CHUƠNG
THỨ SÁU
TỊNH
ÐỘ QUAN NIỆM, TỊNH ÐỘ THỰC TẠI VÀ SINH THÀNH.
TIẾT
THỨ NHẤT:
THIỀN
ÐỊNH VÀ TỊNH ĐỘ.
Lập
trường căn bản của Phật Giáo Nguyên thủy, là do nơi tâm
ta mà giải quyết tất cả mọi vấn đề. Giá trị thế giới
cũng được quy định bởi trạng thái do tâm chủ trì: mê
ngộ, hạnh phúc, khổ đau, ma quỷ, Phật Thánh: tất cả đều
do nơi tâm. Ðối với ý nghĩa này, lập trường của Phật
Giáo Nguyên thủy tuy không thể nói là triết học Quan niệm-luận,
nhưng ít ra là thực tiễn Duy tâm luận. Chúng ta có thể gọi
là Do-tâm-luận hay cũng có thể gọi là Luân lý duy tâm luận.
Nhưng bất luận mệnh danh như thế nào đi nữa, Phật Giáo
lúc khởi thủy rõ ràng là lấy khuynh hướng Quan niệm luận
làm đặc sắc, đó là điều ta cần ghi nhận nếu ta muốn
hiểu rõ Phật Giáo. Song, điều ta cần lưu ý ở đây là:
Phật Giáo tuy cho tâm là căn bản của hết thảy sự vật,
nhưng quyết không phải hoàn toàn đóng khung tất cả trong
chủ quan, phủ định hết thảy đối tượng của tâm ở ngoại
giới. Ðứng trên lập trường nhận thức mà xét thì tâm,
trong sự phát hiện, phải đủ cả phần chủ quan và khách
quan. Về điều kiện khách quan đó, ít ra cũng phải dự liệu
một thứ ngoại giới theo ý nghĩa đối tượng. Ðương nhiên
cái đối tượng đó không hẳn cần phải là thực tại khách
quan mà cũng có thể là quan niệm hoặc ảnh tượng được
cấu tạo trong nội tâm. Phật Giáo tuy trước sau vẫn đặt
trọng ở nội tâm, nhưng về điều kiện phát động của
tâm thì ít ra ở thời đại Nguyên thủy Phật Giáo cũng đã
thừa nhận sự tồn tại khách quan ngoài tâm. Và ngoài trường
hợp nhận thức phổ thông ra, Phật Giáo còn khoáng trương
cái đối tượng của Thiền định tư niệm, khuynh hướng
cho đối tượng của tư niệm ấy một thực tại tính. Mà
Thiền-định Tam Muội lại chiếm địa vị trung tâm trong tu
hành quan của Phật Giáo nên cái đối tượng tự niệm ít
ra cũng trở thành mục tiêu sinh hoạt tinh thần, và dưới
nhiều hình thái đã hình thành chủng tử của thế giới quan
Phật Giáo, từ Phật Giáo Nguyên thủy đến Ðại Thừa, đều
này đã trở thành đặc chất nhất quán của Phật Giáo.
Phật
Giáo tuy lấy tâm hay quan niệm làm điểm xuất phát nhưng dần
dần đã thừa nhận có thực tại khách quan. Do đó, vấn đề
được nêu lên ở đây là: Như-lai và Tịnh Ðộ nên được
coi là sự tồn tại trong quan niệm hay đó là thực tại khách
quan?
Tưởng
không cần nói ai cũng biết rằng đặc chất của giáo lý
Ðại Thừa lúc đầu, theo lập trường Ðệ Nhất Nghĩa Ðế,
ít ra đã chủ trương thuyết "không", nghĩa là hết thảy không
ngoài sự biến hiện của tâm, mà ngay chính cái tâm cũng không
còn tồn tại tính: đó là lập trường của Phật Giáo Ðại
Thừa lấy Bát-Nhã làm trung tâm. Song, đồng thời, Ðại Thừa
giáo, để phương tiện đạt đến không quán thực tiễn đó,
đã thành lập nhiều loại Tam Muội mà trong đó sự thanh tịnh
hóa, tâm về mặt biểu tượng, là Tam Muội có một nội dung
tích cực. Ðặc biệt một điểm rõ rệt là nhờ tư niệm
các đức Như-lai và các cõi Tịnh Ðộ của Ngài mà tâm được
vui mừng, diệt bỏ được phiền não, rồi dần dần tiến
sâu vào không quán tự thân để tạo thành cái gọi là "Bát
chu Tam Muội Phật hiện tiền định" hay là "Quán Phật Tam
Muội". Trong Ðại Thừa, đứng trên lập trường Thiền Ðịnh,
có thể nói đã theo Phật hiện tiền Tam Muội hoặc Quá-Phật-Tam
Muội này mà lập nên các thuyết về Phật-Ðà. Mà điểm
hữu hiệu nhất là tự niệm Phật A-Di-Ðà và Tịnh Ðộ của
Ngài là thế giới Cực Lạc, hay nói theo một ý nghĩa khác
là quán Vô Lượng Thọ, đại khái là đại biểu cho Quán
Phật Tam Muội. Cho nên, trong Ðại Thừa lúc đầu, cái điều
kiện tất nhiên để quán chư Phật là nhập Thiền Ðịnh,
nói cách khác nếu xa lìa Thiền quán thì không thể thấy được
Phật. Ðiều đó đã được nói rõ trong Bát-Nhã, Pháp-Hoa
và nhất là trong kinh Quán Phật Tam Muội, kinh Bát Chu Tam Muội
(kinh Chư Phật Hiện Tiền Tam Muội), và kinh Quán Vô Lượng
Thọ Phật A Di Ðà và thế giới Cực Lạc của Ngài lúc đầu
cũng đã do đối tượng của Thiền quán mà được thành lập.
Bởi thế, cái gọi là Như-lai (Di Ðà) và Tịnh Ðộ (Cực
Lạc) bản lai là sự tồn tại trong quan niệm, đây là một
sự thật hiển nhiên trong giáo lý của Phật Giáo.
Song,
ở đây ta cần lưu ý: lúc đầu Như-lai hay Tịnh Ðộ điều
chỉ là vì phương tiện hoặc đối tượng của Thiền quán
mà được thành lập, thế dần dần nó đã đạt đến một
ý nghĩa và biểu tượng độc lập khách quan. Chủ nghĩa quan
niệm tuy đã tiến đến cái gọi là "tự thân tức Di Ðà,
duy tâm tức Tịnh Ðộ", nhưng về phương diện thông tục
hóa thì Như-Lai và Tịnh Ðộ đã xa lìa Thiền quán mà tự
thân ở vào một phương sở nhất định, rồi do lòng từ
bi và năng lực trí tuệ mà tiếp dẫn và cứu độ những
chúng sinh biết tư niệm đến. Do đó, đến đây, sự chỉ
phương lập hướng không còn là một quyền nghi phương tiện
nữa mà đã trở thành một chân lý như thực. Ðúng như Phật
Giáo Nguyên thủy_thời đại Tiểu Thừa giáo, do tâm thái Thiền
mà rồi Dục, Sắc, Vô Sắc chung cùng đã tiến đến thế
giới khách quan. Và cái tư tưởng dùng Thiền quán để đạt
đến quả Bất Hoàn (sinh lên Thiên giới và ở đó nhập Niết-Bàn)
của thời đại Nguyên thủy Phật Giáo đã được ứng dụng
và biến thành tư tưởng niệm Phật Di Ðà cầu vãng sinh Cực
Lạc và ở vào ngôi vị Bất Thoái Chuyển (tương đương với
quả Bất Hoàn). Không bao lâu Cực Lạc được giải thích
là một cảnh giới đứng sau Niết-Bàn: đó là lập trường
của kinh Ðại Vô Lượng Thọ.
Tịnh
Ðộ giáo trong Phật Giáo thật đã khai triển như trên chứ
không phải lấy Di Ðà hay Tịnh Ðộ làm lý niệm mà là do
tín ngưỡng cụ thể có thể thấy được thật sự, chính
đó là cái đặc trưng của Tịnh Ðộ giáo. Nhất là Tịnh
Ðộ giáo tại Trung Quốc và Nhật Bản đã ly khai ý nghĩa
và hứng vị Thiền quán, chiếu theo văn tự mà nhận xét thì
việc nhờ ở sự dẫn dụ của Phật Di Ðà ở thế giới
Cực Lạc bên phương Tây mà được vãng sinh đã trở thành
tín ngưỡng đệ nhất nghĩa. Nói theo lập trường này thì
tuy Tịnh Ðộ giáo có đủ ý nghĩa quan niệm dự liệu bên
trong, nhưng về mặt biểu diện thì thuyết chỉ phương lập
hướng của Thiện Ðạo Ðại sư ít ra cũng đại biểu cho
chủ ý của Tịnh Ðộ giáo, nếu cho nó chỉ tồn tại trong
quan niệm thì nói theo một ý nghĩa nào đó, hẳn là đã đi
ngược lại với Thánh Ðạo Môn.
TIẾT
THỨ HAI:
ÐIỂM
LỢI. HẠI CỦA THUYẾT QUAN NIỆM VÀ THUYẾT THỰC TẠI.
Bây
giờ, lấy vấn đề Kim Tử (cho rằng Như-Lai và Tịnh Ðộ
là sự tồn tại quan niệm) làm trung tâm để thảo luận vấn
đề Tịnh Ðộ quan niệm và Tịnh Ðộ thực tại, thì đứng
trên lập trường giáo lý sử mà nhận xét, bất luận vấn
đề nào cũng có lý do tương đương của nó. Sự bất đồng
chủ yếu trong vấn đề này là: căn cứ vào điểm xuất phát
là quan niệm Thiền mà nhận xét hay căn cứ vào kết quả
của sự biểu tượng hóa của Thiền mà nhận xét? Nếu đứng
trên lập trường chân tông truyền thống Tịnh Ðộ mà nói
thì thuyết của Kim Tử hơi tiền tiến thái quá, đó là điều
công còn hồ nghi gì nữa. Song cái nhận xét đó dù có phù
hợp với chân ý của Phật Gáio cũng như có thảo mãn được
nhu cầu lý tính của chúng ta không? Vì phương diện biểu
tượng tuy có, nhưng cái lập trường nhất quán của Phật
Giáo thông cả Tiểu Thừa và Ðại Thừa là tất cả đều
do nơi tâm, hơn nữa, cái căn cứ chung cùng của tôn giáo là
phải tìm nơi tinh thần: đó là phương pháp bất biến từ
ngàn xưa. Như vậy trong thuyết Quan niệm của Kim Tử, đứng
về mặt truyền thống mà nói, có nhiều điểm hợp lý. Ðối
lại với vấn đề này là lý tưởng tôn giáo tìm ở ngoài
tâm, theo thuyết truyền thống Chỉ phương lập hướng mà
tiến hành, tín niệm Phật A Di Ðà trong thế giới Cực Lạc
ở phương Tây, cầu sự tiếp dẩn để mong được an tâm
lập mệnh.
Như
vậy, nếu có thể nói có điểm lợi, hại trong vấn đề
quan niệm và thực tại thì đó là do có chỉ dương thống
hợp được hai phương diện này để tìm ra con đường chung
mà tiến hành Tịnh Ðộ Giáo hay không. Duy có điều đáng
tiếc là vấn đề này đã phát sinh nhiều nghị luận mà trong
đó không có một người nào đã có thể thử đưa ra phương
pháp điều hòa hai thuyết trên đây. Ða Ðiền Ðỉnh không
cho thuyết quan niệm của của Kim Tử là quan niệm cá nhân
của chúng ta mà lại cho nó là quan niệm của đức Thích Tôn
rồi đưa ra ý kiến tu chính. Song khốn nỗi cái ý kiến tu
chính đó lại không có được thỏa đáng tính lịch sử.
Sự thống hợp chân chính là phải lấy lịch sử làm bối
cảnh, biện minh đặc chất của giáo lý, rồi phải khảo
lự điểm lợi, hại của yêu cầu mới có thể thí nghiệm
được, bằng không thì đó chẳng qua là sự độc đoán mà
thôi.
TIẾT
THỨ BA:
THUYẾT
SINH THÀNH THỐNG HỢP HAI THUYẾT TRÊN.
Trong
khi tổng hợp Quan niệm Tịnh Ðộ và Thực tại Tịnh Ðộ,
đồng thời để cho phù hợp với mục đích của nó, đối
với cuộc vận động xã hội của Phật Giáo, cần phải đề
xuất một nguyên lý chỉ đạo. Ðó là vấn đề coi Như-Lai
và Tịnh Ðộ là mục tiêu lý tưởng có thể thực hiện ở
tương lai. Nói cách khác, Như-Lai và Tịnh Ðộ tuy được coi
như là quan niệm chủ quan, nhưng điều đó quyết không phải
chỉ thuộc về không tưởng, mà do ý chí của ta, nó có thể
được coi là một đồ án thực hiện được và sáng tạo
được. Ðiều này căn cứ vào cái gọi là "Nghiệp Luận Tổng
Hợp pháp" của Phật Giáo. Nghĩa là, nó được xây dựng trên
thuyết Do Nhiệp (ý chí, hành vi, tập khí) mà hình thành cái
lý pháp của chính mình và thế giới trong tương lai, một
đồ án lý tưởng giới dự định có thể thực hiện được.
Nhận xét này phù hợp với tinh thần kiến thiết Cực Lạc
thế giới của Phật Di Ðà. Nói theo kinh Ðại Vô Lượng Thọ
thì Phật A Di Ðà, trong thời kỳ còn là Bồ-Tát, đã tham
quan vô số Tịnh Ðộ, trải qua nhiều kiếp cố gắng, nhờ
cái gọi là Bản Nguyện Nghiệp-lực, cuối cùng đã kiến
thiết nên thế giới Cực Lạc. Tham-quan các Tịnh Ðộ chính
là để cấu thành đồ án, nhiều kiếp tu hành và cuối cùng
do nghiệp lực mà sáng tạo và thực hiện được. Nghĩa là,
Phật Di Ðà do đồ án mà sáng tạo Cực Lạc, còn chúng ta
lại lấy Cực Lạc làm đồ án rồi nhờ vào nỗ lực của
ý chí chúng ta mà trù hoạch việc thực hiện thế giới lý
tưởng: đó là ý nghĩa quan niệm Như-Lai và Tịnh Ðộ. Duy
Tịnh Ðộ của Phật Di Ðà do Bản Nguyện nghiệp lực mà
có, tuy đã được hoàn thành rồi, nhưng nói theo lập trường
của chúng ta, thì nó là cảnh giới sẽ được thực hiện
trong tương lai. Ðó là ý nghĩa Tịnh Ðộ đã phát xuất từ
lập trường này. Trong kinh Pháp-Hoa và Bát-Nhã đều nói các
Bồ-Tát do Bản Nguyện và nỗ lực, tương lai sẽ được thành
Phật và kiến thiết Tịnh Ðộ riêng của mình. Mà Bản Nguyện
nghiệp lực. Tóm lại không ngoài nghĩa ý chí phát động hợp
lý, do ý chí phát động hợp lý mà thế giới lý tưởng dần
dần được sáng tạo và thực hiện: đó là căn cứ lý luận
của việc kiến thiết Tịnh Ðộ. Do đó, nếu xuất phát từ
lập trường này, việc kiến thiết Tịnh Ðộ, tuy cũng biến
thành Bản Nguyện tự lực, nhưng thích ứng nó với lòng khao
khát thực hiện Như-Lai hay Tịnh Ðộ (gọi là Bồ Ðề Tâm
hay Phật Tinh) thì quên mất nỗ lực tự kỷ, quên sự khổ
nhọc của chính mình mà lại hoài bảo tha lực giúp đỡ,
do đấy mà đã không còn là tự lực mà thuần nhiên đã biến
thành Bản Nguyện tha lực. Cái mô phạm để hoàn thành Như-Lai
và Tịnh Ðộ tối cao cũng có thể được coi là tín ngưỡng.
Di Ðà và Cực Lạc đã biến thành chủ nghĩa tha lực chính
cũng không ngoài cái kết quả cực độ đó. Song mà lý tưởng
thì bất luận ở đây cũng đều là lý tưởng; chân ý của
Tịnh Ðộ vãng sinh là ở như tự mình thành A Di Ðà, tự
mình cấu tạo thế giới Cực Lạc, đến đây thì quan niệm
và thực tại đã không nhất trí: đó là điểm ta không thể
quên.
Tóm
lại, sự liên lạc giữa quan niệm và thực tại là quá trình
sáng tạo của ý chí và căn cứ vào đó mà được đổi thành
cái gọi là Tịnh Ðộ Sinh Thành. Mà quan điểm này, trừ kinh
Ðại Vô Lượng Thọ ra, còn nếu nhận xét theo lập trường
của nhất ban luận thì, trên giáo lý sử của Phật Giáo,
nó là Tịnh Ðộ quan có một địa vị trọng yếu. Duy có
điều bất hạnh là cho tới nay ý nghĩa của Tịnh Ðộ quan
đó vẫn chưa được thể hiện. Phật Giáo đồ ngày nay tuy
đã khởi xướng nhiều hoạt động xã hội, nhưng vì quá
khổ tâm về lý tưởng nên đã quên đi ý nghĩa thiển cận
của Tịnh Ðộ quan đó, nghĩa là họ đã quên đi vấn đề
của chính mình là kiến thiết Tịnh Ðộ ngay trong hiện thực
giới. Cái gọi là Tịnh Ðộ là căn cứ vào sự hoán chuyển
của tâm (Quán chiếu Tịnh Ðộ, hay nghệ thuật Tịnh Ðộ)
hay phải đợi đến sau khi chết mới thực hiện được ở
một cõi khác? Phật Giáo đồ tuy có những nguyên lý chỉ
đạo xã hội rất phong phú nhưng không khai thác được chúng
một cách triệt để. Nếu nghiên cứu kỹ ta sẽ thấy những
phương châm cụ thể để chỉ đạo xã hội có đầy dẫy
trong các Bản Nguyện của chư Phật và Bồ-Tát (xem lại mục
"Sự khai triển của tư tưởng Bản Nguyện"). Ðối với ý
nghĩa đó, chúng tôi thường chủ trương vận dụng tinh thần
Phật Giáo, trước hết là tinh thần Bản Nguyện theo ý nghĩa
tôn giáo, đạo đức và văn hóa, vào ngay cuộc sống hằng
ngày mà trái lại là để phát huy ý nghĩa đã có sẵn trong
giáo lý Phật Giáo từ lâu rồi. Tôi tin chắc những vị nào
đã từng nghiên cứu Phật Giáo theo lập trường văn hóa sử
sẽ rất dễ đồng ý với quan điểm đó.
Nhưng
chúng tôi cũng quyết không phải vì nhiệt thành với đối
tượng mà quên hay phủ định "thế giới bỉ ngạn" (thế
giới bên kia). Song đồng thời với thế giới bỉ ngạn, ta
cũng cần phải nổ lực thực hiện Tịnh Ðộ ngay trên "thế
giới thử ngạn" (thế giới bên này) nữa: đó là nhiệm vụ
mới của tất cả Phật Giáo đồ.
Đọc
Thêm:
Tìm
Hiểu Giáo Nghĩa Tịnh Ðộ Tông Nhật Bản, Ðịnh Huệ dịch
Kinh
A Di Ðà, HT. Thích Trí Tịnh Dịch
Kinh
A Di Ðà Sớ Sao, Tổ Chu - Hoằng, HT. Thích Hành Trụ dịch
Kinh
A Di Ðà Lược Giải, HT. Tuyên Hóa
Kinh
Niệm Phật Ba La Mật
Kinh
Vô Lượng Thọ Phật, HT. Thích Trí Tịnh Việt Dịch
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ Phật, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh Dịch
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ - Ngài Cương-Lương Gia-Xá dịch -
Việt dịch : Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
Lá
Thư Tịnh Ðộ, HT. Thích Thiền Tâm
Lời
Khai Thị Pháp Môn Niệm Phật Của Ngài Triệt Ngộ Thiền Sư,
Việt Dịch: Thích Ðạt Dương
Luận
Về Sự Cảm Ứng, Đại Sư Hám Sơn
Niệm
Phật Thập Yếu, HT. Thích Thiền Tâm
Niệm
Phật Viên Thông, HT. Tuyên Hóa