi người,
do đó người ta mới đặt cho cái tên Thường Bất khinh Bồ-Tát,
hành động và cử chỉ của Thường Bất Khinh Bồ-Tát đã
nói lên ý nghĩa tôn trọng nhân cách của hết thảy mọi người.
Rồi
đến Dược Vương Bồ-Tát được nói đến trong đạo tràng
Bảo Tháp. Vị Bồ-Tát này, ở quá khứ, dưới thời đức
Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức tu theo Pháp-Hoa, đã thề
nguyền lấy lòng thương yêu với hết thảy chúng sinh do đó
mà hết thảy chúng sinh đều muốn lấy Ngài (Sarvasattva-vapriyadarsana)
Vì nổ lực tu hành để thực hiện lời thề nguyền đó nên
Bồ-Tát Dượng Vương đã chứng được Hiện Nhất Thiết
Sắc Thân Tam Muội (Sarvarupasamdarsna samadhi). Tam Muội này thật
y hệt như căn bản lực hiện vô số thân để cứu độ chúng
sinh của Diệu Âm hay Quan Âm vậy, tức là cái sức Tam Muội
do thệ nguyện thương yêu hết thảy chúng sinh mà có. Thêm
vào đó, vị Bồ-Tát này rất nặng lòng về vấn đề ân
đức. Khi tôn sư của Ngài là Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh
Ðức nhập diệt, đã tự thiêu mình để báo ân Phật. Sau
đó, đời đời, kiếp kiếp đã tận tâm, tận lực tu hành
pháp Nhất Thừa trong Pháp-Hoa và lấy danh hiệu là Dược Vương.
Ðó là sơ lược về tiểu sử của Bồ-Tát Dược Vương.
Nhưng sự kinh lịch của vị Bồ-tát này vẫn chưa được
phát huy đến cái ý chung cục về Tam Muội " Hiện nhất thiết
sắc phân", mà chính phát huy ý nghĩa này lại là Diệu Âm
và Quan Âm như trong kinh Pháp-Hoa đã nói. Diệu âm (gadgadasvara)
và Quan Âm (Avalokitesvara) là hai vị Bồ-Tát rất tương tự
về tính cách, cùng do năng lực "hiện nhất thiết sắc thân"
mà hiện ra nhiều thân hình khác nhau để cứu độ chúng sinh.
Về điểm này, có thể nói tuy hai nhưng thật thì chỉ là
một Bồ-Tát. Duy có điểm khác nhau, theo kinh Pháp-Hoa thì Diêu
Âm là vị Bồ-Tát ở cõi Tịnh Quang Nghiêm Trang về phương
Ðông, hiện đến thế giới Sa bà này để biểu hiện lòng
tôn kính với Phật Thích-Ca, còn những hoạt động độ sinh
của vị này chỉ được coi là tác dụng khách phần mà thôi.
Quan Âm, trái lại cũng theo Pháp-Hoa, là vị Bồ-Tát lấy thế
giới Sa Bà làm trung tâm để hoạt động. Về điểm này,
so với Diệu Âm thì Quan Âm đối với chúng ta có sự thân
thiết hơn. Dĩ nhiên, nếu nói một cách nghiêm khắc thì việc
hiện thân để cứu độ chúng sinh là cái đặc trưng của
tất cả các vị Bồ-Tát, và điều này, tất cả kinh điển
Ðại Thừa, bất luận thuộc phái nào, cũng đều thừa nhận
như thế. Chẳng hạn như cái phong độ hoạt động của cư
sĩ Duy Ma; cái phong độ hoạt động của đệ bát địa Bồ-Tát
ở phẩm Thập Ðịa trong kinh Hoa Nghiêm đều có vẻ tương
tự như Quan Âm hiện thân cứu độ chúng sinh. Song lấy tất
cả cái đó làm bối cảnh để dựng nên một vị Bồ-Tát
có phong độ hoạt động độ sinh rất tổng hợp và rất
hùng lực, rồi do đó mà muốn thuyết minh cái lý Phật thành
đã lâu và cái nhân cách để thể nghiệm và thực hiện cái
lý đó chính là Diệu Âm và Quan Âm của Pháp-Hoa.
Theo
Cưu Ma La Thập thì thì việc hiện ra 33 thân tướng để hộ
sinh là đặc sắc của Quan Âm. Ba mươi ba thân là: Phật thân,
Bích chi Phật thân, Thanh-Văn thân, Phạm Vương thân, Ðế Thích
thân, Tự Ðại Thiên thân, Ðại tự Tại Thiên thân, Thiên
Ðại Tướng Quân thân, Kỳ Sa Môn Thiên thân, Tiểu Vương
thân, Trưởng Giả, Cư Sĩ thân, Tể Quan thân, Bà-la-môn thân,
Tỷ Khưu thân, Tỷ Khưu Ni thân, Ưu Bà Tắc thân, Ưu Bà Di
thân, Bà-la-môn phụ nữ thân, Ðồng Nam thân, Ðồng nữ thân,
Thiên thân, Long thân, Dạ Xoa thân, Càn Thác Bà thân, A Tu La
thân, Ca Lâu Na thân, Khẩn La Na thân, Ma Hầu La Già thân, Chấp
Kim Cương Thần thân. Nhưng thật ra đem quy định thành 33 thân
như thế là câu nệ một cách quá máy móc vào số mục của
Cưu Ma La Thập. Trong bản Pháp-Hoa bằng tiếng Phạn chỉ có
16 thân mà thôi. Tức là: Phật, Bồ-Tát, Duyên Giác, Thanh -Văn,
Phạn Thân (Brahmarupa), Ðế Thích (Sakra), Càn Thát Bà (Sandharva),
Dạ Xoa (Yaksa), Tự Tại Thiên (Isvara), Ðại Tự Tại Thiên
(Maheisvara), Chuyển Luân Vương (Cakravartin), Quỷ Thần (Pisaca),
Tỳ Sa Môn (Vaisravana), Tướng Quân (Sensapati), Bà-la-môn (Brahmana),
Chấp Kim Cương (Vajrapani), mà không có Tể Tướng, Cư sĩ,
Trưởng Giả, A Tu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Gia v. v. Bởi vậy,
đem quy kết những thân thị hiện của Quan Âm thành 33 chưa
hẳn đã là xác đáng. Vả lại, cứ theo Phổ Môn (Samahamukha)
thì đặc sắt độ sinh của Quan Âm là hiện tất cả thân
hình, trong tất cả trường hợp, ở bất cứ nơi nào (Ý nghĩa
về Thiên Thủ Quan Âm, và Thập Nhất Diệu Quan Âm chính đã
phát xuất từ đó).
Mà
đặc trưng độ sinh của Quan âm không phải chỉ ở lĩnh vực
thuyết pháp mà còn rất mạnh ở lĩnh vực thực tế nữa.
Chẳng hạn như người cầu con được con, cầu của được
của, rồi việc cứu hỏa tai, giặc cướp v.v ., tất cả cái
đó đã làm cho mặt sinh hoạt hiện thực cũng có đặc trưng
tín ngưỡng về Quan Âm. Và điều này cũng khiến cho kinh Qua
Âm rất thịnh hành trong xã hội Trung Quốc và Nhật Bản.
Song đứng trên lập trường Pháp-Hoa mà nhận xét, nếu chỉ
coi những tác dụng đặc thù đó mà cho Quan Âm là một Bồ-Tát
đặc thù thì vẫn chưa bóc hết được cái chân tình của
nó. Lập trườnng của Pháp-Hoa là Diệu-Hữu hóa Chân-Không,
nghĩa là nhìn thực tướng bằng nhãn quan thế gian. Quan Âm
tuy hiện nhiều thân, nhưng rốt ráo thì Quan Âm chỉ vì chúng
sinh mà làm việc từ bi cứu độ, đồng thời để thực hiện
đạo lý "Phật thành đã lâu" mà thôi. Ðạo lý "Phật thành
đã lâu" đến nay được cụ thể hóa bằng cách hoạt động,
đó mới chính là phát huy cái thâm ý của nó. Nếu đứng
trên lập trường lịch sử lập thành kinh Pháp-Hoa mà nói
thì kinh Quan Âm có lẽ đã được đặt vào thời kỳ tối
hậu đó. Nhưng đứng về phương diện lịch sử mà nhận
xét, lập trường của Pháp-Hoa, từ "Khai Tam Hiển nhất" tiến
tới căn cứ tối hậu đó, nghĩa là chúng sinh mà hiển hiện
cái Pháp thân "thực hành đã lâu", vì chúng sinh mà hoạt động
ở thế gian này, muốn dùng căn bản lực mà tịnh độ hóa
thế gian, nhận xét theo lập trường đó thì tư tưởng Pháp-
Hoa, đến kinh Quan Âm có thể nói thật đã đạt đến kết
quả hoàn toàn.
Đọc
Thêm:
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Pháp
Hoa đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh Dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang Việt dịch