CHƯƠNG
THỨ TƯ : Ý NGHĨA CUỘC ÐỜI
TIẾT
THỨ NHẤT :
NHU
CẦU XÁC LẬP NHÂN SINH QUAN.
Chúng
ta từ đâu mà đến? Rồi từ đây, chúng ta sẽ đi đâu? Ðó
là những câu hỏi đã được đặt ra từ nghìn xưa. Phật
Giáo thật đã vì muốn giải quyết vấn đề trọng đại
đó mà xuất hiện. Nhưng trong giáo nghĩa học của Phật Giáo,
vấn đề này vô cùng phiền tỏa, cho nên, ở đây sự giải
thích trong giáo nghĩa học về trạng thái trước khi sinh và
sau khi chết xin không đề cập đến, mà chỉ chuyên đứng
trên lập trường phê phán giá trị nhân sinh như thế nào
để xem có phù hợp với tinh thần của đạo Bồ-Tát không
thôi.
Một
nhà văn Anh đã quan niệm về cuộc đời như sau:
Con
người sinh ra đời cũng như người đi qua một cây cầu. Mà
cây cầu đó hoàn toàn chìm trong sương mù. Nhìn vào tình trạng
của những người qua cầu : hoặc có người đặt chân lên
đầu cầu đã ngã và chìm trong sương mù; hoặc cũng có người
đến giữa cầu thì đột nhiên bị trật chân mà té; cũng
có người cố dò dẫm và phải khó khăn lắm mới đi qua được:
hoặc cũng có một số rất ít ngay từ đầu đến cuối đã
dũng cảm vượt qua: tình trạng thật thiên sai vạn biệt.
Nhưng bất luận là người mới đặt chân lên đầu cầu,
hay đã đến giữa cầu hoặc đã cố gắng vượt qua, ai ai
cũng ở trong cùng một tình trạng là chìm ngập trong lớp
sương mù dày đặt: đó là vận mệnh chung của kiếp người.
Nói
theo kinh nghiệm cuộc đời là một ảo ảnh đúng như quan
niệm của nhà văn Anh trên đây, nhưng nó lại không phải
hoàn toàn vô ý nghĩa. Mặc dầu những kẻ qua cầu phải lần
mò, dò dẫm, có thể bị trật chân và ngã lúc nào không biết,
nhưng ít ra bản thân của những người qua cầu cũng có một
giá trị độc lập. Tuy chẳng nhìn rõ phía trước phía sau,
nhưng chính những người qua cầu là thực tại chứ không
là ảo ảnh. Do đó, nếu không đi sâu vào vấn đề trước
khi sanh và sau khi chết, mà chỉ khảo sát ý nghĩa cuộc đời
hiện tồn, ta thấy nó không phải hoàn toàn không có giá trị.
TIẾT
THỨ HAI:
TIÊU
CHUẨN PHÊ PHÁN GIÁ TRỊ CUỘC ÐỜI.
Nói
đến ý nghĩa cuộc đời, có nhiều lập trường để phê
phán giá trị của nó, vì lẽ cảnh ngộ cũng như khuynh hướng
của người ta rất khác nhau. Do đó, nếu chỉ căn cứ theo
cảnh ngộ đặc thù của cá nhân để phán đoán tất cả
mọi người thì quyết không thể được một sự phê phán
giá trị cuộc đời một cách triệt để, ta không thể không
lấy cái tính chất rộng rãi, phổ biến làm tiêu chuẩn.
Như
vậy, phải theo tiêu chuẩn nào để định giá trị cuộc đời
cho có được phổ biến tính? Nếu nói một cách nghiêm khắc
thì đây là một vấn đề rất lớn lao. Song, nếu nhìn vào
vấn đề trước mắt "cuộc đời là khổ hay sướng" rồi
căn cứ vào đó mà định giá trị cuộc đời, có thể nói
là một đề mục phổ biến và trọng đại hơn cả. Vì bất
luận nhìn vào khía cạnh nào, sự thật của cuộc đời cũng
vẫn chỉ xoay quanh hai phương diện khổ và sướng, cho nên
nếu có được một ý kiến xác đáng về khổ và sướng
tức là đã cấu thành xuất phát điểm của nhân sinh quan
đích thực. Bởi thế, theo tôi trước hết ta nên đứng trên
lập trường này để nghiên cứu giá trị của cuộc đời.
TIẾT
THỨ BA:
CHỦ
NGHĨA KHOÁI LẠC VÀ CHỦ NGHĨA YẾM THẾ.
Ðứng
trên lập trường sự thực mà nhận xét thì cuộc đời có
khổ, có sướng, sướng, khổ giao thoa. Song, nếu chỉ quan
sát thế thôi thì vấn đề có vẻ quá thường thức. Cho nên,
lại phải tiến thêm một bước mà khảo sát xem cuộc đời
vốn lấy khổ làm bản chất hay lấy sướng làm bản chất?
Ðây có thể nói là vấn đề nhân sinh quan tối sơ. Những
người chủ trương bản chất của cuộc đời là vui sướng,
dĩ nhiên thuộc phái theo chủ nghĩa Khoái Lạc. Chủ nghĩa này
rất được tôn sùng tại Tây Phương. Ngược lại, những
người cho bản chất của cuộc đời là khổ, hay ít ra khổ
nhiều hơn sướng, thì tất nhiên là những người chủ trương
chủ nghĩa yếm thế. Bên Tây phương chủ nghĩa này cũng rất
thịnh hành. Cơ Ðốc Giáo Nguyên thủy đại khái cũng theo
lập trường này, và nhất là gần đây, tại nước Ðức,
chủ nghĩa này càng ngày càng bành trướng.
Như
vậy, Phật Giáo thuộc hệ phái nào, khoái lạc, hay yếm thế?
Ðiều này không cần phải nhắc lại, Phật Giáo ít ra cũng
từ điểm xuất phát, dĩ nhiên là đứng trên lập trường
chủ nghĩa yếm thế. Coi cuộc đời là khổ và phải đối
phó với cái khổ đó như thế nào? Ðó chính là vấn đề
trung tâm của Phật Giáo. Song ở đây có điều chúng ta cần
phải lưu ý là đừng hiểu lầm cái khổ mà Phật giáo muốn
nói theo cảm giác, chúng ta vừa có khổ, vừa có sướng và
cũng có trạng thái không khổ, không sướng, điều là trong
tâm lý học của Phật Giáo đã được phân tích rất rõ ràng.
Phật Giáo cho cuộc đời là khổ, ngoài cảm giác ra, nó còn
xuất phát từ một lập trường thâm sâu hơn, đó là cái
bản chất mâu thuẫn cố hữu của cuộc đời do lý tính của
con người phát kiến.
TIẾT
THỨ TƯ :
HAI
PHƯƠNG DIỆN MÂU THUẪN CỦA CUỘC ÐỜI.
Là
con người, chúng ta phải đứng giữa hai cái thế rất mâu
thuẫn và bất khả tư nghị. Một mặt phải nhờ thiên nhiên
để sống còn vì nhìn bề ngoài, con người cũng là một hiện
tượng thiên nhiên, cho nên dù bất cứ ở đâu con người
đều không thoát khỏi cá định luật tất nhiên của thiên
nhiên. Nếu không có thiên nhiên con người không thể sống
còn, do đó theo một ý nghĩa nào đó, thiên nhiên có thể đực
coi là người dưỡng dục chúng ta, và ta không thể không tỏ
lòng biết ơn.
Nhưng
nếu coi thiên nhiên như một vị đại ân nhân là một điều
rất sai lầm, vì một mặt thiên nhiên tuy có giúp cho sự sinh
tồn của con người, nhưng mặc khác thiên nhiên cũng lại
là một ma lực thường xuyên đe doạ sự sống còn của nhân
loại. Hãy tưởng tượng từ xưa đã biết bao nhiêu con người
chết vì thiên tai, địa biến, ta sẽ thấy thiên nhiên đáng
sợ như thế nào rồi. Nói cho công bằng thì thiên nhiên chẳng
qua chỉ xoay vần theo cái định luật riêng của nó, con người
nếu thích ứng được định luật đó thì sống còn, nhưng
nếu đi ngược lạitất sẽ không tránh khỏi sự đe dọa
khủng khiếp. Theo ý nghĩa đó thì sự sống còn của con người
và sự sinh trưởng của cỏ cây, đứng trên lập trường
thiên nhiên mà nói, đều không có cách lực chọn mà phải
khuất phục định luật thiên nhiên nếu không muốn bị tiêu
diệt.
Song
trên đây mới chỉ nhận xét về một mặt. Con người sở
dĩ được gọi là con người, vì con người con có cuộc sống
tinh thần rất đầy đủ ngoài cuộc sống theo thiên nhiên,
Mà cái đặc trưng của cuộc sống tinh thần này, they vì lấy
định luật tất nhiên của thiên nhiên làm đặc tướng, muốn
dùng ý chí tự do của mình đề quy định sự sinh hoạt của
chính mình. .Mặt trời thường mọc đằng đông, lặn đằng
tây, nhưng nếu một người có chí "xẻ núi lấp sông" hay
có sức mạnh " vá trời lấp biển" thì tựa hồ muốn bắt
mặt trời đi ngược lại, đó là tinh thần chỉ có trong loài
người. Lại nữa con người sinh ra tất phải có già và chết,
đó là là tự nhiên. Nhưng con người cứ muốn trẻ mãi không
già, sống hoài không chết. Nói tóm lại, con người không
Nihau thì ít, đều muốn chống lại thiên nhiên đề thực
hiện cái ý chí tự do triệt để của chính mình.
Như
vậy, một mặt con người bị luật thiên nhiên ràng buộc,
mặt khác thì lại muốn thoát ra khỏi cái định luật đó
mà kiến tạo một thế giới tự do của mình sự sống mâu
thuẫn này mới thật là nguồn gốc của khổ đau của con
người. Cái yêu cầu tự do của con gười cang mạnh, muốn
quán triệt tự do bao nhiêu thì cái uy lực tất nhiên của
thiên nhiên cànt tăng thêm bấy nhêu, và sống giữa cái thế
giằng co đó, con người phải câm lặng mà chịu khổ, đó
là chân tướng của cuộc đời. Không những thế, sự mâu
thuẫn này không phải chỉ tồn tại giữa thiên nhiên và tinh
thần con người, mà nếu tiến thêm một bước nữa để khảo
sát, thì sự thật ta thấy nó còn xảy ra chính ngay trong tự
thể của tinh thần chúng ta nữa. Chẳng hạn cái tâm của
ta gồm ba yếu tố trí, tình, ý, neu khảo sát tính chất của
nó. Ta sẽ thấy tình, ý tự lấy nó làm trung tâm, rồi nhất
thiết đều theo đó mà phone đoán tốt, xấu. Trái lại, trí
thì quên mình mà thích ứng với đối tượng. Tác dụng tâm
lý này, trong những trường hợp phổ thông, tuy có thể thoả
hiệp, nhưng cũng có trường hợp trở nên xung động kịch
liệt mà khiến cho nội tâm bất an, đây là một kinh nghiệm
thực tế mà chúng ta thường thấy trong sự sống hằng ngày.
Và như thế thì ngay trong tâm ta cũng chứa sẵn một nỗi khổ
não âm thầm.
TIẾT
THỨ NĂM:
SỰ
MÂU THUẪN CỦA CUỘC ÐờI VớI QUAN NIỆM KHỔ.
Con
người, đối với sự sống của chính mình, nếu suy tư sâu
xa bao nhiêu thì niềm mơ ước càng cao bấy nhiêu; và trí tìm
hiểu chân tướng của sự vật phát triển bao nhiêu thì sự
nhận thức về những nỗi thống khổ của cuộc đời càng
rõ ràng bấy nhiêu. Và điểm này duy chỉ có những người
mà lý trí phát đạt mới có thể nhận thức được. Còn
động vật, thực vật và ngay cả những người bình phàm
cũng như trẻ con không thể cảm nhận được nỗi thống khổ
dằn vặt đó. Cái nhận thức về khổ hay sướng của động
vật và con trẻ chỉ là cảm giác, cho nên cái nhận thức
đó dễ tiêu tán tùy theo nhịp độ của khổ hoặc sướng
qua đi. Ðến như cái thống cảm của những người mà lý
trí phát đạt thì khác hẳn; đôi khi bên ngoài trông họ có
vẻ bình thản, an tịnh, nhưng thật thì trong thâm tâm họ
trực nhân có một cái gì dày vò khó tả. Sự mâu thuẫn cố
hữu đó hoàn toàn do kết quả của sự trấn áp tinh thần
mà có. Cho nên, với nền văn minh tiến bộ, cảm giác về
thống khổ tuy có vẻ dần được diệt trừ, nhưng nhìn vào
tổng thể của cuộc đời, ta thấy con người ngày nay nhiều
khổ não hơn con người ngày xưa. Cái lý do tại sao đức Phật
cho thế giới này là khổ giới chính là ở đó. Chúng ta cần
ghi nhận điểm này.
TIẾT
THỨ SÁU :
GIÁ
TRỊ CUỘC ÐỜI THEO QUAN NIỆM PHẬT GIÁO.
Theo
quan niệm Phật Giáo, cuộc đời có đáng chán không? Ðáng
ruồng bỏ không? Xin quả quyết ngay rằng: Không! Schopenhauer
nói: "Ngủ dĩ nhiên là hay, nhưng nếu chết đi mà đừng phải
sinh ra nữa thì lại càng hay biết mấy!" Ý nghĩa của câu
nói trên đây mới nghe qua, tuy phảng phất giống như nhân
sinh quan nghe của Phật Giáo, nhưng cái tinh thần của nó thì
khác biệt vô cùng. Tại nước Ðức, rất nhiều nhà triết
học có tư tưởng yếm thế mà Schopehaurer là một trong những
nhà triết học trứ danh đó. Thậm chí khi bàn đến triết
học giải thoát, có người chủ trương tự sát! Tâm trạng
đó tuy có khiến cho các nhà triết học Ðức xích gần lại
với Phật Giáo, nhưng trên thực tế cũng như trên tinh thần,nhân
sinh quan này của họ quyết không phù hợp với chân ý của
Phật Giáo.
Phật
Giáo tuy một mặt cho rằng đời là khổ, nhưng đồng thời
mặt khác đứng trên lập trường tôn giáo và đạo đức,
lại thừa nhận cuộc đời có một ý nghĩa rất sâu xa. Chính
vì lý do đó mà Phật Giáo cấm ngặt vấn đề tự sát. Không
những thế, Phật Giáo còn cho rằng người ta được sinh ra
đời cũng như con rùa mù gặp được khúc gỗ nổi: đó là
cơ hội "ngàn năm một thuở", cho nên trong kinh Phật thường
nói "Nhân thân nan đắc, Phật Pháp khó gặp) để nói lên
cái cơ duyên hy hữu và thù thắng đó. Còn một điều thích
thú hơn nữa là Phật Giáo cho rằng được sinh vào một thế
giới nhiều khoái lạc.
Thế
giới quan của Phật Giáo lấy núi Tu Di làm trung tâm, bốn
phương có bốn thế giới. Tựu trung, thế giới của chúng
ta được gọi là Nam Thiệm-Bộ-Châu, đứng ở phía Nam; ở
phương Bắc thì có Bắc Câu Lư Châu, tương đương với như
cái gọi là Utopia hay Bồng Lai Châu. Người sinh vào châu này
sống lâu một nghìn tuổi. Chính phủ, pháp luật kinh tế,
lao động, thương mại, tất cả đều không có: có thể nói
một quốc gia mà trạng thái khoái lạc hoàn toàn tự nhiên.
Tóm lại, ta có thể cho đó là Tiên-cảnh. Ấy thế mà Phật
Giáo lại cho rằng sinh vào quốc độ đó là điều bất hạnh.
Tại sao? Vì nơi nào không có khổ đau thì nhân cách con người
không có đường tiến bộ, còn nơi nào có khổ đau thì con
người mới phấn đấu, mới nỗ lực để mở ra một thế
giới giải thoát mới. Chính vì thế mà Nam-Thiện-Bộ-Châu
hơn Bắc-Câu-Lư-Châu.
Như
vậy, một mặt tuy nhấn mạnh về sự khổ đau của thế giới
nhưng mặt khác lại chính ngay trong khổ đau đó mà thừa nhận
giá trị của cuộc đời: đó là nhân sinh quan đặc thù và
lập trường trung tâm của Phật Giáo vậy. Bời thế nếu
cho quan niệm yếm thế của Tây-phương là một điều rất
sai lầm. Vì chữ Pessimisme hoàn toàn biểu diễn sự thất vọng
về cuộc đời, thậm chí còn đưa đến trạng thái tâm lý
muốn tự sát là khác. Quan niệm yếm thế của Phật Giáo
tuy cho chân tướng của cuộc đời là khổ, nhưng không phải
vì thế mà chán nản, không muốn sống, mà ngược lại, nhìn
thẳng vào khổ đau và nỗ lực khắc phục nó để tìm đường
giải thoát: chính vì thế mà cuộc đời trở thành có ý nghĩa.
Người Phật tử chân chính nhờ đạt quan được chân tướng
cuộc đời, cho nên tuy sống trong khổ đau mà không bị khổ
đau chi phối, trái lại, vẫn ung dung thanh thản và mạnh tiến
trên con đường tu dưỡng để chinh phục hoàn toàn khổ đau.
TIẾT
THỨ BẢY :
Ý
NGHĨA CỦA CUỘC SINH HOẠT VỚI QUAN NIỆM KHỔ.
Cái
đặc trưng của nhân sinh quan Phật Giáo tuy nhấn mạnh về
khổ đau nhưng có điểm ta cần ghi nhớ là nếu chỉ phát
hiện cái khổ cố hữu của cuộc đời thì sự sinh hoạt
sẽ không có giá trị. Khổ đau trở thành giá trị sinh hoạt
là ở chỗ nó phải được khắc phục. Nói một cách dễ
hiểu thì: nếu chúng ta mang thương tích ở chỗ nào sẽ cảm
thấy rất đau đớn. Mà cái giá trị của sự đau đớn là
ở chỗ chúng ta trị liệu vết thương để ngăn ngừa sự
suy ngược của toàn thân. Khổ đau là lẽ thường của cuộc
đời, nếu chán ghét mà trốn tránh nó thì sự sinh hoạt trở
thành vô giá trị. Cho nên sống trong cuộc đời khổ đau cũng
như người trèo núi, phải can đảm vượt qua mọi khó khăn
nguy hiểm để đi lên, nếu sợ chông gai hoặc những mỏm
đá cheo leo mà ngừng lại hay trở lui thì cuộc trèo núi mất
hết ý nghĩa mà người ta không bao giời được thưởng thức
bầu không khí thanh thoát nhẹ ngàng trên đỉnh núi cao. Cuộc
đời cũng vậy, chúng ta phải nhìn thẳng vào khổ đau tìm
cách đối phó và khắc phục nó: chính ở đây mà sự sinh
hoạt của chúng ta có ý nghĩa và thêm nhiều hứng thú. Trái
lại, nếu chúng ta thiếu dũng khí và không có phương pháp
khắc phục khổ đau thì khổ đau đối với chúng ta là một
hình phạt và cuộc đời ta thành tuyết vọng.
Sở
dĩ tôi đặc biệt phải nhấn mạnh về điểm này, một mặt
khác cũng muốn đính chính một vài thái độ sai lầm của
người đời nữa. Từ xưa tới nay có nhiều người cho cuộc
đời là khổ, nhưng đa số họ lại không phát huy được
cái giá trị bao hàm trong đó, rồi giữ thái độ sống cho
qua ngày đoạn tháng! Trên đại thể, tôi tưởng có thể chia
những người này thành hai hạng. Hạng thứ nhất, như trên
đã nói, tức là hạng cho đời là khổ chủ trương yếm thế
cực đoan mà đề xướng con đường tự sát. Hạng thứ hai,
tuy cũng biết chân tướng cuộc đời là khổ nhưng lại cho
tất cả đều vô nghĩa, phủ định mọi giá trị nhân sinh,
rồi vùi đầu vào những cuộc truy hoan, khoái lạc để "Miễn
được phút nào cho sướng kiếp". Nếu chiếu theo văn học
thì quan niệm đó đại khái có thể được gọi là chủ nghĩa
hư vô, và trên thực tế, những tình trạng đồi bại gần
đây đã phát xuất từ nhân sinh quan đó.
Nói
tóm lại, nếu khổ trở thành cái đối tượng để ta chinh
phục thì ta sẽ phát huy được cái giá trị đạo đức vĩ
đại của nó. Ngược lại, nếu ta để cho khổ đau chi phối
và khuất phục được ta thì đời sống ta sẽ trở thành
vô giá trị, đó là cái tinh thần căn bản của Phật Giáo.
TIẾT
THỨ TÁM :
VĂN
HÓA DÙNG PHƯƠNG PHÁP TIÊU CỰC ÐỂ CHINH PHỤC KHỔ.
Ở
đây vấn đề lại được đặt ra là: làm thế nào để chinh
phục được khổ? Theo một ý nghĩa nào đó thì đây là một
vấn đề rất lớn kể từ khi có loài người. Nếu nói một
cách nhật khái thì có rất nhiều phương pháp. Gần đây đã
có một thời kỳ người ta luôn nói đến văn hóa và cho nó
đứng về mặt tiêu cực, tất kính là một phương pháp chinh
phục khổ đau.
Văn
hóa, theo cách giải thích phổ thông, có nghĩa do sức người
mà cải tạo thiên nhiên, hoặc do sức người mà sáng tạo
và phát triển giá trị sinh hoạt. Nó là phương pháp bổ ích
để trừ khử những nỗi khổ não trói buộc con người trong
cuộc sống. Cho nên, người ta cũng bảo nhân loại sản sinh
ra văn hóa chẳng qua chỉ là để chinh phục khổ đau mà thôi.
Song, cái giá trị nhất ban của văn hóa lại chia thành Chân
(học vấn ), Thiện (đạo đức). Mỹ (mỹ thuật, âm nhạc
v.v.), Thánh (tôn giáo) bốn loại để tạo nên cái gọi là
Trị học Phương pháp của học phái Tây-Nam ở nước Ðức.
Nếu lại thêm Chính trị và Kinh tế nữa thì thành ra sáu
loại. Mặc dầu chia ra như thế nhưng bất luận là loại nào,
nếu nói một cách tích cực, thì nó là cái phương thứ để
tăng tiến giá trị sinh hoạt, còn nếu nói một cách tiêu
cực, thì nó là phương pháp chinh phục những nỗi khổ não
cố hữu của con người.
Tựu
trung, khoa học, đến một trình độ nào đó, chinh phục thiên
nhiên để phục vụ lợi ích của nhân loại, chính trị, kinh
tế vận dụng chính xác để điều hòa cuộc sống cộng đồng:
đó là cái được mệnh danh là văn minh vật chất và sinh
hoạt vật chất là phương pháp trọng yếu để chinh phục
khổ đau của con người, Cái đặc trưng của nền văn hóa
cận đại là ở chỗ dồn hết tâm lực vào ba lĩnh vực (khoa
học, chính trị, kinh tế) trên.
Song
ở đây có điều nên chú ý là một số người quá tin tưởng
vào sự tiến bộ của khoa học, sự tổ chức của chính trị,
kinh tế và lấy đó làm ý tưởng tối cao. Họ tin rằng, với
đà tiến triển của khoa học và sự tổ chức hoàn bị của
chính trị và kinh tế, con người không bao lâu sẽ thoát khỏi
hẳn mọi nỗi thống khổ ở đời. Với nền văn minh vật
chất chắc chắn con người sẽ được thỏa mãn về mọi
phương diện vật chất. Song, nếu nhìn toàn diện của cuộc
sống nhân loại, đó chẳng qua mới chỉ là một bộ phận
mà thôi. Không những thế, dục vọng của chúng ta vốn vô
hạn, cho nên sự thỏa mãn nhất thời, chẳng bao lâu sẽ lại
trở thành bất mãn. Nếu chúng ta lấy sự sinh hoạt vật chất
làm nền tảng thì vĩnh viễn không bao giờ chúng ta được
thỏa mãn, mà không thỏa mãn, tức là thấy khổ đau. Cuộc
sống của chúng ta ngày nay so với cuộc sống của cha ông
ta thuở xưa, về nhiều điểm tuy có hoàn bị hơn nhưng đứng
trên quan điểm hạnh phúc mà nói, chưa chắc chúng ta có nhiều
hạnh phúc hơn ông cha ta ngày xưa. Ðó là sự thật mà không
mấy ai không thấy. Hơn thế nữa, có thể nói chúng ta ngày
nay bạc nhược hơn người xưa, và cái trình độ thông cảm
những nỗi khổ muộn, ảo não cũng lại mạnh hơn.
Nói
thế không có nghĩa là chúng ta chê trách nền văn minh cận
đại. Nền văn minh vật chất, đối với việc tăng thêm giá
trị của cuộc sống, không những là một nhu cầu tất yếu,
không thể thiếu hơn nữa. Song đối với những ai đặt quá
nhiều tin tưởng vào nó, cho rằng chỉ có nó mới có thể
tiêu diệt được những khổ đau của cuộc đời, và mới
thật sự làm cho con người được hạnh phúc yên vui, thì
hãy xin xét lại thái độ của mình.
TIẾT
THỨ CHÍN :
XÉT
VỀ Ý NGHĨA VĂN HÓA THEO QUAN NIỆM PHẬT GIÁO.
Phật
Giáo có tiêu ngữ: "Bạt khổ dữ lạc", nghĩa là dứt khổ,
cho vui. Ðức Phật đặt ra nhiều phương tiện để nói pháp,
nhưng chỗ quy kết thì không ngoài việc nói rõ làm các nào
để thoát khỏi mọi khổ não cố hữu của cuộc đời mà
được hưởng một cuộc sống hòa bình, yên vui.
Thế
thì, cái phương pháp mà Phật Giáo dạy về "bạt khổ dữ
lạc" như thế nào? Nói một cách nhất khái thì Phật là người
theo chủ nghĩa tiệm tiến, cho nên cái phương pháp bạt-khổ-dữ-lạc
của Ngài cũng có nhiều giai đoạn.
Trước
hết, hãy nói đến cái phương pháp thường thức nhất. Như
trong tiết trước đã nói nếu tuyệt đối tin tưởng ở chính
trị, kinh tế và khoa học sẽ tận diệt được mọi khổ
đau của nhân loại, làm cho con người hoàn toàn yên vui, là
một điều không thể có được. Nhưng đây chỉ đứng về
mặt tuyệt đối mà nói thôi, còn về mặt tương đối thì
cuộc sống của chúng ta, dù muốn dù không, không thể tách
rời những yếu tố đó. Song, có điều ta cần nhớ là trong
cuộc sống thực tế, dù có đề xướng phương pháp cải
tạo xã hội chẳng qua cũng chỉ nói để mà nói chứ thật
không có cái bản chất cấu tạo. Những nhận xét sai lầm
như trên thạt đã phát xuất từ chỗ không hiểu Phật Giáo
một cách chân chính, mới chỉ nhìn Phật Giáo ở một phương
diện chứ chưa đạt quan toàn diện giáo nghĩa của đức Phật,
vì lòng từ bi, dùng mọi quyển nghi phương tiện, để mục
đích giúp người ta thoát khỏi khỗ não ở thế gian mà sống
cuộc đời yên vui hạnh phúc: đó chính là nỗi bận tâm của
Phật trong suốt cuộc đời Ngài, và cái nền tảng mà trên
đó Phật Giáo được thành lập cũng chính là do lòng từ
bi ấy. Trên thực tế, nhìn vào sự thực lịch sử, giữa
các bậc hiền triết tại Ấn Ðộ đương thời ta có thể
nói đức Phật là nhà đạo sĩ tiếp xúc nhiều nhất với
xã hội hiện thực. Hơn nữa, Phật Giáo tại Ấn Ðộ, Trung
Quốc, Nhật Bản đã có nhiều thời kỳ cực thịnh, mà nguyên
nhân của sự cực thịnh đó không phải chỉ vì cái giá trị
ưu việt về mặt xuất thế, mà thật ra, phần lớn đã vì
cái thác triệt để. Ðó là điều ta cần ghi nhận, trong các
xứ mà Phật Giáo được thịnh hành, các sự nghiệp xã hội
cũng rất phát đạt. Nhìn vào sự thực của lịch sử, ta
thấy điểm này rất rõ ràng.
TIẾT
THỨ MƯỜI :
SỰ
CẢI TẠO TÂM VỚI SỰ BẠT KHỔ DỮ LẠC.
Ðối
với cuộc sống thực tế đức Phật đã đứng trên lập
trường công lợi chỉ bày phương pháp bạt khổ dữ lạc.
Nhưng cái phương pháp đó không phải chỉ nhất diện mà là
đa diện.
Như
đã nói qua nhiều lần, những khổ đau cố hữu của con người
nếu đứng ở một phương diện mà nhìn, tuy nguyên nhân chủ
yếu tựa hồ do sự áp bác của thiên nhiên. Nhưng nếu đứng
ở một phương diện khác mà nhìn, thì ngược lại, cái nguyên
nhân chủ yếu là lòng tham cầu vô hạn của chúng ta không
được thỏa mãn mà sinh ra khổ đau. Dù cho cuộc sống bên
ngoài có đầy đủ mọi tiện nhi, song nếu chúng ta không nhìn
vào tự thể của đời sống nội tâm thì không thể giải
quyết vấn đề một cách rốt ráo. Vả lại, những tiện
nghi của cuộc sống bên ngoài cũng còn tùy thuộc rất nhiều
vào sự vận hành tất nhiên của thiên nhiên, mà sự vận
hành đó còn có rất nhiều bí mật mà chúng ta chưa khám phá
ra. Chưa hết, ngay trong những tổ chức và các cơ cấu xã
hội, ta còn thấy rất nhiều hành vi không hợp lý tính. Cho
nên, muốn cải tạo giá trị của cuộc sống, ngoài việc
thích ứng với hoàn cảnh bên ngoài, ta không thể không hướng
nội để cải tạo bản thân của ta. Ðức Phật tuy có đề
cập đến những phương pháp thông thường ở những lĩnh
vực kinh tế, xã hội v.v… nhưng tiến lên bước nữa, ở
giai đoạn hai, do sự cải tạo tâm tà mà cấu thành phương
pháp bạt khổ dữ lạc: đó mới chính là trung tâm điểm
của Phật Giáo.
Cái
phương pháp để đạt đến sự yên vui triệt để mà Phật
Giáo đề xướng, đại thể có thể chia thành hai loại: phương
pháp tiêu cực, và phương pháp tích cực . Dĩ nhiên, nói một
cách thực tế, hai phương pháp này quan hệ nhau, biểu lý nhau,
nếu tách rời ra thì không thể có ý nghĩa cộng đồng được,
nhưng vì muốn cho tiện việc quan sát nên tạm chia thành hai
phương diện mà thôi.
TIẾT
THỨ MƯỜI MỘT:
SỰ
ỨC CHẾ NHỮNG CẢM GIÁC THAM CẦU VỚI SỰ DIỆT KHỔ.
Trước
hãy nói về mặt tiêu cực. Tiêu cực ở đây có nghĩa là
phải hết sức hạn chế dục vọng của mình, nhất là phải
hạn chế những cảm giác tham cầu. Như đã nói trên, theo
Phật, cái căn nguyên của mọi thống khổ rốt ráo ở như
chỗ không làm thỏa mãn được những dục vọng của chúng
ta, bởi vậy, nếu dục vọng càng nhiều thì trình độ thống
khổ cũng càng tăng. Do đó nếu muốn trừ khử cái căn nguyên
của khổ não tất phải hướng nội để diệt trừ lòng mong
cầu bất hợp lý, nghĩa là những dục vọng không thể thỏa
mãn. Ðó chính là giáo điều Tứ Ðế mà ai cũng biết đã
nói rõ về điểm này.
Thứ
nhất là Khổ Ðế: phê phán giá trị của cuộc sống hiện
thực.
Thứ
hai là Tập Ðế: nói rõ cái nguồn gốc khổ não là ở như
tham dục.
Thứ
ba là Diệt Đế: nêu lên cái lý tưởng diệt khổ.
Thứ
tư là Ðạo Ðế: chỉ bày rõ cái phương pháp diệt khổ.
Ðó là tinh thần thực hành của pháp Tứ Ðế.
Ðức
Phật tán thán sự thanh bần, đề cao sự tri túc, xả ly tất
cả mà sống cuộc đời thư thái, thanh nhàn, an vui tự tại:
đó chính là lý do đã đưa đến chủ nghĩa xuất gia. Nhưng
ở đây có điểm ta cần chú ý là Phật Giáo dù là về mặt
tiêu cực, quyết không bao giờ trừ khử cái dục vọng tầm
cầu chân lý và chính nghĩa. Vì lòng mong muốn đó tuy cũng
gọi là dục, nhưng là Pháp dục, nó nâng cao giá trị cuộc
đời, cho nên dù có phải hy sinh tất cả để mà bao tồn
nó, người Phật tử vẫn sẳn sàng hy sinh. Phật Giáo không
phải vì khiếp nhược mà chủ trương trốn tránh cuộc sống
gay go, đầy phấn đấu. Phật Giáo nói xả ly dục vọng, theo
thuật ngữ là xả ly khát ái, chủ yếu chỉ về mặt ngã
dục. Theo Phật khát ái hay ngã dục, tuy có lúc cũng cảm thấy
được thỏa mãn, nhưng sự thỏa mãn đó tuyệt nhiên không
làm cho giá trị chân chính của cuộc sống con người tăng
thêm. Nhưng trên thực tế, cái tính chất của lòng khát ái
không bao giời có thể làm cho thỏa mãn được, trái lại,
càng tham cầu bao nhiêu nó càng hỏi bấy nhiêu, làm cho con
người truy cầu luôn luôn sống trong trạng thái bất an. Ðức
Phật, với cái trí kiến như thực, Ngài đã thấu suốt điều
đó, nên mới đề xướng Tứ Thánh Ðế dạy người ta, thay
vì chạy theo ngoại cảnh, tìm kiếm hạnh phúc, hãy trở lại
nội tâm, diệt trừ tận gốc những dục vọng không bao giời
thỏa mãn, khiến cho cõi lòng thanh thản, yên tịnh: chính đó
mới là hạnh phúc chân thật.
Nhưng
công cuộc diệt trừkhát ái để tầm cầu pháp dục không
phải là một việc dễ làm, không phải ai ai cũng có thể
thực hiện được, mà trái lại nó vô cùng khó khăn. Tuy nhiên,
như trên đã nói, trèo núi tuy là việc khó khăn, nhưng cứ
từng bước tiến lên đỉnh núi lý tưởng, để cuối cùng
đạt đến cái gọi là là cảnh giới "Pháp hỷ thiền duyệt"
thì đó là cái khó khăn đầy hy vọng và sáng sủa. Do đó,
ngay trong cái khó khăn đã mang sẵn một giá trị sâu xa, ta
có thể nói nó là sự khó khăn rất quang vinh. Ðức Phật
đã ví nó với lòng dũng cảm của một dũng sĩ trên chiến
trường, nhưng sự oanh liệt của kẻ tự thắng lòng mình
lại vẻ vang hơn sự oanh liệt của một dũng sĩ chiến thắng
ngàn quân địch trên bãi chiến.
Vì
không hiểu sự khu biệt giữa khát ái dục, nên nhiều người
không am hiểu Phật Giáo, cho rằng Phật Giáo lấy việc xả
ly tất cả mọi thứ dục vọng, dù tốt hay xấu, làm tôn
chỉ. Ðó là sự nhận xét hết sức sai lầm.
Tóm
lại, sự thỏa mãn tuyệt đối của cảm giác dục vọng chỉ
là một điều không tưởng, vậy cứ cố sức để nắm bắt
lấy cái không tưởng đó mà chuốc lấy phiền muộn tức
là người không đạt quan. Cái cảnh tự do của tinh thần
đó. Nếu ta cứ chấp chặt vào dục vọng vật chất thì quyết
không thể thực hiện được. Cho nên, nếu thật ra muốn có
một cuộc sống yên vui thanh thản, cần phải trừ khử mọi
dục vọng lấy vật chất làm cơ sở. Nếu có một thái độ
như vậy rồi thì sự nghèo cùng, tật bệnh, già và ngay cả
cái chết nữa, đối với ta chỉ là "người gỗ ngắm chim
hoa", tất cả không cho ta bận tâm, phiển muộn: thế giới
siêu nhiên đã hé mỡ mắt ta. Ðó chính là cái phương pháp
bạt khổ dữ lạc ở giai đoạn hai mà đức Phật chỉ dạy.
TIẾT
THỨ MƯỜI HAI :
ÐẠO
BỒ TÁT: PHƯƠNG PHÁP DIỆT KHỔ.
Căn
cứ theo những sự trình bày ở trên, ta thấy cái phương pháp
bạt khổ dữ lạc của Phật Giáo hiển nhiên có hai phương
diện. Thứ nhất đối với thế giới hiện thực, đứng trên
lập trường công lợi, xúc tiến đời sống yên vui, lương
hảo trong gia đình, xã hội và quốc gia. Thứ hai, tiến lên
bậc nữa, dĩ nhiên là khó khăn, cắt đứt căn nguyên của
dục vọng vật chất, không để cho lợi dục chi phối, gây
phiền não, đó là phương pháp tiêu cực.
Phật
Giáo thông thường phân loại gọi phương diện thứ nhất
là đạo tại gia, phương diện thứ hai gọi là đạo xuất
gia. Trong Tôn-nghĩa-học, thì loại thứ nhất gọi là Nhân-Thiên-Thừa,
loại thứ hai là La Hán Thừa (cũng gọi là Thanh Văn Thừa).
Nhưng trong Phật Giáo không phải chỉ dạy có hai đạo trên.
Nếu
chỉ có hai đạo trên thôi tuy cũng có thể được, nhưng nếu
tiến thêm một bước nữa mà khảo sát, chỉ có thể thì
vẫn còn thiếu sót. Vì cứ thực hành theo hai phương pháp
trên đây, tuy cũng thực tế đấy, nhưng vẫn chưa đủ. Bởi
lẽ, một đàng phải thỏa hiệp với cuộc sinh hoạt hiện
thực và như thế tất phải nặng về mặt thế tục. Ngược
lại, một đằng chỉ chuyên trừ khử dục vọng thế tục,
trên thực tế, không những là công việc rất khó khăn, mà
nó còn có vẻ quá tiêu cực, phi xã hội, và thuần túy cá
nhân, nếu lấy nhân loại làm một khối toàn thể mà khảo
sát thì phương pháp này không khỏi có nhiều khuyết điểm
bất ổn.
Như
vậy, vấn đề được đặt ra là có phương pháp nào có thể
chỉ dương, thống hợp cả đạo tại gia và đạo xuất gia
không? Nghĩa là một phương pháp thừa nhận xã hội, khẳng
định nhân sinh mà vẫn thể nghiệm được đạo xuất gia.
Ðáp ứng nhu cầu này mà đề xướng nhân sinh quan tối cao
của Phật Giáo chính Ðại Thừa, hoặc còn được gọi là
đạo Bồ Tát. Ðạo Bồ Tát chủ yếu lấy sinh hoạt tại
gia làm cơ sở mà tu hạnh Bồ Ðề, tức là ở tại gia mà
cầu đạo Giác - ngộ. Dĩ nhiên, nếu đứng về phương diện
đó cũng có nhiều phái biệt, vì thế về nhân sinh quan vị
tất đã đồng nhất.
Vậy
thì, cái phương pháp hay phương châm bạt khổ dữ lạc căn
cứ theo đạo Bồ-Tát này như thế nào? Như đã nói trên kia,
một mặt chúng ta phải sống theo sự vận hành tất nhiên
của thiên nhiên, dù muốn dù không, chúng ta vẫn bị ràng
buộc, không nhiều thì ít, bởi những quy định tất nhiên
của thiên nhiên.
Mặt
khác, đồng thời cuộc sống tinh thần của chúng ta lại đòi
hỏi quán triệt tự chủ, tự do. Nỗi khổ não đặc hữu
của con người chính là ở đó, và dù cho Bồ-Tát đạo cũng
không ra khỏi cái công lệ đó. Bởi vậy, công cuộc giải
phóng tự kỷ thoát khỏi quy định thiên hiên để mở ra cãnh
giới tự do của tinh thần được coi là hạnh phúc tối cao
của con người. Về điểm này, đạo Bồ Tát cũng tương đồng
với đạo xuất gia nói trên, và đây cũng là lý do tại sao
Bồ Tát cũng tán thàn đạo xuất gia.
Nhưng
cái đặc trưng tối đại của đạo Bố-Tát là, trong khi mở
ra cái cảnh giới tự chủ của tinh thần vẫn không xa lánh,
trốn tránh những thống khổ cố hữu của kiếp người. Trái
lại, lấy khổ làm cơ duyên, không xa hơn nữa, còn coi thống
khổ tự nó cũng là yếu tố nằm trong hoạt động tự chủ,
và lấy đó hướng tới lý tưởng vĩnh viễn tối cao. Như
trên kia đã nói, cái sắc thái đặc thù của nhân sinh quan
Phật Giáo là ở ngay trong khổ đau mà tìm ra giá trị, ý nghĩa
tôn giáo và đạo đức. Theo như đạo tại gia và đạo xuất
gia thì, nếu theo phương pháp ấy mà diệt khổ đau, lập tức
hành giả phát hiện ngay trong khổ đau cái lý tưởng vĩnh
viễn tối cao rồi, và đến đây thì không còn gì để tiến
thêm nữa. Ngược lại, theo đạo Bồ Tát, cái giá trị hay
ý nghĩa cuộc đời không phải lấy sự sướng, khổ làm tiêu
chuẩn để phân biệt, mà lấy sự thực hiện sinh mệnh vĩnh
viễn làm lý tưởng tối cao, và lấy đó làm tiêu chuẩn cho
tất cả mọi giá trị. Mà muốn thực hiện điều đó cần
phải vượt qua mọi khổ đau, không lưu tâm tới nó, nhờ
thế mà lý tưởng vĩnh viễn lần lần được thực hiện
từng bước, trái lại thì đành cam chịu khổ đau. Đó là
đặc sắc của đạo Bồ Tát và chính cũng ở điểm này mà
đạo Bồ Tát khác với đạo tại gia và đạo xuất gia. Nói
một cách đơn giản thì đạo Bồ Tát coi giá trị cuộc sống
là ở như chỗ coi thường khổ đau và vui sướng, không để
chúng làm bận tâm, luôn luôn tự chủ cuộc sống. Chính ở
đây mà ta thấy ý nghĩa hay giá trị cuộc đời có hứng thú
là nhờ cái phương châm tích cực vốn là tinh thần căn bản
của đạo Bồ Tát vậy.
TIẾT
THỨ MƯỜI BA :
TINH
THẦN CĂN BẢN CỦA ÐẠO BỒ TÁT.
Như
đã được trình bày nhiều lần, cuộc sống của chúng ta
bên ngoài bị thiên nhiên thúc phọc, bên trong bị ý chí mù
quáng thao túng: đó là điểm xuất phát của nhân sinh quan
Phật Giáo. Nhưng, đồng thời, nói theo tinh thần đạo Bồ
Tát, trong sự thúc phọc đó, con người tự thâm tâm thầm
kín, vẫn hoài bão yêu cầu tự do vĩnh viễn. Và chính cái
tinh thần hoài bão đó là nguồn gốc phát xuất của tất
cả lý tưởng cao thượng và tôn vinh. Cái gọi là Phật tính
Bồ Ðề chẵng qua cũng chỉ là cái tâm căn bản nhiên đó
mà thôi. Yêu cầu giải thoát khỏi sự ràng buộc nội diện
cũng như ngoại diện của đời sống chúng ta rốt cục cũng
chỉ là kết quả tiêu cực của sự phát động Phật tính
đó mà thôi. Cũng như yêu cầu đạt đến cảnh giới Vô-lượng-quan,
Vô-lượng-thọ là kết quả tích cực của sự phát động
Phật tính ấy. Ðó là sự giải thích của Bồ-Tát Thừa.
Tóm
lại, không như các phái Tiểu Thừa, duy lấy việc xã ly tất
cả dục vọng vô hạn _ nguyên nhân của khổ đau_ làm tôn
chỉ, đạo Bồ-Tát, trái lại, còn cố gắng tiến xa hơn,
tùy theo căn bản của dục vọng, muốn phát hiện cái căn
cứ lý tưởng tối cao của con người: điểm này được gọi
là khế cơ điểm của Ðại Thừa.
Ðến
đây vấn đề được nêu ra là, đạo Bồ-Tát thực hiện
lý tưởng đó như thế nào? Nếu phân biệt cho rõ ràng và
tường tận, thì đặc trưng trọng yếu nhất của đạo Bồ-Tát
là sự nghiệp tự lợi, lợi tha. Nói cách khác, nếu tự mình
muốn đạt đến lý tưởng giới thì tất phải đưa người
khác cũng đạt như mình; và đưa người khác đạt đến lý
tưởng giới tức là chính mình đạt đến vậy. Ðương nhiên,
nói một cách thực tế, trước phải tự cứu mình rồi sau
mới cứu người được, đó là lẽ thường, thế nhưng đứng
về mặt thệ nguyện mà nói, thì thay vì, vì mình, trước
hết phải vì người: đó là tâm từ bi và hạnh từ bi của
Bồ-Tát. Mà điều này không phải là chủ trương bác ái,
mà là kết quả tất nhiên phát xuất từ căn bản của đạo
Bồ-Tát. Do đó, trong cái lý tưởng sinh mệnh vĩnh viễn vô
hạn (Phật tính xuất phát từ đạo Bồ-Tát, bao hàm
một ý nghĩa thống nhất tất nhiên, mà trong sự thống nhất
đó tất nhiên phải bao hàm hết thảy chúng sinh. Cho nên, nếu
chỉ hoàn thành cái ta nhỏ nhoi của mình mà không hoàn thành
cho kẻ khác, thì cái lý tưởng kia vẫn chưa được thực
hiện một cách trọn vẹn. Ðiều kiện tiên quyết để thực
hiện lý tưởng tối hậu kia là phải cùng với tất cả chúng
sinh cùng tiến tới, nếu không, cái mục đích đó không thể
đạt tới được: đó là tinh thần căn bản của đạo Bồ-Tát.
Trong đạo Bồ Tát thường nhấn mạnh tiêu ngữ "Thượng cầu
Bồ Ðề, hạ hóa chúng sinh. Trên cầu đạo Giác Ngộ, dưới
hóa độ chúng sinh" thật đã hoàn toàn biểu hiện tinh thần
đó.
TIẾT
THỨ MƯỜI BỐN :
BỒ
TÁT ÐẠO VỚI TỊNH ÐỘ.
Xuất
phát từ tinh thần trên, đạo Bồ-Tát lấy việc kiến thiết
Tịnh Ðộ để nâng cao lý tưởng Bồ-Tát. Sánh với Tiểu
Tiểu (Tiểu Thừa không nói đến Tịnh Ðộ), đây là một
đặc trường của đạo Bồ-Tát.
Lý
tưởng của Tiểu Thừa, như đã nói ở trên, hoàn toàn siêu
việt, vả lại có tính cách hoàn toàn cá nhân, cho nên tất
không cần dự tưởng Tịnh Ðộ có tính cách đoàn thể. Trái
lại, đạo Bồ-Tát nếu muốn thực hiện lý tưởng tối cao,
tất phải cùng với chúng sinh cùng tiến, cho nên ở đây tất
nhiên cần phải nói đến Tịnh Ðộ, hoặc Phật Ðộ, tức
là lý tưởng đó đã trở thành xã hội hóa. Theo ý nghĩa
này, ta có thể nói nếu xa lìa tư tưởng Tịnh Ðộ thì tư
tưởng Bồ-Tát cũng mất ý nghĩa.
Vậy
thì, theo đạo Bồ-Tát, Tịnh Ðộ phải được kiến thiết
như thế nào? Nếu giải thích một cách tổng quát thì đạo
Bồ-Tát hoàn thành tư tưởng về các đức Phật. Chẳng hạn,
phương Tây có Phật A- Di-Ðà, phương Ðông có Phật A-Sơ v.v…,
do lòng từ bi và nguyện lực của các Ngài, nếu chúng ta trì
niệm danh hiệu, sẽ được các Ngài tiếp dẫn về các phương
đó. Tư tưởng Tịnh Ðộ này đã được hoàn thành rất sớm
và rất có thể lực trong Phật Giáo. Song đây mới chỉ là
một loại Tịnh Ðộ quan chứ chưa thể nói là toàn thể được.
Tịnh Ðộ tư tưởng tuy phổ biến rất rộng và rất mạnh,
nhưng nếu lại tiến đến lĩnh vực luân lý của đạo Bồ-Tát,
thì không những có thể vãng sinh Tịnh Ðộ, mà tiến lên
bậc nữa tự mình có thể thành Phật, do đó có thể cấu
tạo thành Tịnh Ðộ mới. Vì mỗi người đều có Phật tính,
mỗi người đều có thể thành Phật để có khả năng tính
cấu thành Tịnh Ðộ mà thực hiện Tịnh Ðộ.
TIẾT
THỨ MƯỜI LĂM :
THẾ
GIỚI LÝ TƯỞNG VÀ TỊNH Ðộ.
Nhận
xét theo lập trường trên, chúng ta muốn đạt đến Tịnh
Ðộ, nhưng thật thì vẫn chưa hoàn thành được, cho nên,
phải sáng tạo Tịnh Ðộ ngay ở hiện tại và lấy đó làm
xuất phát điểm để kiến thiết Tịnh Ðộ.
Phật
A-Di-Ðà cấu tạo Tịnh Ðộ ở phương Tây, Phật A-Sơ cấu
tạo Tịnh Ðộ ở phương Ðông để tiếp dẫn chúng ta. Chúng
ta ở thế giới Sa Bà này vẫn chưa đạt đến cái đương
thể chân thực. Song đức Phật cũng muốn tạo thế giới
Sa Bà này thành cảnh Tịnh Ðộ. Như trong các kinh, Phật nói:
" Sa-bà tức là Tịnh Quang, Tịnh Ðộ"; "Cực Lạc cách đây
không xa"; "Trong cõi nước yên ổn này của ta, Trời người
thường được sung mãn" v.v… đều là những chứng minh cụ
thể. Ðương nhiên, từ trước đến nay, những câu Phật nói
trên đây thường được giải thích cho là quan niệm giới
thuộc phần "tự nội chứng". Sự giải thích này tuy không
trái với ý của Phật, nhưng theo tôi những câu trên vẫn
mang một ý nghĩa hiện thực.
Tóm
lại, từ trước đến nay, phần nhiều người khi giải thích
về giáo pháp của Phật thường hay ngừng lại ở quan niệm
giới, mà lơ là phương diện cụ thể hóa thực tế của giáo
pháp. Tôi không dám phủ nhận Phật Giáo con có nhiều phương
diện khác, nhưng nếu chỉ dừng ở điểm quan niệm giới
thì cái chân ý của Phật Giáo vẫn chưa được phát huy một
cách triệt để. Dĩ nhiên, nếu ta muốn kiến thiết Tịnh
Ðộ, tinh thần tuy là nền tảng, nhưng có điều cần phải
hiểu là nếu không đem nó mà cụ thể hóa về phương diện
khách quan thì cái ý nghĩa về Tịnh Ðộ phổ biến không thể
được hoàn thành. Cái đặc trưng của Tịnh Ðộ tôi cho rằng
cần phải được nhận định về mặt cụ thể. Tịnh Ðộ
chân chính tuy đều là lý tưởng lớn, tinh thần lớn, nhưng
nếu không thể hiện cái đương thể của nó về mặt vật
chất khách quan thì không thể được. Vả lại, nếu chiếu
theo giáo lý nhất ban của Phật Giáo, thì Phật Giáo cũng không
đặc biệt phân chia vật chất và tinh thàn một cách cực
đoan, mà trái lại, lấy chủ trương "thân, tâm bất nhị _thân,
tâm là một" làm đặc trường. Vì thế, cuộc sống tinh thần
chân chính trong Phật Giáo tất phải biểu hiện ra thân thể
để thể hiện thành hành vi. Nếu nói một cách rộng rãi,
thì hoạt động tinh thần cần phải được vật chất hóa.
Nhất là đạo Bồ-Tát, vì sống ngay trong thực tế mà mong
cầu thực hiện đại lý tưởng, cho nên Tịnh Ðộ đáo cùng
phải lấy cụ thể làm bản chất.
Vậy
thì, Tịnh Ðộ lý tưởng trong tương lai cần phải được
kiến tạo trên nền tảng đó.
TIẾT
THỨ MƯỜI SÁU :
SỰ
KIẾN THIẾT TỊNH ÐỘ VỚI LUÂN HỒI .
Tịnh
Ðộ cụ thể quyết không thể trong một sớm một chiều có
thể hoàn thành được (Rome was not built in a day). Do đó, dù
là một vị Bồ-Tát cũng không thể hoàn thành Tịnh Ðộ trong
hiện tại hoặc tương lai gần mà cần phải phát nguyện thực
hiện trong bất kỳ thời gian lâu xa nào. Chúng ta sinh ra rồi
chết đi, bỏ thân này chịu thân khác, sống trong vòng luân
hồi vô cùng tận, cho nên cái nỗ lực kiến tạo Tịnh Ðộ
củng không bao giời dừng nghĩ.
Phật
Giáo thông thường có câu "Liễu sinh tử, đắc Niết-Bàn,
rõ được sinh tử tức chứng Niết Bàn”, nhưng nếu sinh
tử được hiểu là hoạt động thái và lấy Niết Bàn là
Tịch tĩnh thái, và lấy Niết -Bàn làm tự mãn, thì đối
với những người ấy, cần phải cảnh giác. Nếu chỉ lấy
sự tự cứu mình làm mục đích, điều đó nên hay không,
ta không biết, nhưng nếu nói đến tinh thần đạo Bồ-Tát,
cùng với tất cả chúng sinh cùng chung kiến tạo thế giới
Tịnh Ðộ, không một mình xả ly uế độ để sống yên tịnh
trong Niết-Bàn : đó là mục tiêu của đạo Bồ-Tát là thề
cùng với chúng sinh lăn lộn trong vòng luânhồi, sinh tử, kiếp
này qua kiếp khác, từng bước từng bước tiến lên, nhất
định khi nào thực hiện được lý tưởng tối cao mới thôi.
Trong
giáo nghĩa học Phật Giáo nói về Bồ Tát: "Tự nguyện vào
ác thú", có thể chứng Niết-Bàn rồi, nhưng lại tình nguyện
ở lại trong sinh tử, Thệ nguyện hết thảy chúng sinh thành
Phật, nhưng mình không thành Phật vội. Cho đến Niết-bàn
của Bồ Tát cũng an trụ trong hoạt động, cũng là Bất trụ
Niết-Bàn: tất cả ý nghĩa trên đây đều biểu diễn cái
chí nguyện vị tha của đạo Bồ-Tát. Không những thế, ngay
việc niệm Phật để cầu vãng sinh Phật quốc theo tinh thần
của đạo Bồ Tát, ý nghĩa vãng sinh cũng rất hạn định.
Giả sử vãng sinh có nghĩa là đi luôn một mạch không trở
lại, thì đó là quan niệm chán ghét cõi uế độ này, muốn
được sớm vào cõi Niết-Bàn tịch tĩnh vô vi của Tiểu Thừa
La Hán: như thế là đã đi ngược lại tinh thần đạo Bồ-Tát.
Có vãng sinh Cực Lạc nhưng cũng có hồi chuyển Sa Bà, trong
quan niệm đó, người đã được vãng sinh trở về, lấy chân
tướng Cực Lạc làm mô hình, nổ lực cực lạc hóa Sa Bà,
đó mới là ý nghĩa vãng sinh chân chính.
TIẾT
THỨ MƯỜI BẢY : KẾT LUẬN.
Tóm
lại, nói theo tinh thần đạo Bồ-Tát, muốn thoát khỏi khổ
đau, không thể chán ghét khổ đau, không thể xa lìa những
hoạt động trong luân hồi giới mà thiên cầu tịch tịnh;
không thể gác bỏ vật chất giới ra ngoài mà chỉ lấy việc
an trụ cô lập trong hoạt động tinh thần làm lý tưởng.
Mục đích của chúng ta trước sau vẫn là cụ thể hóa sinh
mệnh vĩnh viễn, mà điều đó không phải chỉ hạn cục ở
cảnh giới "tự nội chứng" mà phải cùng với hết thảy
chúng sinh thực hiện nó về mặt khách quan. Và trong quá trình
tiến tới mục đích đó, về phương diện cảm giác, có khổ,
có sướng, hoặc khổ nhiều, sướng ít hay ngược lại, chúng
ta đều thản nhiên, không bận tâm, không để khổ, vui chi
phối, vượt lên tất cả để chỉ nổ lực vào công cuộc
kiến thiết Tịnh Ðộ.
Như
vậy, bất cứ một công việc gì chúng ta thực hiện, nhất
nhất đều là một bộ phận trong công cuộc kiến tạo Tịnh
Ðộ, và như thế cuộc sống của ta mới thật sự thống
nhất, và cái ý nghĩa hay giá trị của sự sinh tồn mới có
được một căn cứ chân chính.