THIÊN
THỨ BA
ÐẠI
THỪA PHẬT GIÁO THỰC TIỄN LUẬN
CHƯƠNG
THỨ NHẤT
Ýٍ
NGHĨA ÐẠO ÐỨC
TIẾT
THỨ NHẤT: GỢI ÐỀ.
Ðiều
mà tưởng không cần nói ai cũng biết rằng Phật Giáo là
một tôn giáo đậm màu luân lý. Luân lý đó đã được thể
hiện trong giáo pháp của phật, bắt đầu từ bốn câu kệ
"Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành; Tự tinh kỳ ý,
Thị chư Phật Giáo" rồi nêu lên những đức mục khác để
chỉ dạy đường lối tu dưỡng. Ðối với tín chúng đức
Phật đã chỉ dạy từ việc lớn như quốc gia chính sự,
đến việc nhỏ như hòa khí trong gia đình. Ðó là sự thật
ta thấy đầy dãy trong các kinh điển. Nếu chiếu theo lịch
sử, ta thấy tại những nơi Phật Giáo thịnh hành, đạo Phật
đã trở thành một tôn giáo của dân chúng. Nếu đứng về
mặt xã hội mà nhận xét thì thay vì nói những giáo lý cao
thâm, lại lấy đạo đức thực tiễn thiển cận mà giáo
hóa quốc gia dân chúng. Vua A-Dục (Ashoka) sau khi quy Phật, cũng
như lịch sử Phật giáo Trung Quốc, Nhật Bản đã chứng minh
điều đó. Bởi thế trong số các học giả Tây Phương có
nhiều người cho Phật Giáo, nhất là Phật Giáo Nguyên thủy,
chỉ là cải tạo nền luân lý của Bà-la-môn mà thôi. Dĩ
nhiên đây là một nhận xét chưa hẳn đã xác đáng, nhưng
nói một cách tổng quát thì Phật Giáo, thông qua Tiểu Thừa
và Ðại Thừa, đều đề cao lòng từ bi, tôn trọng tâm-quý,
(lương tâm) và lấy việc tu thiện, lành ác làm đặc chất,
đó là sự thật hiển nhiên.
Song,
đồng thời với việc làm lành lánh dữ, Phật Giáo còn là
một tôn giáo lấy việc giải thoát hẳn mọi nỗi khổ đau
trong ba cõi làm lý tưởng tối hậu, điều này tưởng không
cần phải nhắc lại. Mà nội dung của Niết Bàn giải thoát,
tuy có nhiều nhận xét khác nhau, nhưng bất luận thế nào
cũng đều cho đó là cảnh giới sau khi đã siêu việt hiện
thế, mà cảnh giới đó dĩ nhiên không còn việc ác, nhưng
đến nay điều thiện cũng cần phải xả ly cả. Vì rằng
cái gọi là thiện ác thuộc về sai biệt giới, còn giải
thoát Niết-Bàn thuộc bình đẳng giới. Cho nên bất luận
là Tiểu Thừa hay Ðại Thừa, một mặc tuy ca ngợi và khuyến
khích việc làm thiện, nhưng mặc khác phải vượt hẳn lên
trên mọi sự thị phi thiện ác.
Do
đó vấn đề được đặt ra là: nếu đã vậy thì đứng
trên lập trường lý tưởng tối cao kia mà nhận xét giáo
lý đạo đức của Phật Giáo đã chiếm một địa vị như
thế nào? Nói cách khác, trong Phật Giáo, yếu tố đạo đức
là vật phụ thuộc, nếu có nó thì mặt phát huy Phật Giáo
xã hội thực tế tuy có ích lợi , nhưng thí dụ không có
nó thì có được hay không? Còn nếu nó là một thành phần
tất yếu không thể thiếu thì ý nghĩa đó ra sao? Và Phật
Giáo đã gieo lập trường nào để đưa ra những nguyên lý
đạo đức? Ðó là những câu hỏi mà về phương diện giáo
học của Phật Giáo đã trở thành một vấn đề to lớn.
Về
vấn đề này ý kiến của những nhà nghiên cứu Phật Giáo
có nhiều điểm dị đồng: có người cho yếu tố luân lý
của Phật Giáo hoàn toàn là vật phụ thuộc. Trong số các
học giả Tây-Phương hiện nay. Như đã nói ở trên, cũng có
người một mặt cho Phật Giáo cũng chỉ là một phong trào
cải tạo luân lý trong Bà-la-môn giáo, trên bản chất, rất
nghèo nàn về phương diện đạo đức. Thêm vào đó, chính
trong hàng ngũ những người theo Phật cũng có một số có
vẻ coi thường yếu tố đạo đức: từ xưa trong một phái
thuộc Tiểu Thừa đã cho rằng lòng từ bi cũng là một thứ
phiền não của chính mình, và chủ trương Phật không có lòng
từ bi (Kathvatthu XXIII,3) và chủ trương đó đã gây ảnh hưởng
cho các cuộc vận động thực tế của Phật Giáo.
Phật
Giáo Nhật bản đã đem lý tưởng cứu thế thích ứng với
thời đại, tuy đã phát khởi nhiều công nghiệp xã hội vận
động luân lý, nhưng làm thế nào để điều hòa nó với
lý tưởng giải thoát? Về vấn đề này chưa có một giải
pháp nào xác định cả.
Do
đó, ở đây vấn đề được nêu lên là: như vậy thì luân
lý trong Phật Giáo chỉ là phương tiện, hay vì muốn tăng
thêm cái hữu dụng tính của Phật Giáo về mặt xã hội mà
bổ sung và hoàn thành? Ðiều này, trên bề mặt, tuy có điểm
khó điều hòa, nhưng trong các kinh điển cổ xưa đã giải
thích rất cặn kẽ. Nếu cho tất cả những lời giáo huấn
về đạo đức thế gian chỉ là phương tiện hoặc là những
điều do hậu thế thêm thắt vào, thì bất luận thế nào
đi nữa cũng không thể chấp nhận ý kiến đó. Ðương nhiên
sự tu dưỡng đạo đức, đối với Phật Giáo, không phải
là mục tiêu thực tiễn toàn thể, nhưng nó cũng lại là một
nhiệm vụ căn bản không thể thiếu được. Theo một ý nghĩa
nào đó, ta có thể nói điểm chủ yếu của Ðại Thừa là
giải quyết vấn đề này, không phải căn cứ theo những sự
giải thích do đời sau, thêm vào mà lấy hẳn thái độ hay
lời thuyết pháp của chính đức Phật làm nền tảng để
thuyết minh ý nghĩa nội tại của vấn đề.
TIẾT
THỨ HAI:
Ý
NGHĨA ÐẠO ÐỨC TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY.
Trước
hết hãy lập theo trường của Phật Giáo Nguyên thủy để
nói qua về khả năng tính của đạo đức.
Tất
cả các tôn giáo hữu thần đều cho rằng đạo đức bắt
nguồn từ thần minh. Thần minh là biểu tượng của đạo
đức, cho nên nhân loại do thần minh sáng tạo cũng là biểu
tượng của đạo đức. Phật Giáo Nguyên thủy, trái lại,
không thừa nhận một vị thần có giá trị tuyệt đối, mà
chủ trương rằng sự tồn tại của chúng ta lấy dục vọng
làm cơ sở, bởi vậy ta cần phải luận cú xem trong đó thành
lập đạo đức như thế nào. Ðiểm này, chiếu theo các kinh
điển, đức Phật một mặt cho rằng bản tính của ta là
vô minh, mặt khác, về sự cần thiết của đạo đức, đưa
ra những căn cứ có thể giải thích bằng nhiều cách. Theo
tôi, có thể nêu lên ba căn cứ chủ yếu sau:
1)
Ai cũng biết cái lý nhân quả thiện ác: làm điều thiện
được quả báo tốt, làm điều ác được quả báo xấu.
Do đó, muốn được quả báo tốt, tất nhiên cần phải làm
việc thiện, đó là điểm xuất phát từ cái gọi là lập
cước địa công lợi.
2)
từ lập trường đồng tình. Khi mình gặp điều tốt lành
mình lấy làm vui mừng, nếu gặp việc rủi ro mình thấy buồn
khổ; cứ lý đó mà suy diễn ra thì đối với người khác
mình cũng phải có sự đồng tình, nghĩa là đừng bao giờ
gây khổ buồn cho ai nếu không giúp họ được điều tốt
lành. Ðó là lập trường "hãy làm cho người khác những điều
mình muốn người ta làm cho mình", hay " đừng bao giờ làm
cho người khác những điều mà mình không muốn người ta
làm cho mình".
3)
Vì thế giới này được thành lập bởi nhân duyên (quan hệ)
nên cần phải phù trì giúp đỡ lẫn nhau, đó là căn cứ
vào điều kiện và quy luật thành lập thế giớ (xin xem Nguyên
Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận).
Vượt
lên tất cả những căn cứ trên đây là căn cứ Vô Ngã Luận
lấy Niết-Bàn làm lý tưởng tối cao. Người đời thường
chấp ngã, cho cái ta là hơn hết, rồi tìm mọi cách để thỏa
mãn mọi ngã-dục, nhưng trong cái ngã chấp, ngã-dục đó thật
sự ta không thể tìm thấy cái ngã-thể nào cả, cho nên gọi
là Vô-ngã. Ngăn ngừa ngã-dục để hăng hái làm việc thiện
là muốn mở rộng con đường giải thoát tối cao.
Căn
cứ vào những điểm trên mà đức Phật đã tưởng lệ việc
thiện ở tất cả mọi trình độ, đó là giáo điều luân
lý của Phật Giáo.
Nhưng
ở đây vấn đề được đặt ra là: sự tưởng lệ đạo
đức như thế đối với đạo giải thoát có ý nghĩa va giá
trị gì không? Nếu nói một cách đại thể thì ở đây ta
có thể nhận thấy hai lớp quan hệ:
1)
Ý nghĩa phương tiện để đạt đến giải thoát.
2)
Ý nghĩa hoạt động sau khi giải thoát.
Ðiểm
thứ nhất chuyên lấy giải thoát làm tiêu chuẩn để đi đến
kết luận chỉnh lý tất cả những lời dạy của Phật. Dĩ
nhiên đây không phải là sự phân biệt do chính đức Phật
nói ra, nhưng nếu ta giải thích Nguyên thủy Phật Giáo như
một tôn giáo có chứa đựng nhân cách cũng như lời dạy
của Phật thì đại khái ta có thể nhận xét và kết luận
theo hai phương diện kể trên, nhưng sợ vẫn chưa đúng với
nghĩa của Nguyên thuỷ Phật Giáo. Bởi thế, giờ đây tôi
xin căn cứ vào những nhận xét trên đây để bàn qua về
ý nghĩa luân lý của Phật Giáo Nguyên thủy.
1)
Ðạo đức là phương tiện:
Nói
một cách tổng quát thì có nhiều cách để đạt đến giải
thoát, nhưng phương pháp hiệu quả nhất là đức hạnh và
tiếp tâm, và phương pháp này đã được đức Phật triệt
để lưu ý, tức là làm việc thiện và tu Thiền định. Nhưng
vấn đề được đặt ra là: do Thiền-định Nhiếp-tâm mà
diệt trừ vọng niệm. ức chế ngã dục, khiến cho tâm hồn
giải phóng đến cảnh giới vô ngã, thấy rõ được đạo
giải thoát rồi thì đạo đức phải có một ý nghĩa như
thế nào mới có được quan hệ trực tiếp với đạo giải
thoát? Như đã nói ở trên, thế giới đạo đức dù có giải
thích theo cách nào đi nữa cũng vẫn thuộc về sai biệt giới,
còn thế giới giải thoát thì trái lại lấy bình đẳng làm
chân tướng. Về mặt giáo lý học, đối với điểm này tuy
có nhiều giải thích khác nhau, nhưng theo chỗ tôi biết trong
những yếu tố đạo đức có liên quan trực tiếp đến giải
thoát, tất nhiên là phương diện tiêu cực trước hết, nghĩa
là thay vì tích cực làm lành lại tiêu cực lánh ác. Mà theo
đức Phật thì bất cứ điều ác nào cũng đều do tham, sân,
si, lấy ngã-dục, ngã-chấp, làm nền tảng trung tâm. Do đó,
làm ác có nghĩa là tăng cường thêm ngã-chấp, ngã-dục, còn
nếu lánh ác, theo ý nghĩa xả ly ngã-chấp, ngã-dục, có quan
hệ trực tiếp với giải thoát rồi. Bởi vậy, tuy không tích
cực vì người mà mưu đồ thiện sự (theo ý nghĩa thế gian),
nhưng tuyệt đối không được làm việc ác. Ðó là ý nghĩa
đạo đức của Phật Giáo. Trong những đức mục của Phật
Giáo, như Ngũ-Giới, Thập-Thiện, nhận xét theo lập trường
trên đây, chủ yếu là những đức mục tiêu cực cũng vì
lý do đó. Nếu căn cứ theo ý nghĩa trên đây thì ta thấy,
trên bản chất, Phật Giáo là một tôn giáo rất nhẹ màu
sắc đạo đức, vì quan niệm rằng dù tích cực làm lành
hay phát đại từ bi tâm, tất cả chẳng qua cũng chỉ là một
loại phiền não. Song, nói đúng ra đây mới chỉ là một nhận
xét phiến diện thôi. Nếu chỉ một mặt tiêu cực lánh ác
không thôi thì chưa phải là đạo phá trừ ngã-chấp một
cách chân chính. Vì những người "độc thiện kỳ thân" chưa
phải đã hẳn hết ngã-chấp. Nếu muốn đả phá hết ngã
-chấp để đạt đến cảnh tự do giải thoát thì tất nhiên
cần phải tiến thêm một bước nữa vì người đời mà tích
cực nỗ lực làm thiện mới được. Nhân loại xã hội đã
như thế thì không thể không thực hiện cái đạo đã phá
ngã-chấp ngay giữa xã hội để tạo cho xã hội thành một
cảnh giới cởi mở. Ðức Phật trước sau vẫn chủ trương
chủ nghĩa bất để kháng, diệt trừ tất cả mọi dục vọng
cá nhân, mưu hạnh phúc cho nhân loại để cuối cùng đạo
giải thoát tuyệt đối. Vô ngã luận (đứng về phương diện
tích cực mà nói) chẳng qua cũng chỉ hàm ngụ cái ý nghĩa
trong lịch trình xả thân tu thiện của hạnh nguyện Bồ-Tát
mà thôi. Ðiều này đã được biểu hiện rõ ràng trong kinh
Bản Sinh và từ thời đại Phật Giáo Nguyên thủy đến nay,
hàng phật tử vẫn lấy đó làm lý tưởng tối cao của mình.
Như
vậy, về mặt tiêu cực, không làm ác, nhưng về mặt tích
cực tất nhiên phải làm thiện. Tuy nói thế, nhưng tiến thêm
bước nữa mà nhận xét trong phạm vi Dục-giới, lấy "dục"
làm cơ sở để làm thiện (nói theo thuật nghữ là hữu lậu
thiện) Cũng có thể cho là tư lương để đi đến đạo giải
thoát. Ðạo đức vô ngã tuy là lý tưởng của Phật Giáo,
nhưng con đường đạt tới đó thật vô cùng khó khăn. Nếu
muốn đạt được con đường đó, điều kiện tiên quyết
là phải chuẩn bị ngay từ đạo đức công lợi. Nói cách
khác, nếu muốn hoàn toàn vô ngã, người ta phải coi lợi
ích của người khác như lợi ích của chính mình. Ðức Phật
thường đặc biệt dạy tính đồ cái đạo lý "thiện nhân,
thiện quả, ác nhân, ác quả) để họ tu thiện; ngừa ác
, chính là ý ấy. Dự tưởng quả báo mà làm thiện tuy là
có tính cách ngã chấp. Nhưng trong đó không nhiều thì ít,
nếu không hy sinh một phần ngã-dục thì quyết không thể
làm thiện được, và cứ như thế dần dần tiến lên diệt
trừ ngã-dục mà tiến sâu vào đạo giải thoát. Phương pháp
suy tiến đạo đức này ta thấy đầy dẫy trong các kinh điển.
Vì thế đã có người cho rằng đạo đức Phật giáo có nhiều
sắc thái công lợi, nhưng thực ra đó chỉ là những giai đoạn
để tiến đến đạo đức vô ngã mà thôi. Ðó là điều
chúng ta cần lưu ý. Tóm lại, như đã nói ở trên, đạo đức
Phật Giáo trước sau vẫn chỉ là nấc thang để đạt đến
đạo hạnh giải thoát, còn chính nó không có một giá trị
tuyệt đối độc lập nào cả. Hành vi đạo đức dĩ nhiên
là nấc thang cần thiết, đối với vấn đề giải thoát nó
bao gồm một giá trị tôn giáo, nhưng nó quyết không phải
là toàn bộ tôn giáo. Lý tưởng tôn giáo trước sau vẫn chỉ
là cảnh giải thoát, bình đẳng tuyệt đối, siêu việt tất
cả mọi sự thị phi, thiện, ác. Bởi thế ý kiến cho rằng
Phật Giáo chỉ là cuộc vận động luân lý của Bà-La-Môn-Giáo
là một ý kiến sai lầm.
Von
hartmanni chia giá trị con người thành ba giai đoạn để khảo
sát. Giai đoạn thứ nhất là tự- nhiên-Thái, thứ hai là Ðạo-đức-thái,
thứ ba là siêu đạo-đức-thái. Mà khi nào đạt đến siêu-đạo-đức-thái
thì lý tưởng tối cao của con người mới có thể được
thực hiện ( Echische Studien 1898). Ở đây ta nhận thấy có
điểm rất lý thú là cách khảo sát trên cũnng tương đương
với cách thuyết minh của phật giáo lấy giải thoát làm lý
tưởng. Nghĩa là, theo Phật Giáo, cái bản tính của ta khi
còn là Vô-minh hay khát ái, chưa hề tu dưỡng thì cũng tương
đương như cái gọi là tự-nhiên-thái, nói theo kiến giải
của Phật Giáo thì đó lá phàm phu chưa biết ức chế ngã-dục.Dĩ
nhiên nếu giải thích đúng với tinh thần của đức phật
thì tự-nhiên-thái đó tuy lấy dục vọng làm cơ sở nhưng
phần nội dung vẫn đã sẵn có cái động lực mong cầu một
sự giải thoát vĩnh viễn Ðại Thừa gọi đó là Phật tính,
nhưng về mặt biểu hiện nó chỉ được coi là tự nhiên
Thái. Rồi từ cái động lực nội dung đó dẫn đến yêu
cầu tự do giải thoát, mà bước đầu là phải qua giai đoạn
đạo đức công lợi, rồi dần dần tiến lên quá trình đạo
đức vô-ngã thì lúc đó có thể được coi là đạo đức
thái. Cứ như thế cho đến khi đạt đến cảnh giới giải
thoát tuyệt đối, trong đó không còn có gì gọi là thiện
hay ác nữa, vì lúc đó không còn thấy có thiện để làm
hay ác để tránh, nghĩa là cảnh giới tuyệt đối bình đẳng,
và ta có thể gọi dó là siêu đạo-đức-thái.
Tóm
lại, cách khảo sát của Von Hartmanni trên đây có thể nói
là nhất trí với tu dưỡng quan của Phật Giáo, đó là điểm
rất thú vị. Dĩ nhiên, trong Phật Giáo, nếu chỉ trau dồi
đứ hạnh không thôi chưa đủ để đạt đến giải thoát,
mà phải hoàn thành Tam học, nghĩa là Giới (đạo đức), Ðịnh
(nhiếp tâm) và Tuệ (trí tuệ) mới có thể đạt được giải
thoát hoàn toàn . Ðó là một cách nghiêm khắc, còn nếu chỉ
chuyên lấy đạo đức làm cơ sở để khảo sát thì ta có
thể nhận định như trên.
2)
Ðạo đức sau khi giải thoát:
Những
điểm được trình bày trên đây tuy chỉ bàn về ý nghĩa
đạo đức lấy sự hướng thượng làm chủ yếu, nhưng thật
ra nếu chỉ có thế thôi thì ý nghĩa đạo đức của Phật
Giáo chưa phải hoàn toàn. Tất cả sự giải thích ở trên
đều thuộc Tiểu Thừa. Nếu chỉ giải thích như trên thì
người sau khi đã được giải thoát mà còn hoạt động đạo
đức trong thế giới hiện thực thì người đó có thể nói
là trụy lạc, vì lẽ cứ theo cách xử lý ở trên, người
đã giải thoát rồi không cần đến đạo đức nữa, vì đạo
đức chẳng qua chỉ là phương tiện để đạt đến giải
thoát mà thôi.Trên thực tế trong hàng ngũ La Hán của Tiểu
Thừa tuy cũng có người nghĩ như thế, nhưng nếu đứng trên
phương diện toàn thể mà nhận xét thì lập trường của
đức Phật quyết không phải thế. Ở đây ta hãy tạm gác
sang một bên tất cả những giáo điều liên hệ mà chỉ cần
nói lên sự kinh lịch của vị Thủy-Tổ của Phật Giáo tức
là Phật Thích-Ca.
Lúc
ba mươi lăm tuổi đức Phật đã được giải thoát, tức
là cảnh giới đại Niết-Bàn, nhưng sự hoạt động của
Ngài ở thế giới hiện thực vẫn cứ được tiếp tục ròng
rã trong bốn muơi lăm năm sau đó gần như không lúc nào gián
đoạn, mà mục đích là hoạt động để cứu độ thế nhân.
Và những hoạt động cứu thế đó, như đã nói ở trên,
không phải chỉ đề xướng đạo xuất gia giải thoát, mà
đối với tất cả đạo đức thế gian, Phật đều quan tâm
đến. Có lúc Phật đứng ra làm trọng tài để dàn xếp các
cuộc tranh chấp giữa các quốc gia để chấm dứt chiến tranh,
cũng có lúc tự lãnh lấy trách nhiệm hòa giải các cuộc
cãi lẫy giữa những cặp vợ chồng trong gia đình, thậm chí
còn nói đến sự cần thiết tích trữ của cãi để dành
nữa. Ở đây có một điểm ta cần đặc biệt chú ý là :
tại Ấn Ðộ thuở xưa tất cả các bậc thánh nhân đều
được đặt cái tên hiệu là Mâu-Ni có nghĩa là trầm mặc,
mà những người đã đạt đến giải thoát thường ở trong
cảnh thâm u tịch mịch chính là do ý nghĩa đó mà ra. Nhưng
chỉ có đức Phật theo tập quán phổ thông, tuy cũng được
liệt vào hàng Mâu-Ni, song thật thì Ngài chẳng có vẻ Mâu-Ni
chút nào. Nghĩa là Ngài không phải là người ưa sự tịch
mịch, bất động, mà trái lại, trong suốt 45 năm hoạt động
cứu đời không lúc nào gián đoạn, không biết mỏi mệt.
Ngài đã tỏ ra là người đã phá chủ nghĩa ẩn-tuẫn trầm
mặc, thật là một sự kiện độc đáo trong hàng ngũ Mâu-Ni
tại Ấn Ðộ thuở xưa.
Nhưng
tất cả hoạt động và lời nói của Phật trong khoảng 45
năm có ý nghĩa gì? Vấn đề này đứng về phương diện giáo
nghĩa học tuy có nhiều điểm bàn cãi, nhưng nếu nói tóm
tắt cái cốt tủy của nó và hoạt động đó quyết không
phải là phương tiện để được đạt đến giải thoát,
đó là điều mà tưởng không cần nói ai cũng biết. Vì lúc
ba mươi lăm tuổi đức Phật đã được giải thoát và như
thế là Ngài đã đạt đến mục đích mong muốn rồi. Những
hoạt động trong 45 năm của Ðức Phật là những hoạt động
giải thoát, do đó là sự giáo hóa về Ðạo đức giải thoát.
Dĩ nhiên, khi đức Phật giảng giải đạo hòa hợp giữa vợ
chồng không có nghĩa là Phật nói chính mình sau khi giải thoát
còn cần phải thực hành điều đó, cũng như khi Ngài nói
đến chính trị không có nghĩa là tự ngài cũng muốn tham
gia việc quốc chính. Bản thân đức Phật lúc nào cũng là
một người xả thế, vượt hẳn lên trên mọi rằng buộc
và thèm muốn của cuộc đời, đứng ra ngoài vòng tranh chấp
của nhân thế, siêu việt, tự tại, sống cuộc đời ăn xin:
đó là một sự thật lịch sử. Tóm lại, đức Phật hoạt
động và chỉ đạo mọi lĩnh vực vì Ngài cho đó là cái
chức vụ của Ngài, và ta có thể nói đó là phạm vi hoạt
động sau khi giải thoát.
Như
vậy, nếu căn cứ vào những nhận xét trên đây, ta thấy
đạo đức quan của Phật Giáo nguyên thủy không phải chỉ
là phương tiện để đạt đến giải thoát. Nhận xét theo
kiểu kiến giải ở đoạn trên thỉ đạo đức là phương
tiện để từ tự-nhiên-thái đạt đến siêu-tự-nhiên-thái
(giải thoát); còn nếu nhận xét theo đoạn này thì đạo đức
từ siêu-tự-nhiên-thái trở lại chiếu rọi vào tự-nhiên-thái
mà đề cao cái giá trị tất yếu của nó trong lịch trình
tiến đến giải thoát. Song trường hợp trên đây lấy ngã-chấp,
ngã-dục và tâm sở đắc, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng
hoàn toàn vô-ngã: có thể nói hoạt động đạo đức ở giai
đoạn này chẳng qua chỉ là cái thiên chức tối cao tự mình
qui định. Bởi thế đến đây, đạo đức không còn là phương
tiện nữa mà là giá trị của giải thoát vậy.
Tóm
lại, giữa sự đề cao giải thoát và tưởng thưởng đạo
đức của Phật Giáo Nguyên thuỷ, ta thấy một sự thực nhất
trí rất hiển nhiên, mà về sau khi Ðại Thừa Phật Giáo phát
triển, cũng phải thừa nhận.
TIẾT
THỨ BA:
ÐẠI
THỪA GIÁO TỔNG HỢP.
Trở
lên, ta thấy giáo lý của Phật Giáo Nguyên thủy đối với
đạo đức có hai phương diện, nghĩa là nếu coi đạo đức
là phương tiện để đạt đến giả thoát, và đạo đức
ứng dụng sau khi giải thoát. Nhưng nói đúng ra, nếu chỉ
có thế thì vẫn chưa được hoàn toàn sáng tỏ, vì những
lẽ sau đây:
1)
Nội dung của giải thoát, ít ra cũng trên bề mặt chưa được
được xác định.
2)
Muốn đạt đến giải thoát phải lấy đạo đức làm phương
tiện, nhưng sau khi giải thoát rồi trở lại hiện thực giới
thì hoạt động đạo đức dựa trên căn cứ nào, đều đó
vẫn chưa được thuyết minh.
3)
Sự hoạt động trở lại này tất kính có thể được thành
như Phật, bất luận người nào đều có thể làm được
hay có nghĩa vụ phải làm, điều này trong các kinh điển cũng
chưa nói rõ.
4)
Hãy tưởng tượng Phật đã nhập vô-dư Niết-Bàn mà sau trở
lại hoạt động thì sự hoạt động ấy cũng sẽ khó mà
thực hành được một cách trọn vẹn.
Như
vậy, địa vị đạo đức trong Phật Giáo rốt cuộc cũng
vẫn chỉ là một giai đoạn_một giai đoạn ở trình độ
thấp_để đạt đến giải thoát. Còn hoạt động đạo đức
sau giải thoát chẳng qua cũng chỉ là một hoạt động làm
cảnh. Trong giáo lý Phật Giáo cho lập trường này là lập
trường Tiểu Thừa. Dĩ nhiên, trong thực tế, vị La Hán của
tiểu thừa cũng vì thế gian mà hoạt động nhiều cho các
việc thiện, nhưng bất luận trong trường hợp nào đều lấy
siêu thoát làm chủ đích, không thừa nhận đạo đức thế
gian có một ý nghĩa to lớn: đó là đặc chất của giáo lý
Tiểu Thừa. Nói một cách đơn giản, các học giả Tiểu Thừa,
căn cứ vào kinh điển Nguyên thủy, tuy lấy việc thuyết minh
ý nghĩa nhiệm màu của kinh điển đó làm mục đích, nhưng
vì quá chuyên môn hóa và đề cao đạo xuất gia, nên đối
với những đức mục mà Phật đã nói cho hàng tại gia hầu
như không đề cập tới. Ðó là một sự thật lịch sử.
Không
thỏa mãn với lập trường trên đây, muốn trở về với
tinh thần của đức Phật, tổng hợp cả hai pháp môn hướng
thượng và hướng hạ mà trước kia mới chỉ được thể
nghiệm bởi chính đức Phật chứ trên giáo lý nó vẫn chưa
được chỉnh lý, giờ muốn chỉnh lý vấn đề đó chính
là Ðại Thừa Phật Giáo, và chính đây là điểm khu biệt
gữa Tiểu Thừa và Ðại Thừa. Nói một cách cực đơn giản
thì: Tiểu Thừa chủ yếu là chú trọng về mặt biểu hiện
của những lời Phật nói, mà cái chân lý của Phật lại
nằm ở phía sau những lời nói đó. Trái lại, Ðại Thừa
chỉ muốn chuyên căn cứ vào nhân cách của Phật để tìm
hiểu tinh thần của Ngài. Tiểu Thừa chuyên hướng về chủ
nghĩa xuất gia, Ðại thừa lấy Bồ-Tát_người thế tục cầu
đạo_ làm lý tưởng, cho nên hiển nhiên là có tính cách thông
tục. Còn về học phong, Tiểu Thừa thích biến những lời
Phật nói thành hình thức cố định rồi cố gắng đem phân
tích nó một cách tinh tế, Ðại Thừa, trái lại, muốn tổng
hợp để quan sát hết thảy, đó là đặc trưng của Ðại
Thừa. Do đo, đối với vấn đề hiện tại, nghĩa là sự
quan hệ giữa giải thoát và đạo đức, Ðại Thừa đã phát
huy cái đặc trưng đó như thế nào? Dĩ nhiên, về vấn đề
này, tuy cùng là Ðại Thừa, nhưng cũng có nhiều tôn phái
khác nhau, cho nên không thể định đoán một cách nhất khái
được. Mặc dầu vậy, nhưng điểm then chốt mà các tôn phái
căn cứ để xác lập đạo đức vẫn là điểm dùng hình
thức nào để thống nhất cáii chung kết Niết-Bàn sau khi
ngộ và cái nguồn gốc vô minh khi còn mê? Về vấn đề này,
có thể nói các tôn phái đều có điểm cộng thông (xem lại
Thiên thứ hai, chương ba và bốn).
TIẾT
THỨ TƯ:
CHÂN
KHÔNG DIỆU HỮU.
Từ
rất sớm, tư tưởng Bát-nhã đã trở thành tư tuởng căn
bản của tất cả các tôn phái Ðại Thừa. Mà tư tưởng
căn bản có thể thâu tóm vào bốn chữ Chân-Không Diệu-Hữu.
Nếu đứng trên lập trường tu dưỡng mà nói thì Chân-Không
là cái đương thể tối hậu của sự phủ định hoàn toàn
ngã-chấp, ngã-dục, siêu việt hiện thực, nhưng tuyệt nhiên
không có nghĩa là hư vô, mà trái lại có thể nói đó là
cái tâm cảnh sung thực, tự do tuyệt đối. Về mặt giáo
lý, Bát-Nhã không lập ngẫn tượng, cho nên cái đương thể
tối hậu đó, về phương diện biểu tượng, không làm cách
nào để diễn tả được. Trên quan hệ, vì phải thoát ly
cái cảnh giới cá biệt và hạn chế này, nên về mặt tiêu
cực, nói là không, nhưng thật thì không ngoài việc thể nghiệm
cái năng động thái thuần tuý. Do đó, nếu nói theo tâm cảnh
ấy thì tất cả hoạt động của chúng ta đều là để thanh
tịnh hóa thế giới này, mà tất cả sự vật đều là cái
ánh sáng phóng từ tướng Chân-như ra (Diệu-Hữu). Ðứng ở
một phương diện mà nhận xét thì thế giới quan của Bát-Nhã
có vẽ như vô vũ trụ luận; không những thế, nếu nhận
xét ở một khía cạnh khác, thế giới quan tuy hiển nhiên
đã biến thành Phiếm thần luận, nhưng rốt cuộc cũng không
ngoài cái kết luận được rút tỉa được từ tư tưởng
Chân-Không Diệu-Hữu. Sự khảo sát về Chân-Không Diệu-Hữu
tuy đã trở thành xuất phát điểm căn bản của tất cả
triết học Ðại Thừa sau này, nhưng vấn đề ở đây_mối
quan hệ giữa giải thoát và đạo đức_theo lập trường Bát-Nhã,
nên xử lý như thế nào?
Theo
Bát-Nhã, nếu nói một cách phiếm diện thì đạo đức vẫn
chỉ là một trong những phương tiện để đạt đến cảnh
giải thoát của Chân-Không. Ðể đạt mục đích đó, như
mọi người đều biết, cần phải tu hạnh Lục Ðộ, mà trong
Lục Ðộ bao gồm những đức mục đạo đức như sự nghiệp
từ thiện (bố thí), đức hạnh (trì giới), nhận nại, nỗ
lực v.v. Nhưng sở dĩ Bát-Nhã có cái đặc sắc Bát-Nhã thay
vì chú trọng vào pháp môn hướng thượng thì lại đặt trọng
tâm vào pháp môn hướng hạ. Dĩ nhiên, thật ra trong quá trình
tu dưỡng, tuy không có hướng thượng hay hướng hạ khác
nhau, nhưng giữ hướng thượng và hướng hạ, không thể không
có một thái độ bất đồng. Ðó là đặc sắc của Bát-Nhã.
Do đó, cái địa vị của đạo đức đối với giải thoát,
nếu nói một cách phiến diện, thì tuy chỉ là phương tiện,
nhưng ở một phương diện khác mà nói, thì trái lại nó phải
là một căn cứ giải thoát mới có thể hoàn thành được
đạo đức chân chính. Nghĩa là Lục Ðộ là phương tiện
để đi đến Chân-Không, nhưng đồng thời, Lục Ðộ chân
chính phải đạt đến Chân-Không, mới có thể được hoàn
thành, và như vậy nó lại là yếu tố không thể thiếu để
tạo thành thế giới Diệu-Hữu. Nói thế tuy có vẻ biến
thành trừu tượng, nhưng nếu nói một cách cụ thể thì tuy
nó là sự nghiệp từ thiện. Nhưng sự nghiệp từ thiện bất
luận là xuất phát từ động cơ nào đi nữa, nó cũng hàm
chứa một sự hy sinh tự kỷ, đã phá ngã-chấp, ngã-dục
làm phương tiện để thể hiện thế giới Chân-Không. Theo
ý nghĩa đó, Lục Ðộ được coi là hàng đầu. Nhưng bố
thí mà nhắm cầu lợi cho chính mình dù chỉ một mảy may
thôi, thì lập tức Bố-thí Ba-la-mật biến thành vô nghĩa,
mất chân chính. Bố thí chân chính là phải có tính cách của
cái gọi là "Tam-luân-thể-không", nghĩa là đừng bao giờ phân
biệt mình là người cho, có kẻ nhận của mình cho, có kẻ
nhận của mình cho, và có vật để mình cho; coi hành động
bố thí của mình chỉ là một phận sự cao cả nên làm, thế
thôi. Có như thế thì bố thí mới có được nghĩa chân chính.
Mà quan điểm này chỉ khi nào đạt tới cảnh giới Chân-
Không mới có thể được hoàn thành, đồng thời, khi bố
thí với tinh thần Tam-luân không Diệu- Hữu, đó là tinh thần
của Bát Nhã. Và tinh thần ấy không phải chỉ hạn cục trong
lĩnh vực bố thí từ thiện, mà bất cứ nỗ lực làm một
việc gì có tính cách vì người, giúp đời, đều cũng phải
xuất phát từ lập trường đó, nếu không sẽ trái ngược
hẳn với tinh thần Bát-Nhã. Cái gọi là vô duyên từ bi chính
là chỉ tinh thần đó. Kinh Kim Cương nói "Ưng vô sở trụ
nhi sinh kỳ tâm" chẳng qua qua cũng chỉ biểu thị cái tinh
thần và thái độ căn bản đó mà thôi. Chỉ khi nào theo tinh
thần đó mà đạo đức xã hội thì mới có thể thực hiện
được Tịnh-Ðộ Diệu-Hữu. Cho nên tôi tưởng ta có thể
giải thích thế giới quan Phiếm-thuần luận của Bát-Nhã
như sau chỉ hạn cục ở phương diện đạo đức thôi: Xây
dựng tên cơ sở của tâm-vô-sở-đắc để hoàn thành việc
đạo đức hóa xã hội. Trong kinh Bát-Nhã thường nói: "Nhờ
năng lực của Bát-Nhã: người điếc được nghe, người mù
được thấy, người què được đứng". Những câu trên đây
vốn ám chỉ trí kiến lực, nhưng ta cũng có thể giải thích
nó là kết quả của năng lực đạo đức cứu tế xã hội
theo tinh thần Tam-luân-thể-không vậy.
Tóm
lại, vào thời đại Nguyên thủy Phật Giáo, Bát-Nhã đã hoàn
toàn thực hiện cái nhân cách của đức Phật, đem dung hợp
nhất ban hóa giải thoát và đạo đức để tạo cho triết
học Chân-Không Diệu-Hữu một cơ sở mà có thể nói thật
đã thấu triệt được chỗ lập cước của tinh thần chân
thực của Phật. Ðó cũng là lý do tại sao Bát-Nhã, vốn thừa
kế chân tinh thần của Phật Giáo Nguyên thủy, được nhận
là căn đề của Phật Giáo Ðại Thừa ( xem lại tiết mục
Chân-như quan của Bát- Nhã ở trên).
TIẾT
THỨ NĂM:
BẤT
TRỤ NIẾT BÀN.
Theo
lập trường của Bát-Nhã thì mục đích cuối cùng của chúng
ta là phải cùng với hết thảy chúng sinh cùng tiến tới mới
có thể đạt đến giả thoát. Nhưng, ở đây vấn đề được
đặt ra là: xuất phát từ lập trường này thì phải xử
trí như thế nào về Niết-Bàn quan ở bên kia? Ở trên, đặc
biệt là sự giải thích của Tiểu Thừa, Niết-Bàn có hai
loại: Hữu Dư Niết-Bàn, và Vô-Dư Niết-Bàn. Hữu- Dư Niết-Bàn
là quả vị trong đó hành giả tuy đã được giải thoát nhưng
vẫn còn có thân thể lưu lại ở đời; Vô-Dư là quả vị
sau khi chết, nghĩa là cái quả vị tịch diệt không còn trở
lại hiện thực giới nữa. Ðó là giải thoát quan có tính
cách cá nhân đã từ lâu chi phối Phật Giáo giới. Song đến
thời kỳ Ðại Thừa. Vì giải thoát quan được mở rộng
nên nếu chỉ có hai loại Niết Bàn như trên thì không thể
nào khiến cho người ta thỏa mãn được cái lý tưởng hay
thề nguyện cứu độ. Niết-Bàn quan trên đây, như vừa nói,
là bản vị cá nhân, còn Niết-Bàn quan ở thời kỳ Ðại
Thừa có thể nói đã tiến đến bản vị xã hội. Nếu chỉ
hoàn thành sự giải thoát của chính mình vốn là một bộ
phận nhỏ bé trong tập thể cộng đồng, mà hoàn thành sự
giải thoát cho những người kác thì chưa có thể nói là Niết-Bàn
là chân chính. Do đó, để thích ứng với lập trường này,
Niết-Bàn quan đã thừa nhận từ trước không thể không được
mở rộng hoặc thay đổi ý nghĩa: đó là quan niệm đặc biệt
về Niết-Bàn của giới Ðại Thừa. Nói theo thuật ngữ của
Phật Giáo thì đó là Bất-Trụ-Niết-Bàn (Apratis thitanirvana).
Bất-Trụ-Niết-Bàn
tuy lấy bình đẳng giới làm lý tưởng tối hậu, nhưng không
trụ ở bình đẳng giới, mà trái lại, trụ ở sai biệt giới
để cùng hết thảy chúng sinh cùng tiến tới, như vừa nói
ở trên, dần dần đả phá sự tồn tại ở địa vị hạ
đẳng mà tiến tới sự tồn tại ở địa vị cao đẳng,
và chính đối với quá trình đó là mệnh danh Bất-Trụ-Niết
- Bàn. Trên văn hiến; danh từ này đã được dùng trong các
kinh Giải-Thâm-Mật và Nhập-Lăng-Già, v.v… Dĩ nhiên về phần
nội dung tư tưởng thì tuy đã có trong kinh Bát-Nhã, kinh Pháp-Hoa,
nhưng danh từ Bất-Trụ-Niết-Bàn được thêm vào và được
coi là một loại riêng hoàn toàn phát sinh sau thời đại tư
tưởng Như-Lai-tạng và tư tưởng Chân- Như đã được kiện
toàn. Chẳng hạn phái Duy-Thức, ngoài Hữu Dư và Vô Dư, thêm
tự sinh thanh tịnh Niết-Bàn (tự thể của Chân-như) cùng
với Bất-Trụ-Niết-Bàn để cộng lại thành bốn lại Niết-
Bàn.
Tóm
lại, Bất-Trụ-Niết-Bàn điều hòa giữa hai tư tưởng luân
hồi và giải thoát, tuy ở trong thế giới luân hồi,nhưng
điều đó không phải là kết quả của nghiệp lực trói buộc,
mà trái lại hoạt động một cách tự do, tự tại và tích
cực cứu độ chúng sinh. Tuy lấy giải thoát làm lý tưởng,
nhưng khác hẳn với trạng thái tịch tĩnh của Vô-Dư Niết-Bàn.
Có thể nói Bất-Trụ-Niết-Bàn là cái đương thể mà một
mặt là vĩnh viễn luân hồi, mặt khác là vĩnh viễn giải
thoát. Tức như đức Phật lấy hạnh nguyện của Bồ-Tát
để hoật động và đem sự hoạt động đó làm sự khảo
sát vĩnh viễn. Do đó, để thực hiện Niết-Bàn này, hành
giả không nhất định phải xa rời thực tế, trụ vào cái
tâm giải thoát vô sở đắc, cùng với hết thảy mọi người,
tích cực hoạt động để chân thiện mỹ hóa cõi đời này,
ta có thể nói đây là một tinh thần đã được phát huy đến
cực điểm vậy.
Trong
Phật Giáo Ðại Thừa nói sinh tử tức Niết-Bàn, tất cả
các pháp thế gian đều là Phật pháp, v.v… chính là muốn
thuyết minh cái ý nghĩa chân chính của Bất-Trụ-Niết-Bàn
này. Do đó, sự thực hiện Niết-Bàn này không phải chỉ
hạn cục ở ngừoi xuất gia, mà những người sinh sống ngay
giữa đời trần tục mà nhà Phật thường gọi là tại gia
Bồ-Tát cũng có thể thực hiện một cách dễ dàng. Như Bồ-Tát
Quan Âm hiện thân tướng tại gia và biến hóa ra vô số thân
để cứu độ chúng sinh chẳng hạn, chính là thuyết muốn
biểu hiện và cụ thể hóa tư tưởng Bất-Trụ-Niết-Bàn
đó.
Sự
quan hệ giữa đạo đức và giải thoát trong Phật Giáo đến
đây đã dung hợp làm một và điều đó chẳng qua cũng chỉ
là hệ thống hóa cái bản ý và chân tinh thần của chính
đức Phật mà thôi.
TIẾT
THỨ SÁU: KẾT LUẬN.
Trở
lên tôi đã trình bày một cách rất sơ lược về sự phát
triển tư tưởng giải thoát và đạo đức trong Phật giáo.
Sau đây xin tóm tắt tất cả những điểm đã được nhận
xét ở trên.
1)
Lý tưởng tối hậu của Phật Gíao, dù nói cách nào đi nữa,
vẫn là siêu việt giới, bỉ ngạn giới. Mà siêu biệt giới
hay bỉ ngạn giới tuy được gọi là điều thiện tối cao,
nhưng nói theo ý nghĩa phổ thông thì không phải thiện cũng
không phải ác, mà là thế giới siêu đạo đức.
2)
Ðạt đến thế giới đó, trong nhiều phương thức khác nhau,
phương thức đạo đức là trọng yếu nhất. Nghĩa là dựa
vào đạo đức để đả phá ngã-chấp ngã-dục, làm chủ
tự nhiên thái, đồng thời khai sáng một thế giới tự chủ
mới, đó là con đường chủ yếu hướng đến giải thoát.
3)
Tuy giải thoát giới là lý tưởng tối cao của Phật Giáo,
nhưng đó không phải là nơi để cá nhân ngừng lại, mà trở
về thế giới hiện thực, đi thẳng vào cuộc đời, dùng
đạo đức hướng thượng để dắt dẫn hết thảy chúng
sinh cùng xu hướng tới thế giới lý tưởng. Ðó là điều
mà đức Phật đã thực hành và đó cũng là một đặc sắc
lớn của Phật Giáo Ðại Thừa.
4)
Như vậy, nói theo Phật Giáo, đạo đức gồm có hai ý nghĩa
hướng thượng và hướng hạ. Hướng thượng là đạo đức
còn chỗ mong được, hướng hạ là đạo đức không còn tâm
mong được. Nhưng đứng về mặt thực hành mà nói thì xuyên
qua đạo đức "hữu sở đắc" (có chỗ mong được) để đạt
đến thế giới siêu đạo đức, rồi lại xuyên qua siêu đạo
đức giới để mà trở xuống đạo đức "vô sở đắc" (không
còn tâm mong được), như vậy về thủ tục khái niệm không
khỏi có điểm phiền phức và xa vời. Do đó, muốn điều
hòa và thống hợp cả hai thái độ trên đây để tiến hành
thì phải có một đường lối khác: đó là tư tưởng Bất-Trụ-Niết-Bàn
(hay Bất-Trụ sinh tử) vậy. Ðạo đức, lấy thế giới vĩnh
viễn làm lý tưởng, làm bối cảnh là con đường trực tiếp
đưa đến giải thoát mà trong đó muốn gạt bỏ hẳn sự
phân biệt hướng thượng, hướng hạ và xuất gia, tại gia.
5)
Duy trì cái lý luận đó mà phát khởi là từ tư tưởng Chân-Không
Diệu-Hữu đến thuyết Như-lai- tạng hoặc thuyết Chân-như
v.v… trong triết học Đại Thừa. Nói về mặt biểu hiện,
tất cả chúng ta, tuy lấy chấp-ngã, ngã-dục làm trung tâm,
nhưng đều có khả năng tính thành Phật, đó là lý luận
mình, người bình đẳng. Do sự bình đẳng đó mà phát huy
lòng từ bi vô hạn, thực hiện khả năng tính thành Phật
của mình, của người một cách bình đẳng, nổ lực khai
triển Tịnh độ: đó là Bất-Trụ -Niết-Bàn. Nếu nói một
cách đơn giản thì cái đương thể của Bất-Trụ Niết Bàn
là cái tướng của Niết Bàn vĩnh viễn và hoạt động vĩnh
viễn.
6)
Căn cứ vào những điểm nhận xét trên đây những người
cho Phật Giáo chỉ là cuộc vận động luân lý là do đã không
chú ý đến giải thoát vĩnh viễn mà có sự hiểu lầm đó.
Ðồng thời, những người cho rằng sắc thái luân lý trong
đạo Phật rất bạc nhược là do đã không lưu tâm đến
ý nghĩa đạo đức Bất-Trụ-Niết-Bàn mà có sự hiểu lầm
như thế.
7)
Từ trước tới nay, các nhà học Phật chyuên đóng khung trong
quan niệm giới, thiếu hẳn tính cách thực tế hóa Ðạo và
Ðời. Như thế thât đã không phù hợp với tinh thần của
Ðại Thừa Phật Giáo lấy nhân cách của đức Phật làm trung
tâm để phát triển. Bởi vậy, ở đây tôi đã lấy hoạt
động làm bản vị để thảo luận một cách sơ lược như
trên về sự quan hệ giữa giải thoát và đạo đức trong
Phật Giáo. Mong được các bậc cao minh phủ chính.