12.
Kết luận về số mục Bản Nguyện.
Trở
lên ta đã thấy nguồn gốc chủ yếu của tư tưởng bản
Nguyện và sự khai triển theo thứ tự của nó, nhưng theo văn
hiến Bản Nguyện trong Phật Giáo, ta quyết chưa thể biết
hết được. Ngoài những trào lưu kể trên còn có rất nhiều
thuyết Bản Nguyện khác nữa, hoặc là bàng hệ hay là hậu
kế của những trào lưu đó, như: Bản Nguyện Di Lặc, Bản
Nguyện văn Thù, Phổ Hiền, bản Nguyện Quan Âm, Dược Sư,
v.v… chính là thuộc về loại này. Nhất là kinh Văn Thù Sư
Lợi Phật Ðộ Nghiêm Tịnh (hai quyển, do Trúc Pháp Hộ dịch),
dự tưởng Bản Nguyện A-Sơ và Di Ðà, tuy không thành công
mấy, nhưng mục đích là muốn vượt hẳn A-Sơ và Di Ðà.
Ngoài ra, kinh Bi Hoa, theo một ý nghĩa nào đó, có thể cho là
Bản Nguyện Tùng Thư, đối với mối quan hệ của tư tưởng
Bản Nguyện, đã sưu tập tất cả những Bản Nguyện từ
trước để mong điều hòa. Do đó, 500 Bản Nguyện của Thích-Ca
cũng được ghi vào kinh này (500 Bản Nguyện Thích-Ca đại
khái muốn phỏng theo 500 chủ đề trong kinh Bản Sinh mà thành
lập thuyết Bản Nguyện). Nếu muốn nghiên cứu một cách
cùng cực tư tưởng Bản Nguyện, ta đọc tất cả các văn
hiến để tìm hiểu mối tương quan của nó, nhưng theo chỗ
tôi nghiên cứu, tất cả các kinh văn có liên quan đến tư
tưởng này, về khí phách cũng như về quy định số mục,
bất luận thuộc trào lưu nào, đều không có được tinh thần
nhất quán, đó là một sự thật. Sau đây xin tóm tắt sự
nghiên cứu về tư tưởng Bản Nguyện và sự triển khai của
nó trong mấy điểm.
1.
Tư tưởng Bản Nguyện tuy đến thời kỳ Ðại Thừa mới
thật sự phát triển mạnh nhưng nó đã bắt nguồn và nảy
nở từ thời kỳ Phật Giáo Nguyên thủy, và đặc biệt có
liên quan rất mật thiết với Bản Sinh Ðàm.
2.
Khai triển từ tư tưởng Lục Ba Mật trong Bản Sinh Ðàm rồi
để thích ứng với Lục Ba La Mật mà phát khởi tư tưởng
Lục Nguyện.
3.
Lấy tư tưởng Lục Nguyện làm nguyên hình, Bát-Nhã Giáo hệ
thay nhau triển khai số mục Bản Nguyện, cứ mỗi lần triển
khai lại thêm lên sáu nguyện, cho đến cuối cùng đã đạt
đến con số tột đỉnh là 48 Nguyện của Tịnh Ðộ Giáo
hệ.
4.
Xét về nội dung tư tưởng, lúc đầu tuy không phải chỉ
lấy tội lỗi hoặc khổ nạn có tính cách tiêu cực làm mục
tiêu, nhưng dần dần đã đi đến chỗ tích cực hóa, lấy
văn hóa, đạo đức và nghệ thuật làm nội dung Bản Nguyện.
5.
Bản Nguyện là cái phương châm hay cái đồ án kiến thiết
Tịnh Ðộ, bởi thế, sự khai triển của tư tưởng Bản Nguyện
đáo cùng chẳng qua cũng chỉ là sự phát đạt của quan niệm
về một quốc gia lý tưởng của Phật Giáo mà thôi.
TIẾT
THỨ BA:
Ý
NGHĨA ÐẠO ÐỨC, VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO TRONG TƯ TƯỞNG BẢN
NGUYỆN.
1.Nhận
Xét Tư Tưởng Bản Nguyện Theo Ba Phương Diện.
Bản
Nguyện chủ yếu là lời thề tự mình làm cho mình trở nên
hoàn toàn, đồng thời cũng làm cho người khác cũng trở nên
hoàn toàn như mình. Nó là cái nguyện vọng muốn thực hiện
một xã hội lý tưởng trên toàn thế giới trong hiện tại
và cả trong tương lai. Mà những số mục Bản Nguyện, như
đã kể trên, chẳng qua cũng chỉ là cái quy định muốn đem
thể hiện cái xã hội lý tưởng đó khắp bốn phương, tám
hướng mà thôi. Giả sử bảo đây chỉ là một ảo tưởng
cũng được đi, nhưng mà nhân loại sống trong thế giới hiện
thực đầy khổ đau cũng có lúc mơ ước, mặc dầu chỉ là
một ảo tưởng, đến một cảnh giới lý tưởng, và nếu
vậy thì đó là cái nguyên động lực làm cho con người phát
triển hướng thượng. Nếu thế, ở đây theo một ý nghĩa
nào đó, ta có thể tìm thấy trong Bản nguyện một tinh thần
chỉ đạo văn hóa tối cao. Một điểm rất thích thú là trong
những Bản Nguyện không phải chỉ nói đến quốc độ Phật
ở các phương khác xa xôi, mà ngay trong thế giới hiện thực
này cũng có nhiều chỗ muốn cải tạo nó thành một thế
giới tốt đẹp. Nếu phê phán theo điểm này, thì ngoài lý
tưởng tôn giáo ra, ta còn có thể nhận thấy ý nghĩa văn
hóa sống động trong các Bản Nguyện.
Tóm
lại, trên kia tôi mới chỉ nói qua về lịch sử khai triển
của Bản Nguyện chứ về phần nội dung tư tưởng chưa khảo
sát được một cách có tổ chức, bởi thế ở đây cần
phải đi sâu vào tư tưởng Bản Nguyện. Và để tiện cho
việc khảo sát, ta hãy đứng trên ba lập trường đạo đức,
văn hóa (theo nghĩa hẹp) và tôn giáo mà nhận xét. Cuối cùng,
ta phải giải thích ý nghĩa tư tưởng Bản Nguyện như thế
nào cho quán thông tinh thần Phật Giáo và phù hợp với những
lập trường phổ biến để có thể đi đến kết luận.
2.Nhận
xét theo phương diện Ðạo Ðức:
Ở
đây không phải tôi đề cập đến sự quan hệ căn bản giữa
tôn giáo và đạo đức. Phật Giáo, ngay từ đầu, đã là
một tôn giáo mà sắc thái luân lý sâu đậm, điều đó tưởng
không cần nhắc lại người ta mới hiểu. Các học giả Tây
Phương có người dịch thuật ngữ "Chuyển Pháp Luân" (Dhammacakka
Pavattana_ cuộc thuyết pháp đầu tiên của đức Phật) ra tiếng
Anh là "Sự kiến thiết Vương Quốc Chính Pháp". Cách dịch
này, ở nhiều điểm rất có ý vị. Trên thực tế, đức
Phật chính là một vị Pháp Vương muốn xây dựng một Vương
Quốc Chính Pháp. Ðưa cái lý tưởng Vương Quốc Chính Pháp
đó đến cực độ mà phác họa nó thành cụ thể chính là
thuyết Tịnh Ðộ. Tịnh Ðộ tuy có nhiều đặc tướng, nhưng
cái đặc tướng hiển trứ nhất là sự hoàn bị trật tự
đạo đức. Ðiều này cứ nhìn ngay vào danh hiệu của các
vị lập Bản Nguyện cũng đủ rõ. Tiền thân của Phật Di
Ðà được mệnh danh là Dharma_akara, nếu dịch theo nghĩa đen
là Thụ Pháp (truyền trao giáo pháp) còn theo ý nghĩa dịch
bóng là Pháp Tạng hoặc là Tác Pháp; rồi như A-Sơ (Aksodhya)
dịch là Bất Ðộng; Di Lặc (Maitreya) dịch là Từ Bi v.v…
tất cả những ý nghĩa trên đây đều lấy trật tự hoặc
tình thái đạo đức để biểu dương Bản Nguyện của các
vị lập thệ nguyện. Hơn nữa, nếu nhìn vào phần nội dung
của Bản Nguyện, ta thấy trong bất cứ Bản Nguyện nào cũng
vậy đều ám chỉ điểm này: về phương diện tiêu cực,
ngăn ngừa mọi việc bất chính, gian ác; về phương diện
tích cực, khuyến khích mọi người cùng tiến đến đạo
đức. Bởi thế điều kiện tiên quyết của Tịnh Ðộ là
phải thực hiện đạo đức trong xã hội, đó là một sự
thật hiển nhiên.
Ở
đây, trước hết hãy đứng trên lập trường thống trị
để nhận xét. Lý tưởng của Ðại Thừa Phật Giáo dĩ nhiên
tuy muốn thống nhiếp toàn vũ trụ thành một pháp giới, thế
nhưng, cứ nhìn vào nội dung của Bản Nguyện trên kia, ta sẽ
thấy Tịnh Ðộ quyết không phải là duy nhất. Ở phương
Tây có thế giới Cực Lạc, ở phương Ðông có A-Sơ Phật
Quốc, như vậy ta thấy các cõi Tịnh Ðộ cũng chỉ là tương
đối quan hệ rất mật thiết, lấy việc giao thiệp hỗ tương
và bất tuyệt về mặt tôn giáo và đạo đức làm lý tưởng.
Ðiều này ta thấy được ghi chép rất rõ trong các kinh điển
nếu ở một cõi Phật này có đại sự xảy ra (như cuộc
đại thuyết pháp chẳng hạn) thì các cõi Phật khác đều
có phái sứ giả đến để tùy hỷ và tán thán. Nhất là
trong 48 Nguyện Di Ðà, Nguyện thứ 23 (Phạm ngữ, thứ 21) Nguyện
được cúng dường chư Phật ở mười phương; nguyện 40 (Phạm
ngữ, thứ 38) nguyện được thấy các cõi Phật ở mười
phương; rồi đến Nguyện 42 và 45 (Phạm ngữ thứ 40 và 43)
thì nguyện lúc nhập định được thấy và cung kính chư Phật.
Trong tất cả các nguyện đó ta thấy đều biểu dương ý
nghĩa lấy sự liên kết quan hệ giữa các cõi Tịnh Ðộ.
Do đó, tuy có những Tịnh Ðộ đối lập nhau, nhưng nếu xét
về tinh thần Bản Nguyện, thì đó chẳng qua chỉ khác biệt
về cái gọi là hành chính mà thôi, và tuy có ít nhiều sự
bất đồng về đặc sắc văn hóa, nhưng đến mối quan hệ
hỗ tương thì tuyệt nhiên không có ý nghĩa xung đột nào
cả. Về sau Mật Giáo lấy Ðại Nhật Như-Lai làm trung tâm,
thống nhất các cõi Phật thành một Ðại Mạn Ðà La (Ðại
quốc độ): Tây phương Cực Lạc, Ðông phương Phật độ:
tất cả không ngoài chủng tướng của Mạn Ðà la. Chủ trương
này thật đã là kết quả của sự quan hệ giữa các cõi
Phật đã đạt đến điểm cực độ.
Nhưng
bất luận nói cách nào đi nữa hiển nhiên ta thấy về mặt
biểu hiện vẫn có những Phật độ đối lập nhau. Như vậy,
người thống suất trong những Phật độ đó là ai? Dĩ nhiên
, người ấy là một đức Phật đặc định, tức là người
đã tạo dựng nên Tịnh Ðộ đó. Chẳng hạn, Cực Lạc thế
giới là Phật Di Ðà và nước Diệu-Hỷ là Phật A-Sơ. Mà
trong một Tịnh Ðộ tất chỉ do một đức Phật chi phối
chứ quyết không có hai Phật cùng xuất hiện: đó là cái
quy định thông lệ của tất cả các cõi Tịnh Ðộ. Về tinh
thần căn bản (tổng nguyện) thì các Tịnh Ðộ vốn là nhất
trí, thế nhưng phải chia ra nhiều là vì mỗi vị Phật đều
có những biệt nguyện đặc tịnh theo đó mà kiến thiết
Tịnh Ðộ của mình, và nếu đã có những biệt nguyện khác
nhau thì đương nhiên không thể có hai Phật cùng xuất hiện
ở một cõi. Ðến như vua chúa thế tục cũng không được
tham gia vào việc điều khiển Tịnh Ðộ. Ðiều này đã được
nói rất rõ trong Bản Nguyện A-Sơ (Nguyện 18) và Bản Nguyện
Ðại Phẩm Bát-Nhã (Nguyện 15): " Nguyện trong cõi nước không
có danh hiện Vương giả mà chỉ có danh hiệu Pháp Vương".
Mới nhìn qua, kết luận trên đây có vẻ như cực đơn giản,
nhưng thật ra, về mặt lịch sử, nó đã trải qua một quá
trình khai triển của tư tưởng rất lý thú, cho nên ở đây
cần phải nói rõ thêm một chút nữa.
Trước
hết hãy nhận xét về phương diện tư tưởng Nhất Phật:
Từ Nguyên thủy Phật Giáo đến Tiểu Thừa Phật Giáo tuy
thừa nhận có nhiều Phật kế tiếp ra đời, nhưng không thừa
nhận sự xuất hiện của hai Phật cùng một lúc, đó là đặc
trưng lớn về Phật đà quan. Song đến Ðại Thừa, vì những
lý do đã nói ở trên, lại thừa nhận có nhiều Phật đồng
thời tồn tại và giữa chư Phật có sự giao thiệp hỗ tương.
Nhưng ở đây một vấn đề nan giải được đặt ra là: nếu
chư Phật Thế Tôn cùng thống lĩnh việc giao hóa trong một
quốc độ thì giữa các đức Phật, không nhiều thì ít, cũng
có sự bất đồng và như thế sẽ không tránh khỏi xung đột,
còn nếu hết thảy chư Phật là đồng nhất thì tại sao lại
phải lập nên nhiều Phật? Do đó, cuối cùng đã phải đưa
đến kết luận như thế này: như đã nói trên kia, về phương
diện tổng nguyện thì chư Phật tuy là nhất trí, nhưng về
phương diện biệt nguyện thì mỗi Phật một quốc độ riêng.
Ở đây, ứng dụng chủ nghĩa Nhất - Phật của Tiểu Thừa
vào việc thành lập chủ nghĩa Ða - Phật thật là một kết
quả khổ tâm.
Thứ
đến, hãy nhận xét về quá trình bài xích Vương hiệu: trừ
thời đại A - Dục - Vương (Ashoka), nền chính trị của Ấn
Ðộ thuở xưa do các lãnh chúa khống chế. Bọn này tuy cũng
xưng vương nhưng không bao giờ thực hành Vương đạo, họ
chỉ mưu đồ và bảo vệ quyền lợi của chính họ bằng
cách áp chế và bóc lột dân chúng, do đó đối với nhà vua,
dân chúng rất sợ hãi và kinh tởm. Chính vì lẽ dó mà trong
kinh Phật nạn vua được nói đến sau nạn lửa, nạn nước
và nạn giặc cướp. Ðể bổ sung cho điều này, Phật Giáo
đề cao cái gọi là Chuyển Luân Thánh Vương. Nghĩa là một
vì vua lý tưởng lấy Chính Pháp làm quyền uy, thống nhất
thiên hạ trong hoà bình và khiến cho nhân dân phồn vinh hạnh
phúc. Phật Giáo đã thu dụng lý tưởng đó dưới nhiều hình
thức. Trước tiên là từ ngữ:" Chuyển Pháp Luân", từ ngữ
này thật đã phát xuất từ tình hình thống trị của Chuyển
Luân Vương. Nghĩa là sứ mệnh hoặc sự tự giác của đức
Phật là đem cái lý tưởng Chuyển Luân Vương lấy Chính Pháp
thống trị bốn biển ứng dụng vào tinh thần giới. Tư tưởng
Pháp Vương trong Tịnh Ðộ cũng đích thực là cái tinh thần
đó được nhân cách hóa. Do đó mà tiểu Vương cũng muốn
siêu việt hẳn Luân Vương bằng Bản Nguyện trong nước không
có danh hiệu vua chúa. Rồi muốn ứng dụng tinh thần đó ngay
trong chính trị thực tế thì ta thấy ở Ấn Ðộ bắt đầu
từ A Dục Vương, rồi đến Trung Quốc và Nhật Bản đã trở
thành lý tưởng Ðế Vương trong Phật Giáo. Nhất là tại
Nhật Bản, như Thượng Cung Pháp Vương Thái Tử muốn lấy
tinh thần Ðại Thừa Phật Giáo làm nền tảng cho chính trị.
Rồi
như Thánh Vũ Ðế thời lại muốn lấy tinh thần Vô tận duyên
khởi trong Hoa Nghiêm làm giềng mối cho chính trị: đây có
thể nói là nỗ lực muốn thực hiện lý tưởng Pháp Vương
ngay trên trái đất này!
Thứ
nữa, ta hãy xét xem cái trạng thái đạo đức của quốc dân
bị chi phối trong cõi Pháp Vương đó ra sao. Ðương nhiên,
về mọi phương diện các đoàn thể nhân dân đều hướng
đến việc hoàn thành đạo đức tối cao. Ðã nói là Pháp
Vương thì tất không còn bị khống chế bởi bất cứ một
thứ pháp luật nào khác. Tự mình đã là người hoàn toàn,
lại khiến cho tất cả mọi người đều trở nên hoàn toàn,
do đó nếu đạo đức (tôn giáo) không đựơc hoàn thành thì
tịnh Ðộ sẽ mất hẳn ý nghĩa tồn tại. Bởi thế, mối
quan hệ hỗ tương giữa dân chúng, ngoài sự sai biệt độc
nhất là có người giác ngộ trước, có người giác ngộ
sau, ra trước Phật và Pháp thì hoàn toàn được bình đẳng
chứ không có những bất công như trên trái đất. Một điều
đặc biệt thích thú là có nhiều Bản Nguyện cực lực chủ
trương lý tưởng nhân chủng bình đẳng và đả phá giai cấp.
Nguyện thứ 6 trong kinh A-Sơ nói: “Nguyện trong cõi nước
ta không có ai mang mầu sắc xấu xí”; Nguyện thứ 14 trong
Đại Phẩm Bát Nhã nói: “Nguyện nhân dân trong nước không
có sự bất đồng về sắc tướng”; rồi Nguyện thứ 3 trong
Đại Kinh thì nói: “Nguyện cho nhân dân trong nước đều
một sắc vàng” v.v…những nguyện trên đây cùng một chủ
ý, nghĩa là muốn thủ tiêu chế độ phân biệt chủng tộc
để thực hiện lý tưởng nhân chủng bình đẳng trong cõi
Tịnh Độ. Lại như nguyện 12 và 13 trong Đại Phẩm Bát Nhã
nói không có sự phân biệt bốn giai cấp, không có thượng,
trung, hạ sai khác; và nguyện thứ 4 trong Đại Kinh thì nói
không có sự sai biệt về cõi trời, cõi người v.v…tát cả
Bản Nguyện đó đều mang chung một ý thức, nghĩa là cùng
muốn hủy bỏ sự phân biệt giai cấp. Do đó, trong Tịnh Độ
nếu không có sự tranh chấp về nhân chủng vàng, trắng, đen
thì tất nhiên cũng không còn những cuộc đấu tranh giai cấp,
tự nhiên lòng người sẽ dung hợp, nhất trí, tất cả đều
coi nhau như cha mẹ, anh em (Đại Phẩm Nguyện thứ 3), chung
sống trong hòa bình, chỉ vui cùng Đạo và sống theo Đạo.
Nhất là trong cõi Tịnh Độ cuộc sống rất thư thái vì tất
cả đều đã được dự liệu (Nguyện y thực và trụ trạch
tự nhiên thành tựu). Thêm vào đó, trong Tịnh Độ chỉ có
một vị Pháp Vương chi phối cho nên không có những tà
thuyết dị đoan (A-Sơ Nguyện thứ 9), bởi thế không có sự
bất ổn về kinh tế và sự chia rẽ về tư tưởng là những
cái vốn làm cho nhân tâm ly tán và gây nên nhiều bất công
trong xã hội. Còn về vấn đề ngôn ngữ trong những Bản
Nguyện trên tuy không cho thấy một quy định đặc biệt nào,
nhưng đến thời kỳ Di Lặc ra đời thì lúc đó "chỉ có
một thứ ngôn ngữ" mà thôi. Như vậy, dĩ nhiên trong Tịnh
Ðộ sẽ không còn sự phiền phức về vấn đề ngôn ngữ
bất đồng.
Những
ý niệm trên đây tuy chỉ là không tưởng, nhưng nếu đối
chiếu với cuộc sống thực tế của xã hội thời bấy giờ
thì ta thấy Ấn Ðộ thật đã có nhiều chủng tộc nhiều
giai cấp (bốn giai cấp) và nhiều ngôn ngữ, Nếu ta khảo
sát đến tình trạng phân hóa của xã hội đương thời thì
ta sẽ thấy những lý tưởng trên đây của Phật Giáo thật
đã có một ý nghĩa phản kháng mãnh liệt và sâu xa.
Nói
theo Phật thì cái nguyên động lực tạo thành xã hội lý
tưởng trên đây vốn là Bản Nguyện nghiệp lực của đức
Phật, nhưng điều ta nên ghi nhớ là dân chúng trong xã hội
đó ai cũng nghiêm tốn (Ðại phẩm Bát-Nhã Nguyện 27), không
có tư dục (Ðại phẩm Nguyện 11, A-Sơ Nguyện 7), an trụ nơi
chính niệm (Ðại phẩm Nguyện 5, 6), thường hành tinh tiến,
tự mình phản tỉnh để làm cho tâm tương ứng với lý tưởng
tối cao, tất cả những đức tính ấy, ngoài Bản Nguyện
của Phật, cũng là những yếu tố quan trọng để tạo nên
một xã hội lý tưởng. Tóm lại, theo một ý nghĩa nào đó
thì Tịnh Ðộ quan của Phật Giáo lấy việc tự giác, thanh
tịnh hóa tự kỷ làm cơ sở và điểm xuất phát để cấu
tạo.
Tóm
lại, nhận xét về phương diện đạo đức thì lý tưởng
Tịnh Ðộ lấy giá trị nhân cách bình đẳng làm nền tảng,
kết hợp giữa người giác ngộ trước và người giác ngộ
sau cùng với những người chưa giác ngộ, và lấy chính nghĩa,
từ bi, tinh tiến làm những yếu tố thống trị. Nếu đứng
ở một phương diện mà nói , như thế tuy đã đạt đến
trạng thái hoàn toàn, nhưng nếu đứng về phương diện lấy
việc hoàn thành vô cùng làm lý tưởng mà nhận xét thì Tịnh
Ðộ làm điều kiện trọng yếu. Và điểm này, theo tôi, là
một đặc trường lớn của Phật Giáo, bởi lẽ trong các
Thần độ quan của những giáo phái đương thời tại Ấn
Ðộ đều cho Thần Ðộ là nơi để hưởng lạc.
3.Nhận
xét theo phương diện Văn Hóa.
Tịnh
Ðộ không những là một nơi hoàn bị về đạo đức mà đồng
thời về phương diện sinh hoạt văn hóa cũng rất hòan bị.
Ðiều này tuy cũng tùy theo sự triển khai của tư tưởng Bản
Nguyện mà dần dần được biểu hiện, nhưng có điểm cực
kỳ thú vị là trong đó có nhiều chỗ rất gần với những
sự thi thiết văn hóa hiện đại.
Trước
tiên, hãy nhìn vào khía cạnh toàn thể của Tịnh Ðộ. Lĩnh
vực của Tịnh Ðộ rất rộng lớn, điều này đã được
nói đến trong Ðại Phẩm Bát-Nhã (Nguyện 29) và trong các
Bản Nguyện khác. Bất luận cõi Tịnh Ðộ nào cũng đều
là nơi nghiêm tịnh, phong nhiêu và suốt bốn mùa vui thích
an nhàn. Ðiều này rất được đề cao trong các kinh Bản Nguyện.
Nhưng thật ra đây không phải là đặc trưng của Tịnh Ðộ
quan Phật Giáo vì trong Tịnh Ðộ quan của Bà-la-môn giáo cũng
bao hàm những bản chất kể trên. Duy đứng về phương diện
văn hóa mà nhận xét, ta mới thấy cái đặc trưng của Tịnh
Ðộ quan Phật giáo. Nhất là về tình trạng đường xá trong
cõi Tịnh Ðộ có điều rất đáng chú ý. Trong kinh Di Lặc
đã phác họa trạng thái của đường sá khi Di Lặc giáng
sinh như sau: "Ðường sá bằng phẳng như mặt gương". Ý tứ
này sau được kinh A-Sơ và các kinh khác thừa kế và đưa
vào các Bản Nguyện rồi được biểu hiện và thuyết minh
bằng nhiều cách. Như: "Nguyện đất bằng phẳng, sáng cũng
như gương" (A-Sơ Nguyện 2, Ðại Phẩm Nguyện 9, và Ðại kinh
Nguyện 31); "Nguyện đất toàn như vàng" (Ðại Phẩm Nguyện
10); "Nguyện đất mềm mại như nhung tơ (A-Sơ Nguyện 4). Có
thể nói tất cả Nguyện được biểu hiện trên đây để
hình dung cõi nước đều liên quan đến trạng thái đường
sá.
Khi
còn tại thế, đức Phật thường khuyến khích dân chúng trồng
cây dọc theo hai lề đường cho đẹp đẽ và lấy bóng mát;
Ngài cũng khuyến khích đào giếng nước khắp nơi. Tinh thần
truyền thống đó đến nay đã được cụ thể hóa trong Tịnh
Ðộ. Như vậy ta thấy về mặt giao thông các Bản Nguyện
cũng đặc biệt chú ý.
Ðể
thích ứng với điều kiện giao thông hoàn bị trên đây, về
trạng thái ăn, mặc và ở của dân chúng cũng rất hoàn bị.
Vì đất cát phong phú, phì nhiêu nên dân chúng không cần phải
làm lụng vất vả mà cơm áo vẫn có đầy đủ: đó là nguyện
"ăn, mặc, ở đều tự nhiên thành tựu" (A-Sơ Nguyện 11,12;
Ðại phẩm Nguyện một; Bình Ðẳng Giác kinh nguyện 23; Ðại
Kinh Nguyện 38). Như vậy, trạng huống kinh tế và đời sống
của dân chúng trong Tịnh Ðộ rất dễ dàng và sung sướng.
Nhất là về vấn đề nhà ở, trong các kinh đều đề cao
đặc điểm bền chặt, tiện lợi và mỹ quan. Còn phần bài
trí trong nhà dĩ nhiên cũng rất tinh tế. Trước hết là về
vấn đề đèn thì ai cũng biết đã có nguyện "ánh sáng vô
lượng" (Ðại Phẩm Nguyện 28; Ðại Kinh Nguyện 12); về vấn
đề nước thì có Nguyện" nước tám công đức" (A-Sơ Nguyện
12). Nếu giải thích những thiết bị trên đây theo tinh thần
văn hóa hiện đại ta thấy có điểm rất thú vị, nghĩa là
trong nhà có đầy đủ tiện nghi đèn, nước. Ðặc biệt là
vấn đề thiết bị tiểu tiện và đại tiện lại càng thú
vị hơn nữa. Nguyện thứ 19 trong Ðại Phẩm Bát-Nhã nói:
"Nguyện nhân dân trong quốc độ của ta không có cái nạn
đại tiện, tiểu tiện". Mới nhìn qua, ta thấy nội dung của
Nguyện trên có vẻ là không tưởng, nhưng nếu suy nghĩ một
chút ta thấy nó hoàn toàn muốn ý tưởng hóa vấn đề vệ
sinh, nghĩa là đưa những thiết bị tại các nơi đại, tiểu
tiện đến một trạng thái thật hoàn toàn. Bối cảnh của
nguyện trên đây là dựa vào ý nghĩa câu sau này mà ai cũng
biết: "Lúc đó (chỉ thời kỳ Di Lặc hạ sinh), nam nữ muốn
đại tiểu tiện thì đất tự nhiên nứt ra, song rồi đất
lại liền lại". Ý nghĩa của câu này có thể được giải
thích là nơi đại tiểu tiện phải được lau chùi rữa ráy
cho sạch sẽ. Còn ý nghĩa của Nguyện "không có cái nạn đại
tiểu tiện" là đối với việc đại, tiểu tiện không còn
phải lo vì đã có đủ mọi thiết bị tiện nghi. Cách đây
hơn hai nghìn năm trăm năm, đối với đặc tướng Tịnh Ðộ
mà đã đạt đến một dự tưởng như thế, theo một ý nghĩa
nào đó, đối với chúng ta, thật đã có điểm cực kỳ tiến
bộ.
Rồi
đối với các cơ quan thông tin hay giao thông tuy bề ngoài không
được biểu hiện rõ ràng, nhưng phần nội tại trong các
Bản Nguyện cũng có ngụ ý đó. Chẳng hạn ai cũng biết Bản
Nguyện Ngũ Thông (Ðại Phẩm Nguyện 18, Ðại Kinh Nguyện 5-9),
nghĩa là Nguyện nhân dân trong nước đều được năm thứ
thần thông là: Thiên nhãn, Thiên nhĩ, Túc mệnh, Tha tâm và
Thần cảnh. Thiên nhãn nghĩa là cái năng lực thấy được
tất cả những vật nhỏ li ti ở rất xa, thiên-nhĩ là cái
sức nghe được tất cả âm thanh ở xa, túc mệnh là biết
được sự tình ở quá khứ, tha tâm là năng lực biết được
lòng người khác; và Thần-cảnh-thông là năng lực bay, đi
được tự tại.
Tất
cả những ý niệm trên đây nếu được phiên dịch thành
ngôn ngữ ngày nay thì ta có thể nói đó là điện tín, điện
thoại, vô tuyến điện, máy bay, xe hơi, xe lửa cho đến tất
cả những thiết bị khoa học khác đều đầy đủ. Duy có
điểm bất đồng là khoa học ngày nay tìm những thiết bị
đó ở bên ngoài. Còn Bản Nguyện thì lại tìm nó ở trong
năng lực nội tại của chúng sinh. Ðiều này tuy là không
tưởng thật đấy, thế nhưng trong đó, ít ra nó cũng tiềm
tàng một yêu cầu văn hóa: đó là điểm ta nên ghi nhận.
Như
vậy, nhờ những thiết bị và trạng thái trên, dân chúng
sống trong Tịnh Ðộ, như đã nói ở trên, dân chúng sống
trong Tịnh Ðộ, như đã nói ở trên, đều được sung túc
về ăn mặc ở, và dĩ nhiên thoát khỏi tai nạn tam độc,
tứ bệnh (Ðại Phẩm Nguyện 25), các căn đều đầy đủ
(Ðại Kinh Nguyện 41), tất cả đều một mầu sắc và đều
có 32 tướng (Ðại Phẩm Nguyện 23; Ðại Kinh Nguyện 21) và
sức mạnh hùng đại cũng như thân Thần Na La Diên (Ðại Kinh
Nguyện 26), còn thọ mệnh thì vô lượng (Ðại Phẩm Nguyện
26), còn thọ mệnh thì vô lượng (Ðại Phẩm Nguyện 21,22;
Ðại Kinh Nguyện 13,15) và nuôi thân mệnh bằng Pháp Hỷ Thiền
Duyệt.
Tóm
lại, đứng trên lập trường văn hóa mà nhận xét thì Tịnh
Ðộ trong Bản Nguyện có tính cách mỹ thuật, đồng thời
có thể nói có tính cách khoa học rất tiến bộ nữa. Nếu
nhìn thoáng qua thì tất cả đều có vẻ chỉ là không tưởng,
nhưng nếu nhận xét kỹ một chút ta sẽ thấy tất cả đều
là lý tưởng, nhưng nếu nhận xét kỹ một chút ta sẽ thấy
tất cả đều là lý tưởng của cuộc sinh hoạt thực tế,
mà điều lý thú là trong đó, đến nay, có nhiều phương diện
đã dần dần được thực hiện. Trong Phật Giáo, vì nhận
thấy khó có thể thực hiện được cái lý tưởng đó trên
cõi thế gian đầy tham, sân, si này cho nên mới mong thực hiện
nó ở một cõi Phật khác. Tuy nhiên, cái lý tưởng đó vốn
là đầu ảnh (projection) của cuộc sống hiện thực cho nên
cần phải trở lại cuộc sống hiện thực mà giải thích
nó, đồng thời, tiến lên bước nữa, phải nỗ lực thực
hiện hóa nó: đó là nghĩa vụ của những người tin ở Bản
Nguyện. Nghĩa là, khai thác tất cả những cái từ xưa đến
nay bị đóng kín ở lĩnh vực quan niệm luận rồi thể hiện
nó sang lĩnh vực thực tại luận: đó là một đặc chất
lớn của tư tưởng Bản Nguyện mà ta cần phải chú ý.
4.
Nhận Xét Theo Lập Trường Tôn Giáo.
Như
đã trình bày ở trên, trong các Bản Nguyện tuy có phương
diện đạo đức, phương diện văn hóa, nhưng cái yếu tố
trung tâm vẫn là cái mãn cảm về yêu cầu tôn giáo. Những
hoàn bị về đạo đức và văn hóa rốt cục đều phải hòa
vào với yêu cầu tôn giáo thì mới có thể chiếm được
địa vị trong thể hệ Bản Nguyện. Do đó mà ở đây ta không
thể không đề cập đến vấn đề yêu cầu tôn giáo là gì?
Song không thể đi sâu vào chi tiết một cách tường tận mà
chỉ đưa ra kết luận của nó để nhận xét ý nghĩa Bản
Nguyện mà thôi.
Như
đã từng nói qua ở trên, nếu nhận xét về mặt tâm lý thì
yêu cầu tôn giáo được thành lập theo hai yếu tố. Một
là yêu cầu sinh mệnh vô hạn, hai là yêu cầu giải thoát.
Yêu cầu sinh mệnh vô hạn lấy ý chí muốn sống làm điểm
xuất phát, cầu sự sống vô hạn và tự do liên tục. Còn
yêu cầu giải thoát là muốn vượt ra ngoài tất cả mọi
sự trói buộc, mọi nỗi bức bách và những thống cảm của
thực giới. Hai yêu cầu trên đây, về mặt hoạt động, tuy
có tích cực và tiêu cực khác nhau, nhưng về trung tâm điểm
thì chúng vẫn hỗ tương quan hệ, bổ sung cho nhau, đó là
cái đặc trưng của tâm tôn giáo.
Như
vậy, nếu chiếu theo tư tưởng Bản Nguyện thì yêu cầu tôn
giáo hoàn toàn là sự thỏa mãn hai yêu cầu trên đây. Ðặc
biệt có điểm thú vị là cùng với sự khai triển của tư
tưởng Bản Nguyện, ngoài bề mặt, tuy dần dần từ tiêu
cực (giải thoát) biến thành tích cực (sinh mệnh vô hạn),
nhưng bề trong, bất cứ lúc nào cũng chuẩn bị để biểu
hiện hóa hai yêu cầu đó. Chẳng hạn như trước đã nói,
khởi đầu kinh Bản Sinh chỉ chuyên lấy sự giải thoát khỏi
tội ác và khổ đau làm Bản Nguyện; đến Tiểu Phẩm Bát-Nhã
nửa lấy giải thoát làm mục tiêu, nửa lấy hoạt động
sinh mệnh tích cực làm mục tiêu; từ đó đến A-Sơ, Bình
Ðẳng Giác, Ðại Phẩm Bát-Nhã và Ðại Vô Lượng Thọ Kinh
thì phương diện tiêu cực thì trở thành lập trường biểu
diện. Nhưng trong bất luận trường hợp nào yếu tố căn
bản vẫn là yêu cầu giải thoát. Nếu nói theo thuật ngữ
thì: khởi đầu, chủ ý Bản Nguyện là chú trọng ở Chân-Không,
dần dần tuy có khai triển về mặt Diệu-Hữu nhưng không
lìa Chân-Không, đó là lập trường từ xưa của Ðại Thừa.
Hai phương diện này chẳng qua chỉ khác nhau về mặt biểu
lý.
Bản
Nguyện tuy tầm cầu sự mãn túc về yêu cầu tôn giáo, nhưng
đặc chất hiển trứ về mặt tích cực cũng tức là tầm
cầu sự mãn túc đối với yêu cầu sinh mệnh tuyệt đối.
Ðiều này tuy đã được dự liệu trong Phật Giáo Nguyên thủy,
nhưng đã phải trải qua nhiều giai đoạn khai triển của tư
tưởng để rồi cuối cùng mới trở thành tư tưởng Bản
Nguyện hóa. Ðặc chất đó tuy được phát huy trong nhiều
điều mục của Bản Nguyện nhưng cái điều mục rõ ràng
nhất mà ai cũng biết đó là nguyện Thọ Mệnh Vô Lượng,
và Quang Minh Vô Lượng (Bình Ðẳng Giác thứ 13,15; Ðại Phẩm
thứ 20,22; Ðại Kinh nguyện 12,13,15). Nguyện Thọ mệnh vô
lượng dĩ nhiên là đối với yêu cầu vô hạn liên tục;
nguyên Quang Minh Vô Lượng là đối với cái đương thể sung
thực của sinh mệnh. Nói chung lại: nó là cái yêu cầu thể
hiện sinh mệnh lấy sự liên tục vô hạn và tự do tuyệt
đối làm thuộc tính. Mà nguyện này vì được thực hiện
ở Tịnh Ðộ cho nên cái sức tin tưởng ở Bản Nguyện đó
là cơ năng tôn giáo. Lòng tin ấy khiến cho hành giả có một
niềm hoan hỷ tuyệt diệu và muốn được cùng với Phật
ở Tịnh Ðộ dung hợp: đó là giá trị tôn giáo của Bản
Nguyện Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang. Mà điểm này trong
lịch sử tư tưởng Bản Nguyện từ Tiểu Phẩm Bát-Nhã đến
Kinh A-Sơ vẫn chưa biểu hiện rõ ràng, mãi đến kinh 24 Nguyện
A Di Ðà làm trung tâm để phát huy. Cho nên, nguyện chủ là
Pháp Tạng Bồ-Tát, có nghĩa Vô Lượng Thọ (Amitayus), Vô Lượng
Quang (Amitabha) được cái danh hiệu là A Di Ðà (Vô Lượng)
quyết không phải là sự ngẫu nhiên. Song, thật ra về phần
nội dung, điểm này phổ thông trong tất cả Bản Nguyện,
chẳng qua đến Pháp Tạng Bản Nguyện nó mới được biểu
hiện rõ về mặt ý thức mà thôi. Về sau, Ðại Phẩm Bát-Nhã
lấy Chân-Không làm chủ cũng thâu dụng điểm này. Như vậy,
nhận xét theo quan điểm này, ta có thể nói chỗ quy kết là
bất cứ người nào cuối cùng điều thành Phật A Di Ðà:
đó là điểm then chốt và cộng thông của tất cả Bản Nguyện.
Nhưng
vấn đề này ở đây là, vẫn biết chủ ý quán thông của
tất cả các Bản Nguyện là ai cũng trở thành Phật A Di Đà,
thế nhưng làm thế nào để thành được Phật A Di Ðà? Nói
cách khác, tự mình cố gắng mà thành Phật Di Ðà hay nhờ
sự cứu hộ của Phật Di Ðà mà thành? Nghĩa là nhờ tự
lực hay do tha lực? Nếu nói theo lịch sử thì điểm này,
như đã trình bày ở trên, tuy có biến thiên, nhưng nói một
cách tổng quát, đứng về phương diện Bản Nguyện chủ mà
nhận xét, thì việc kiến thiết cũng như việc chi phối Tịnh
Ðộ dĩ nhiên đều do nỗ lực của chính mình mà thành. Song
việc xây dựng Tịnh Ðộ không phải vì mình để hưởng
lạc mà là vì muốn dắt dẫn tất cả mọi người về Tịnh
Ðộ. Nếu nhận xét về phương diện này thì giá trị Bản
Nguyện có thể nói là toàn ở như tha lực. Bản Nguyện Di
Ðà đã biểu dương điểm này: trì niệm danh hiệu Phật,
cho đến mười niệm cũng có thể được cứu độ. Nói theo
một ý nghĩa nào đó thì điều này rất dễ làm và rất tiện
nghi, đó là cái được gọi là tha lực Bản Nguyện. Song nếu
căn cứ vào đây mà cho rằng chủ ý của Bản Nguyện là sự
cứu độ tức khắc, tuyệt đối vô điều kiện thì ít ra,
về phương diện văn tự là một sự lầm lẫn. Như đã nói
trên kia, Nguyện được coi là có tính cách tha lực rất tinh
luyện là Nguyện thứ 18 trong bản Ngụy Dịch. Trong truyện
này có câu "Trừ Ngũ nghịch, phỉ báng Chính Pháp". Nhớ chữ
"trừ"; trừ tất nhiên là có trường hợp ngoại lệ, nhưng
nhờ sám hối. Như vậy, cái gọi là cứu độ, là bất tư
nghị lực, rốt cuộc chỉ là sự tự giác, sự phản tỉnh,
là trực quan thần bí. Do đó, trong những Bản Nguyện lấy
tha lực làm đặc chất vẫn dự liệu cái căn cứ của yếu
tố tự lực, cho nên, cái gọi là "ngũ thể đầu địa, chí
thành sám hối" chẳng qua là biểu lộ cái tâm khiêm nhượng,
vô ngã để cho sức Bản Nguyện có thể hoạt động theo trực
quan thần bí mà thôi. Hơn nữa, Bản Nguyện tha lực chỉ là
thủ tục trước khi vào Tịnh Ðộ; sau khi đã vào Tịnh Ðộ
rồi lấy đó làm đạo tràng tu tiến. Theo sự hướng dẫn
của vị Giáo chủ của Tịnh Ðộ, sống cuộc đời hoan hỷ
và hăng hái tu hành cho đến thành Chỉnh Ðẳng Giác mới thôi
(chính mình thành Phật Di Ðà). Như vậy, trên văn tự, chủ
ý của Bản Nguyện, ít ra, đều lấy sự tự tu làm chủ yếu.
Ðiểm này cũng tương tự như chủ trương của Viên Tử Phái
thuộc Ấn Ðộ Giáo.
Vào
khoảng thể kỷ XII, từ Ấn Ðộ Giáo phát sinh một giáo phái
lấy tên là Ra Ma Nu Da (Ramanuja); phái này sau lại chia thành
hai. Một là Viên Tử Phái (Viên Thuyết), hai là Miêu Tử Phái
(Miêu Thuyết). Viên Tử Phái chủ trương Thần cứu độ cũng
có điều kiện, như con vượn con tự nó phải bám lấy thân
thể của mẹ nó. Vì chủ trương như thế cho nên phái này
được mệnh danh là Ðiều Kiện phái. Còn Miêu Tử Phái thì
chủ trương Thần cứu độ người cũng như mèo mẹ ngậm
lấy cổ mèo con để đưa đến nơi an toàn mà không cần điều
kiện gì cả. Vì chủ trương như thế nên phái này được
mệnh danh là Vô Ðiều Kiện Phái. Nếu đem đối chiếu những
chủ trương trên đây với Bản Nguyện thì nhận xét theo lập
trường của chính các kinh điển, ta thấy chủ ý của các
Bản Nguyện, bất luận nói cách nào, cũng đều là chủ trương
của Viên Tử Phái.
5.
Nhận Xét Theo Lập Trường Giáo Nghĩa Học Phật Giáo.
Ba
phương diện trên đây tuy không phải hoàn toàn, nhưng là điểm
chủ yếu để nghiên cứu ý nghĩa nội dung của tư tưởng
Bản Nguyện. Song nếu nhận xét nó theo lập trường giáo nghĩa
học của Phật Giáo thì vẫn còn có vài vấn đề cần phải
luận cứu. Và sau đây xin nói qua về những vấn đề này.
Như
đã nói trên kia, Tịnh Ðộ nhìn ở một phương diện thì
nó là một nơi khoái lạc, nhưng nhìn ở phương diện khác
thì đó là đạo tràng để tu hành. Nhưng vấn đề được
đặt ra là: những người trong Tịnh Ðộ toàn là những nhà
tu hành chuyên môn (Thánh nhân) hay cũng bao gồm cả những người
thế tục (Phàm phu)?
Trong
Phật Giáo, nói theo lập trường tu dưỡng, người ta được
chia thành ngoại đạo và nội đạo. Trong nội đạo lại được
chia thành tại gia (thiện nam, tín nữ) và xuất gia (Tỷ khưu,
tỷ khưu ni) tùy theo khả năng và hoàn cảnh để hướng thượng.
Nhưng trong Tịnh Ðộ Bản Nguyện vấn đề này nên phải xử
lý như thế nào? Vấn đề này nếu chiếu theo các đề mục
Bản Nguyện thì trên tính chất, trong Tịnh Ðộ dĩ nhiên không
có người ngoại đạo dị giáo, thế nhưng giữa Phàm phu và
Thánh nhân, do thể hiện Bản Nguyện cũng như Tịnh Ðộ quan,
có nhiều chỗ bất đồng. Nhìn vào lịch sử ta thấy điều
này phát đạt rất rõ ràng.
Khi
Di Lặc giáng sinh thì nhân dân ở thế giới này đều là phàm
phu, Di Lặc mở hội Long Hoa thuyết pháp để cứu độ khiến
cho tất cả đều trở thành Thánh nhân. Rồi từ đây tiến
lên bước nữa mà cầu Tịnh Ðộ ở phương khác là A-Sơ
Phật độ. Tuy nhờ công đức và năng lực Bản Nguyện mà
đến được cõi này nhưng chưa phải hoàn toàn là Thánh-nhân
mà vẫn còn lẫn cả tại gia tín chúng; và ở cõi này vẫn
còn việc kết hôn, sinh đẻ, đàn bà rất trinh thục và sinh
nở rất dễ dàng. Nhiệm vụ của Phật A-Sơ là phải giáo
hóa cho họ để tất cả đều tiến đến chỗ cứu kính.
Nhưng đến Tịnh Ðộ quan của Ðại Phẩm Bát-Nhã hoặc của
kinh A Di Ðà thì trong Tịnh Ðộ không có đàn bà nữa, do đó
không có đạo phu phụ, tất cả đều hóa sinh, tất cả đều
là những người hành đạo Thánh nhân, tập chú vào sinh hoạt
tinh thần. Như vậy ta thấy Tịnh Ðộ quan đã phát triển
theo thứ tự này: Khởi sơ, trong cái gọi là Phàm phu độ,
lấy việc giáo hóa quần chúng tiến đến Thánh đạo làm
chủ ý. Thứ đến, trong cái gọi là Phàm, Thánh đồng cư
độ thì lấy việc hóa Phàm thành Thánh, rồi lại khiến cho
Thánh nhân hướng thượng làm chủ ý. Cuối cùng duy chỉ còn
có Thánh nhân và lấy việc dẫn đạo Thánh nhân đến chỗ
cứu kính làm chủ ý. Ðó là thứ tự khai triển lịch sử,
đồng thời nhận xét ở một phương diện khác, nếu coi Tịnh
Ðộ là đạo tràng tu dưỡng, thì cái giai cấp tiến triển
của sự tu đạo trong Tịnh Ðộ đại khái cũng có thể như
thế.
Lý
tưởng của Tịnh Ðộ là ở điểm dắt dẫn phàm phu hướng
Thánh Ðạo, mà Thánh đạo theo Phật Giáo thì có ba loại:
Bồ-Tát Thừa (cũng kêu là Phật Thừa), Ðộc Giác Thừa, và
Thanh-Văn Thừa. Bồ-Tát là những bậc Thánh lấy việc tự
mình thành Phật, kiến lập Tịnh Ðộ để cứu độ chúng
sinh làm mục tiêu tu hành, đây cũng gọi là Phật Thừa. Ðộc
Giác Thừa (hay Duyên Giác Thừa) là những vị Thánh về phần
chứng ngô nội tại tuy cũng giống như Phật, nhưng không có
khả năng kiến thiết Tịnh Ðộ. Thanh-Văn Thừa là những
người nghe Phật thuyết pháp tu hành cầu giác ngộ và cuối
cùng lấy việc nhận Niết-Bàn vĩnh viễn làm mục tiêu. Tam
Thừa tuy cùng là Thánh đạo nhưng nếu nhận xét về mặt
tác dụng thì ít ra, trong đó cũng có giá trị giai đoạn.
Ðại Thừa Tôn (Học phái lấy Bồ-Tát làm lý tưởng) thường
chia Bồ-Tát Thừa đứng hàng đầu, thứ đến Ðộc Giác Thừa,
và cuối cùng là Thanh-Văn Thừa. Do sự phân chia này mà vấn
đề được nêu ra là: bản ý của Phật Giáo coi Tam Thừa
là đạo khác biệt nhau hay sự phân chia Tam Thừa chỉ là tạm
thời mà cuối cùng hết thảy đều quy kết về một Phật
Thừa? Theo một ý nghĩa nào đó thì trong Ðại Thừa Phật
Giáo vấn đề phân chia đó đã thành phổ thông, và kinh Pháp-Hoa
đã tận lực nói lên ý nghĩa Nhất Thừa chân thực. Do vậy
mà vấn đề ở đây lại được đặt ra là: các Thánh nhân
trong Tịnh Ðộ có phải là Tam Thừa của cái Nhất Thừa kia
không? Nói cách khác, chủ ý của Bản Nguyện là hướng dẫn
theo Tam Thừa khác biệt, hay như kinh Pháp-Hoa, lấy việc quy
kết về Nhất Phật Thừa làm mục tiêu tu hành trong Tịnh
Ðộ?
Nhận
xét trên đại thể thì tư tưởng Bản Nguyện vốn lấy tư
tưởng Bồ-Tát làm trung tâm để phát triển, cho nên về điểm
này, chủ ý của Bản Nguyện tất nhiên là lấy việc quy kết
tất cả về một Phật Thừa làm căn cứ. Nhưng thật ra cái
lịch trình đạt đến kết luận này thật là quanh co, khúc
chiết. Khởi sơ, tất cả các vị Thánh giả do Di Lặc giáo
hóa trong cái gọi là Hội Long Hoa đều là chúng Thanh-Văn;
đến kinh A-Sơ thì lại có Ðệ-Tử-Học-Thành phẩm (Thanh-Văn
Thừa) và Chư Bồ-Tát Học Thành phẩm, như vậy, ngoài Thanh-Văn
ra, còn lấy việc giáo hóa các Bồ-Tát làm đối tượng để
phát huy đặc sắc Ðại Thừa hóa. Rồi từ đó tiến đến
Bát-Nhã_Bát-Nhã thường được coi là giáo phát thông cả
Tam Thừa, về điểm này, hiển nhiên coi Tam Thừa là đạo
khác biệt. Ðiều này đã được nói rõ trong Nguyện thứ
ba trong Ðại Phẩm Bát-Nhã "Chúng sinh trong quốc độ ta nhờ
pháp Tam Thừa mà được giải thoát". Song đến đây thì tư
tưởng Nhất Thừa cũng đã dần dần ló rạng: "Nguyện trong
quốc độ ta không có danh hiệu Nhị Thừa (Thanh-Văn, Duyên
Giác) (Nguyện thứ 24). Như vậy, nhận xét theo điểm này,
các vị Thánh nhân trong quốc độ tuy có Tam Thừa khác nhau,
nhưng cuối cùng đều quy về một Phật Thừa. Nhưng ở một
phương khác, lại cũng có những Nguyện vô số chúng đệ
tử (Thanh Văn), điểm này, trên tổng thể không khỏi thiếu
tính chất triệt để. Ðiều này, đến những Bản Nguyện
trong kinh Ðại Vô Lượng Thọ thì hiển nhiên đã khai triển
rất nhiều, tuy nhiên đứng về mặt triệt để mà nói, vẫn
chưa đạt đến chỗ rốt ráo.
Ðứng
trên lập trường đạo lý, thì như trên đã nói, cái cực
ý của Bản Nguyện Di Ðà là khiến cho hết thảy chúng sinh
cùng được như Phật Di Ðà, nhưng trên văn hiến từ kinh
24 Nguyện, cho dến thuyết 48 Nguyện vẫn còn có nhiều chỗ
đề cập đến chúng Thanh-Văn. Chẳng hạn Nguyện Thanh-Văn
vô số thứ 14, Nguyện lâm chung hiện tiền thứ 14, v.v… đều
nói lên ý ấy. Nhưng đến đây tư tưởng Nhị Thừa chuyển
hướng Ðại Thừa đã trở thành mục tiêu rõ rệt: kinh 36
Nguyện (bản Tống dịch) Nguyện 28 (Ðại Kinh Nguyện thường
tu phạm hạnh 36) nói "nhờ nghe danh hiệu Di Ðà cuối cùng
Thanh-Văn, Duyên Giác được thành Vô Thượng Chính Ðẳng Giác
(Phật Thừa)". Song Bản Nguyện có ý nghĩa sâu xa này lại
không có trong nguyên điển Phạm ngữ, mà trong bản dịch đời
Ngụy, đời Ðường chỉ nói đến Bồ-Tát để thay thế cho
Thanh-Văn, Duyên Giác, chứ tuyệt nhiên không ngụ ý nghĩa chuyển
hướng Ðại Thừa. Nhận xét theo điểm này, ta thấy trong
Bản Nguyện Di Ðà đã không có được cái phong thái của
kinh Pháp-Hoa đem Tam Thừa quy kết về Phật Thừa. Mãi sau,
đến kinh Văn Thù Sư Lợi Phật Ðộ Nghiêm Tịnh mới cố
gắng bổ cứu chỗ thiếu triệt để này bằng Bản Nguyện
"Nguyện trong quốc độ ta không có danh hiệu Thanh-Văn, Duyên
Giác tất cả thuần là Bồ-Tát, diệt trừ sâu hận, tịnh
tu phạm hạnh trong khắp cõi Phật".
Tóm
lại, nếu coi Tịnh Ðộ là một giáo đoàn (Tăng Già) theo
nghĩa rộng, thì khởi sơ nó là một đoàn thể gồm cả tại
gia và xuất gia (phàm, Thánh câu hội). Tiếp đó, dần dần
nó có vẻ như đã biến thành một đoàn thể chỉ gồm toàn
những người chuyên môn tu hành Thánh đạo (Thánh chúng hội),
rồi cuối cùng, trong hàng ngũ những người chuyên môn tu Thánh
đạo đó, tuy chia ra ba loại nhưng lại coi Bồ-Tát Thừa là
tối cao, đó là những giai đoạn thứ tự khai triển của
tư tưởng Bản Nguyện, và đó cũng là ý nghĩa đạo trình
tiến triển của sự tu hành trong Tịnh Ðộ. Nhưng cái giai
đoạn quy kết cả Tam Thừa về Nhất Thừa không khỏi có
tính cách chậm chạp. Tịnh Ðộ tuy được coi như đạo tràng
tu nghiệp. Nhưng ở một khía cạnh khác, nó cũng có tư chất
của một Lạc Ðộ, bởi thế đứng trên lập trường Lạc
Ðộ mà nói thì Thanh-Văn, Duyên Giác cũng có sự tự thụ
dụng Pháp lạc. Song, theo cực ý của Ðại Thừa nếu không
thừa nhận ý nghĩa "trên cầu đạo Bồ Ðề, dưới hóa độ
chúng sinh" thì sự tu hành trong Tịnh Ðộ không thể đi đến
chỗ kết thúc được. Mà "trên cầu đạo Bồ Ðề, dưới
hóa độ chúng sinh" vì là mục tiêu tu hành của Bồ-Tát nên
điểm then chốt của Bản Nguyện là muốn khiến cho hết thảy
chúng sinh trong đạo tràng Tịnh Ðộ trờ thành Bồ-Tát hết.
Nhìn vào điểm này, ta thấy Tịnh Ðộ luận của Thế Thân
chủ trương khởi sơ trong Tịnh Ðộ không có những người
Nhị Thừa mà duy chỉ có Bồ-Tát: đến đây, tư tưởng Ðại
Thừa đã tiến thêm một bậc nữa.
Lấy
Tịnh Ðộ làm Lạc độ, đồng thời lại coi đó là đạo
tràng tu hành, đó là đặc trường của Tịnh Ðộ quan Phật
Giáo, không những thế mà còn muốn biến nó thành đạo tràng
tu hành của Bồ-Tát đạo. Về điểm này trên văn hiến tuy
chưa được biểu hiện rõ ràng, nhưng suy cứu đến tinh thần
thì ít ra là chủ ý của Bản Nguyện từ Ðại Phẩm trở
về sau. Cho nên vấn đề được nêu ra ở đây là: trong Tịnh
Ðộ, phương pháp hoàn thành thệ nguyện "hạ hóa chúng sinh"
như thế nào? Vấn đề này, điểm thứ nhất cần phải khảo
sát là: trong Tịnh Ðộ cũng có những người tiên tiến và
hậu tiến, bởi thế, người tiên tiến lấy vị Giáo Chủ
Tịnh Ðộ làm căn bản, có nghĩa vụ giúp đỡ và dạy dỗ
những người hậu tiến. Do đó mà cái trách nhiệm "hạ hóa
chúng sinh" trong Tịnh Ðộ được hoàn thành. Trong Nguyện Thuyết
Nhất Thiết Trí (Ðại kinh Nguyện 25, Nguyên điển Phạm ngữ
Nguyện 23) nói các Bồ-Tát trong Tịnh Ðộ có năng lực thuyết
pháp cũng tương đương như một vị Nhất Thiết Trí (Phật
Thừa) cũng chính là muốn nói lên sự cần thiết hoàn thành
trách nhiệm "hạ hóa chúng sinh" đó. Nhưng nếu chỉ có thế
thôi thì chưa phải là "hạ hóa chúng sinh" một cách toàn bộ,
bởi lẽ cái tổng nguyện của Bồ-Tát là cứu độ vô biên
chúng sinh mà nếu chỉ giáo hóa ở cõi Tịnh Ðộ là nơi không
có ngả ác thì mục đích của đại nguyện đó không thể
đạt được. Do đó mà điểm thứ hai cần phải khảo sát
là: từ Tịnh Ðộ trở lại uế độ để hoàn thành đại
nguyện, nói theo thuật ngữ là "hoàn tướng hồi hướng".
Tuy điều này là kết luận tất nhiên phải có, nhưng như
đã nói ở trên, lịch trình đạt đến quy kết đó đã trải
qua nhiều giai đoạn khai triển của tư tưởng. Chiếu theo
văn hiến thì trong Bản Nguyện A-Sơ, Bản Nguyện Ðại Phẩm
đều chưa có kết luận đó, chỉ đến Bản Nguyện Ðại
Kinh nó mới được biểu hiện mà thôi. Ðó tức là Nguyện
"Tất chi bổ xứ" thứ 22 (nguyên điển Phạm ngữ 20) và Nguyện
"quyến thuộc trường thọ" thứ 15 (nguyên điển Phạm ngữ
nguyện 14). Tất chí bổ xứ là thệ nguyện sinh ở Cực Lạc
Tịnh Ðộ cho đến khi nào đạt được quả vị Phật thế
nhưng đến kinh 36 Nguyện trở về sau thì câu trên đây đã
được thêm thắt ít nhiều. Ðó là: "thông đạt tất cả
nghĩa lý thế gian, điều phục tất cả thế gian, đưa tất
cả thế gian đến Niết-Bàn, tu hạnh Bồ-Tát tại hết thảy
thế gian, phụng sự hằng sa chư Phật, an lập vô số chúng
sinh ở ngôi tối thượng giác, rồi sau đó tự mình mới tiến
đến ngôi tối thượng giác". Nhất là sự phát tâm tế độ
hết thảy chúng sinh đến cùng tận mới thôi, không bao giờ
đình chỉ hoạt động "thượng cầu Bồ Ðề, hạ hóa chúng
sinh". Các Bồ-Tát lập thệ nguyện như thế tại Tịnh Ðộ
không phải vì ngôi vị Bồ Xứ mà là trở lại hạnh nguyện
vĩnh viễn tế độ chúng sinh (hạnh Phổ Hiền). Rồi như Nguyên
thủy Quyến thuộc trường thọ là Nguyện tất cả những
người sinh ở Cực Lạc đều được thọ mệnh vô lượng
cũng lại là Nguyện, vì tế độ hết thảy chúng sinh mà Bồ-Tát
trở lại uế độ. Căn cứ theo sự chú giải trên đây, ta
thấy "hoàn tướng hồi tướng", nghĩa là từ Tịnh Ðộ trở
lại uế độ là tình hình đặc thù chứ tuyệt không phải
là nghĩa vụ nhất ban. Tình hình đó tuy là lệ ngoại nhưng
có thể nói nó là một bước tiến lớn của tư tưởng Bản
Nguyện, và chân tinh thần của đạo Bồ-Tát cũng dần dần
được phát huy bởi Tịnh Ðộ Bản Nguyện. Từ đây tiến
lên bước nữa, đem lệ ngoại biến thành bản tắc là bốn
pháp tinh tiến trong thuyết Bản Nguyện của kinh Bi Hoa. Căn
cứ theo kinh Bi Hoa, Bản Nguyện có bốn pháp giải đãi và
bốn pháp tinh tiến. Bốn pháp giải đãi là:
1)
Nguyện ở thế giới thanh tịnh, không ở thế giới bất tịnh.
2)
Nguyện chỉ tế độ những người thiện, không thiện tế
độ kẻ ác.
3)
Nguyện chỉ thành Phật, không nói Pháp Thanh-Văn, Duyên Giác
(không nỗ lực chuyển hướng Ðại Thừa).
4)
Nguyện sau khi thành Phật chỉ hưởng Vô Lượng Thọ, không
nguyện xả thọ.
Kinh
Bi Hoa đả phá loại người phát Bản Nguyện này, cho rằng
tuy họ là Bồ-Tát (Bodhisa-ttva-người cầu đạo giác ngộ),
nhưng không phải là Ma Ha Tát (Mahasattva-người lớn). Bốn
pháp tinh tiến là:
1)
Nguyện ở thế giới bất tịnh.
2)
Nguyện ở giữa các kẻ ác mà kiến lập Phật Pháp.
3)
Sau khi thành Phật nói pháp Tam Thừa (nỗ lực chuyển hướng
Ðại Thừa).
4)
Nguyện thọ mệnh ở Tịnh Ðộ không dài không ngắn.
Ðó
là Bản Nguyện lấy hạnh Phổ Hiền làm lý tưởng, nghĩa
là không màng sự hưởng lạc, mà thề nguyền hoàn thành sự
nghiệp cứu độ vô biên chúng sinh, và lấy điều kiện đó
làm lý tưởng. Kinh Bi Hoa tán dương hạng người phát Bản
Nguyện như thế và cho đó mới thực là Bồ-Tát, là Ma-Ha-Tát
(kinh Bi Hoa quyển 8, Ðại Tạng ba, trang 218). Theo một ý nghĩa
nào đó mà nói thì đây tuy có vẻ phản kháng tư tưởng cực
lạc, nhưng thực thì nó muốn suy tiến và phát huy tinh thần
đó. Ðiều này cứ xem trong kinh Bi Hoa lúc đầu thâu nhập
các Bản Nguyện Di Ðà, A-Sơ và các Bản Nguyện khác cũng
đủ rõ. Tịnh Ðộ luận của Thế Thân lại đem nó thích
ứng với Bản Nguyện Di Ðà, lấy môn thứ năm trong Năm môn
thành tựu làm xuất môn, lấy việc tế độ hết thảy chúng
sinh mà trở lại khổ giới làm bản hoài vãng sinh do đó mới
lập ra hai thuyết Vãng tướng (phương diện tự thụ dụng)
và Hoàn tướng (phương diện tha thụ dụng), mà sự thừa
nhận Hoàn tướng nhiều ý nghĩa hơn Vãng tướng là nỗ lực
bổ cứu của các nhà Tịnh Ðộ Giáo Trung Hoa và Nhật Bản.
Ðến
đây vấn đề được nêu lên là, sự tiến bộ của tư tưởng
Bản Nguyện đã là việc từ Tịnh Ðộ trở lại khổ giới
để giáo hóa chúng sinh thì cái cõi Tịnh Ðộ kia tất kính
cũng vẫn là một loại luân hồi giới? Bởi lẽ, vãng sinh
để trở lại thì ngoài con đường sinh tử ra không còn có
cách nào khác. Song nếu đứng ở một khía cạnh khác mà nhận
xét thì trong Tịnh Ðộ Bản Nguyện còn có nguyện "Tất chí
Niết-Bàn" (Ðại Phẩm Nguyện 7, Ðại Kinh Nguyện 11), có nguyện
"Bất Thoái chuyển" (Ðại Kinh Nguyện 47). Do những cách nhận
xét khác nhau, cho nên cũng có quan niệm cho việc vãng sinh Tịnh
Ðộ như trực tiếp đến Niết-Bàn. Nhưng thực ra, vấn đề
này, trong giáo nghĩa học Phật Giáo rất phiền phức. Bởi
thế giữa các nhà chuyên môn từ xưa đã có nhiều thuyết
khác nhau, nhưng ở đây tôi sẽ không bàn đến những thuyết
đó.
Nếu
khảo sát về phương diện lịch sử thì giữa tư tưởng vãng
sinh Tịnh Ðộ và tư tưởng sinh thiên có liên quan rất mật
thiết, đó là sự thật không thể phủ nhận. Do đó, nếu
lại đứng trên lập trường lấy tịch tĩnh giải thoát làm
lý tưởng mà nói thì bất luận giải thích cách nào đi nữa,
sự sinh hoạt ở Tịnh Ðộ là lý tưởng thứ nhì, cuối cùng
nếu không nhập Niết-Bàn thì không thể kết thúc được.
Bản Nguyện Di Ðà, như đã nói ở trên, có Nguyện "Tất chí
diệt độ" (tất định nhập Niết-Bàn) chính là vì lý do
đó. Lại tiến một bước nữa mà nhận xét, về phần Nguyện-Chủ
tuy là bản thân đức Phật kiến thiết Tịnh Ðộ nhưng sau
cuối cùng cũng vẫn nhập Niết-Bàn tịch tĩnh: điều này
đã được nói đến trong tất cả kinh văn của Ðại Thừa.
Bất luận căn cứ vào bộ kinh nào, Di Lặc A-Sơ, Pháp-Hoa,
các đức Phật kiến thiết Tịnh Ðộ, sau khi giáo hóa rồi,
truyền trao cho người kế vị và cuối cùng nhập Niết-Bàn.
Còn về A Di Ðà, nếu căn cứ vào ba bộ kinh, thì tuy không
có việc đó, thế nhưng đến kinh Quan Âm Thụ Ký vẫn nói
Di Ðà nhập Niết-Bàn, lấy Quan Âm làm người kế vị của
Ngài. Như vậy, không có một trường hợp ngoại lệ nào.
Theo ý nghĩa này, nếu so sánh cảnh giới Tịnh Ðộ với giáo
lý Tiểu Thừa thì Tịnh Ðộ cũng tương đương như quả Bất
Hoàn thứ ba trong Tứ Quả. Theo một ý nghĩa nào đó ta cũng
có thể nói tư tưởng quả Bất Hoàn thứ ba đã được thông
tục hóa và tích cực hóa. Bởi vậy, nếu phân chia Niết-Bàn
và luân hồi hiển nhiên đối lập nhau, thì có thể nói Tịnh
Ðộ thuộc về luân hồi giới. Ðứng trên lập trường lấy
Niết-Bàn không tịch làm lý tưởng tối cao mà nói thì Cực
Lạc thế giới, A-Sơ Phật độ tuy là những quốc độ đã
tiến bộ nhưng chưa phải là những cõi cứu kính. Song đây
chỉ là sự giải thích đại khái mà thôi chứ chưa hẳn đã
phù hợp với tinh thần tư tưởng Bản Nguyện hoặc tư tưởng
Tịnh Ðộ. Do đó, ở đây cần lại phải thuyết minh lập
trường căn bản của Ðại Thừa. Nhưng nếu nói một cách
tường tận thì rất phiền phức nên chỉ đề cập đến
điểm chủ yếu mà thôi.
Tiêu
ngữ cộng thông cho tất cả Ðại Thừa là bốn chữ "Chân-Không
Diệu-Hữu". Tức là lấy "Ngã-chấp, ngã-dục làm cơ sở để
đả phá tự nhiên-thái là Chân-Không, rồi có lúc lại khai
thác một cảnh giới tự do mới là Diệu-Hữu. Và hai phương
diện này hoàn toàn lấy thể nghiệm làm nền tảng mà thành
lập. Tất cả giáo lý Ðại Thừa rốt ráo không ngoài quan
hệ Chân-Không Diệu-Hữu, còn nếu có sự bất đồng thì
đó chẳng qua là bất đồng về mặt biểu tượng mà thôi.
Tư tưởng Bản Nguyện là tư tưởng Tịnh Ðộ cũng lấy đó
làm bối cảnh, từ Chân-Không dần dần tiến đến phương
diện Diệu-Hữu đặc biệt dùng sắc thái đạo đức, văn
hóa và nghệ thuật để biểu hiện. Tư tưởng Tịnh Ðộ
tuy có điểm bị ảnh hưởntg thần thoại của phái Hữu Thần
đương thời, nhưng chung cục vẫn kết hợp với tinh thần
Phật Giáo là nhờ ở điểm này.
Do
đó, bây giờ đem kết hợp với vấn đề luân hồi với Niết-Bàn
mà khảo sát thì cảnh giới Chân-Không đả phá tất cả những
cái cá biệt; trong cảnh giới đó không có mê, không có tình
chấp, lấy đó làm cơ sở thì nghiệp và nghiệp tập cũng
không có; đứng trên lập trường tự nội chứng mà nói thì
hoàn toàn lấy luân hồi làm đương thể của giải thoát.
Ðó tức là tịch diệt Niết-Bàn và Nguyên thủy Phật Giáo
hay Tiểu Thừa Phật Giáo lấy đấy làm cùng cực. Mà Ðại
Thừa cũng lấy đó làm thông quy. Nhưng đặc chất của Ðại
Thừa là không thỏa mãn với sự kết thúc đó, mà trái lại
muốn ở trong cái không đó kiến thiết một thế giới cao
hơn. Theo lập trường của Nguyện-chủ là Phật, đồng thời
với Tịnh Ðộ muốn thông qua thế giới đó để tiến đến
không thể cho các vị tu hành trong Tịnh Ðộ là các Bộ-Tát
thực hành ý nghĩa Tịnh Ðộ. Ðiều này có ý nghĩa là: Tịnh
Ðộ, nhận xét về phương diện Phật, có thể nói là từ
giai đoạn "không" trở xuống "hữu", còn xét về phương diện
Bồ-Tát thì có thể nói là từ giai đoạn "hữu" tiến lên
"không". Như Nguyện Vô Lượng quang, Vô Lượng Thọ chính đã
xuất phát từ lập trường trên; còn như Nguyện Tất Chí
diệt độ chính đã xuất phát từ lập trường dưới. Ý
nghĩa Tịnh Ðộ xuất phát từ lập trường chỉ đương hai
nghĩa trên đây chính là nghĩa "không mà có, có mà không".
Nếu giải thích theo cách khác thì ta có thể nói là thống
nhất không, hữu về một hạnh là hạnh Phổ Hiền. Do đó,
ở đây tuy không có nghiệp và luân hồi nhưng có thể nói
có nghiệp vô tác và luân hồi thì cũng không nên có hạnh
Phổ Hiền. Cái gọi là "Bản Nguyện nghiệp lực" rốt ráo
cũng không ngoài ý nghĩa đó. Duy có điểm bất đồng với
trước kia là: trước kia thích ứng với tự nhiên thái ngã
chấp, ngã dục, bị cái quy tắc tất nhiên của nghiệp và
luân hồi chi phối, không có tự do, còn đến đây thì nghiệp
và luân hồi chi phối, không có tự do, còn đến đây thì
nghiệp và luân hồi tất cả đều do phạm vi tự chủ, tự
do mà có. Nói cách khác, nghiệp, luân hồi tất cả đều do
hoạt động tự phát để hoàn thành sự nghiệp " thượng
cầu Bồ Ðề, hạ hóa chúng sinh". Tựu trung, tuy là sinh tử
luân hồi nhưng không phải do nghiệp định mà là tự chủ
để thể hiện lời thề "chúng sinh vô biên thệ nguyện độ".
Theo một ý nghĩa nào đó mà nói thì sự luân hồi như vậy
đã biến thành "Du Hý Tam Muội" của Bồ-Tát. Mà cái lý do
căn bản trong Phật Giáo thường gọi là luân hồi là giải
thoát tất kính là trừ khử sự sinh hoạt tha chủ, rồi trong
cảnh giới giải phóng đó kiến lập sinh hoạt tự chủ. Và
hoạt động luân hồi tự phát đó ngược lại cũng có thể
nói là Niết-Bàn hoàn toàn tịch diệt mà chính là Bất Trụ
Niết-Bàn. Tuy ở trong sinh tử nhưng không bị sinh tử chi phối,
tuy ở trong cảnh giới giải thoát, an ẩn nhưng không ham đắm
Tam Muội tự thụ dụng, trước sau không bao giờ bỏ hoạt
động cứu độ chúng sinh: đó là Bất Trụ Niết-Bàn, và
Pháp Tướng Tôn cho đó là một trong bốn loại Niết-Bàn.
Trong Bản Nguyện, thuật ngữ này tuy không được nói đến,
nhưng vì Tịnh Ðộ đặt nặng vấn đề hoàn tướng, coi việc
cứu độ chúng sinh làm nhiệm vụ và sinh hoạt Tịnh Ðộ,
cho nên cũng có thể đoán định hoạt động ấy là Bất Trụ
Niết-Bàn.