CHƯƠNG
THỨ TÁM
Ý
NGHĨA CHÍNH TRỊ
TIẾT
THỨ NHẤT:
CĂN
CỨ CHÍNH TRỊ QUAN CỦA PHẬT GIÁO.
Nếu
nói trong Phật Giáo có Chính Trị Luận chắc không khỏi có
người cho là kỳ quái. Vì bản ý của Phật Giáo là ở sự
giải thoát nên những vấn đề thế tục như chính trị chẳng
hạn rất dễ bị bỏ qua. Hơn nữa, nhìn qua lịch sử của
vị Thủy Tổ của Phật Giáo thì đức Phật vốn là con của
vị vua, ngài có thể nắm trọng guồng máy chính trị trong
nước, nhưng đã bỏ địa vị đó để xuất gia. Như vậy
theo quan điểm này, có thể nói cái gọi là quốc gia, chính
trị không phải là mối quan tâm của đức Phật. Ðiều này
đại khái đúng. Song, thật ra, nếu giải thích Phật Gáo theo
cách đó thì e rằng không được chính xác. Khác với Nho Giáo,
Phật Giáo không trực tiếp lấy việc trị quốc bình thiên
hạ làm tiêu xí, nhưng lý tưởng của Phật Giáo như trên
đã nói, là mưu cầu cuộc sống thực tế tự do, giải thoát
và hướng thượng. Nếu chính trị cũng là cuộc sinh hoạt
thực tế thì cái gọi là chính trị đạo đức quyết không
phải là vấn đề Phật Giáo bỏ qua. Trong những buổi thuyết
pháp, đức Phật cũng đã thường đề cập vấn đề chính
trị. Mà sự đề cập đó tuy ngụ một lý tưởng cao xa, nhưng
cũng rất phù hợp với thực trạng của đương thời. Không
những chỉ những người thời bây giờ được hưởng lợi
ích thực tế mà đối với chúng ta ngày nay cũng có nhiều
ám thị và chỉ đạo.
Vì
lẽ trên, nên ở đây tôi muốn bàn qua về Chính Trị quan
của Phật Giáo. Nhưng nếu muốn biết rõ Chính Trị quan của
Phật Giáo, trước hết ta cần phải hiểu qua cái thực trạng
quốc gia và chính trị của Ấn Ðộ ở thời đại đức Phật
như thế nào đã. Ðương nhiên, đứng trên lập trường văn
minh sử của Ấn Ðộ mà nói,đây là một vấn đề trọng
đại, không thể một sớm một chiều có thể nói cho tường
tận được, bởi tôi chỉ có thể nói một cách rất đơn
giản, và tóm tắt những điểm quan yếu mà thôi.
Ấn
Ðộ
vào thời đại đức Phật (thế kỷ V trước Tây lịch) chia
ra mười mấy nước trong đó những nước lớn mạnh thường
muốn thôn tính những nước nhỏ yếu, cho nên tình trạng
giữa các nước rất rối ren. Những nước nhược tiểu tìm
đủ mọi biện pháp chống trả để bảo vệ sự sống còn,
có khi liên minh với các nước nhỏ khác để tạo thành liên
bang cho đủ sức mạnh để đối địch lại với các nước
cường quốc. Nhưng trong tổ chức liên minh với các nước
nào có thế lực hơn thì lại giành quyền làm bá chủ, thành
thử giữa các nước nhỏ cũng lại tranh chấp nhau không dứt.
Tình trạng Ấn Ðộ vào thời kỳ này thật có nhiều điểm
tương tự như tình hình Trung Hoa ở thời Xuân Thu Chiến Quốc
vậy. Nếu nói về tình hình nội chính thì trong hơn mười
tiểu quốc đó có nước là Vương Quốc, có nước là Cộng
Hòa, chính thể tuy khác nhau nhưng người nắm quyền chính
trị thì đại khái là những người thuộc giai cấp Sát đế
lị (Sĩ-tộc), mà những người này vì muốn nắm lấy cơ
hội biến động để quật khởi nên một mặt muốn được
sự tin tưởng của giai cấp Bà-la-môn (giai cấp tăng
lữ, trí thức), mặt khác lại muốn mua chuộc lòng tin cậy
của giai cấp Thủ Ðà (nông nô), đó là một việc không phải
dễ dàng, nếu vô lý một chút có thể bị quần chúng oán
thán, do đó uy quyền sẽ suy giảm. Vì công việc nội chính,
ngoại giao phức tạp và khó khăn như thế nên các nhà làm
chính trị thường mong đợi ở một nhà tôn giáo danh tiếng
giúp ý kiến để vượt qua những khó khăn ấy. Ðức Phật
là một trong những vị đạo sư danh tiếng thời bay giờ,
cho nên người ta không lấy là lạ khi thấy Ðức Phật cũng
được hỏi ý kiến liên quan đến những vấn đề chính trị.
Và chính vì để giải pháp những vấn đề thực tế đó
mà Ðức Phật đã phát biểu quan niệm chính trị của Ngài.
Trong số đệ tử hoặc tín đồ của Phật vì có nhiều quốc
vương, đại thần nên Phật đã có nhiều cơ hội để trả
lời những câu hỏi của họ về đạo giải thoát cũng như
các vấn đề chính trị chủ yếu, do đó mà Phật Giáo đã
có Chính trị quan một cách ngoài ý định.
Phật
Giáo về phương diện này tuy có nhiều tài liệu nghiên cứu
nhưng tài liệu xưa nhất là tài liệu rải rác trong bộ kinh
A Hàm. Những tài liệu nổi tiếng về vấn đề này là những
kinh sau đây:
Vương
Pháp Chính Luận kinh (Phật nói cho vua Ưu Ðiền, một quyển),
Giản Vương kinh, Vương Pháp kinh (Phật nói cho Thắng Quang
Thiên Tử), Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Ðà La Ni kinh (10 quyển),
và Kim Quang Minh Tối Thắng Vương kinh. Ngoài ra, còn có Ðại
Tát Gia Ni Kiền Tử Sở Thuyết kinh, mượn lời Ðại Tát Gia
Ca để nói những điểm chủ yếu về chính trị. Căn cứ
vào những tài liệu trên đây Tỉn Thượng Ngũ Lang (người
Nhật) đã xuất bản một cuốn sách nhỏ nhan đề "Chính trị
và PHật Giáo" là một tài liệu cũng cần thiết cho việc
nghiên cứu Chính Trị Quan Phật Giáo. Song ở đây tôi chỉ
lấy kinh A Hàm làm trung tâm để nói một cách đơn giản về
Chính trị của Phật Giáo.
Chính
Trị Quan Phật Giáo, như đã nói trên kia, chủ yếu là những
lời giải đáp của Phật về những câu hỏi của các nhà
chính trị, đặc biệt là các Quốc Vương, cho nên hình thức
chuyên nói về Vương Ðạo Luận. Tuy nhiên, điểm qui kết
là lấy việc vua, tôi hòa thuận, trên dưới nhất trí làm
trọng điểm cho chính trị. Bởi thế, Vương Ðạo Luận của
Phật Giáo cũng mang đầy đủ ý nghĩa của Nhất ban chính
trị luận, chính vì theo nghĩa rộng đó mà gọi là Chính Trị
Quan Phật Giáo.
TIẾT
THỨ HAI:
NGUỒN
GÓC CỦA QUỐC GIA.
Cái
gọi là chính trị, chủ yếu không ngoài việc pháT huy một
cách hoàn toàn những tài năng quốc gia, do đó, nếu trước
hết không biết rõ nguồn gốc quốc gia thì không thể hiểu
được chức năng quốc gia ở chỗ nào.
Nói
theo Phật Giáo thì quốc gia, nhận xét về mặt tự nhiên thái,
bắt nguồn từ việc lấy lợi ích của mọi người làm trung
tâm. Căn cứ theo kinh Thế Kỳ, Thế Bản Duyên phẩm (Trường
A Hàm, quyển 22) thì khởi sơ thế giới này là một lạc độ,
cuộc sống con người không cần khó nhọc hay lo âu về miếng
ăn, manh mặc. Nhưng về sau, một mặt vì lòng dục của con
người mỗi ngày một tăng thêm, mặt khác vì sự thiếu thốn
những vật thực thiên nhiên, cho nên đối với đất đai đã
phát sinh chế độ tư hữu, và phải do tự lực cày cấy mới
có ăn. Trong những điều kiện ấy, lòng dục con người lại
càng phát mạnh, một mặt tích trữ và phòng thủ tài sản
của chính mình, mặt khác lại đi cướp bóc tài sản của
kẻ khác. Thêm vào đó, lại có bọn người "ngồi mát, ăn
bát vàng", tự mình không muốn lao động, chỉ muốn thụ hưởng
kết quả lao động của kẻ khác. Do đó, mà nhân gian đã
phát sinh những cuộc tranh đấu không ngừng. Dân chúng vì
không chịu nổi sự thống khổ đó nên mới cùng nhau suy tôn
người có uy đức lên làm vua, hay lãnh chúa để che chở,
bảo hộ họ, phân xử những điều chính, tà và thay họ để
phân chia tài sản, lập nên chế độ tiết ước: thế là
nguồn gốc quốc gia bắt đầu. Nói một cách đơn giản thì
quốc gia là cái quyền thống trị được quy định bởi kết
quả dân ước trong đó mỗi người dân đều muốn được
bảo vệ quyền lợi và tài sãn tư hữu của mình, điều này
có điểm phảng phất như tưởng pháp của Rousseau. Ðương
nhiên, tưởng pháp này chưa hẳn đã là tưởng pháp riêng
của đức Phật mà có thể là nhiều nhà luật học Bà-la-môn
thời bay giờ cũng cùng chung ý kiến ấy. Luật điển của
Bà-la-môn đã quy định nhiệm vụ của nhà vua là làm công
bộc cho quốc dân, để mưu đồ sự thịnh vượng và công
bằng trong nước, nhân dân phải lựa chọn lấy vua của mình.
Nhưng ta có thể nói cái phương pháp lấy dục làm trung tâm
mà hạn chế tư dục để trù mưu cuộc chung sống, chung hưởng,
giữa quốc gia và quốc vương phải có cơ năng là của Phật
Giáo.
Như
vậy, là đặc biệt trong Phật Giáo cũng có quốc gia quan mà
về sau đã dần dần được thuyết minh một cách rất tường
tận trong các kinh luận (như luận Câu Xá, Thế-gian phẩm).
Nhưng thật ra, mục đích chủ yếu của đức Phật không phải
dùng tự nhiên thái để luận về quốc gia. Sở dĩ Phật Giáo
dùng tự nhiên thái để nói đến nguồn gốc quốc gia là
muốn từ nay tiến đến đạo đức thái để mà phát huy cái
lý tưởng nội tại đó mới là cái yếu chỉ của chính trị.
Trên
đại thể, Phật Giáo chia chính trị quốc gia thành hai giai
đoạn: thứ nhất nói về chính trị trong các quốc gia đối
lập hiện thực. Thứ hai nói về chính trị trong một quốc
gia thống nhất lý tưởng. Nói một cách đơn giản, chính
trị quan Phật Giáo nhằm mục đích đưa các quốc gia đối
lập nhau tiến đến một quốc gia thống nhất, đó là tinh
thần căn bản trong chính trị quan của Phật Giáo.
TIẾT
THỨ BA:
CHÍNH
TRỊ ÐỐI VỚI CÁC QUỐC GIA ĐỐI LẬP.
Như
đã nói trên, Ấn Ðộ vào thời đại Phật chia thành nhiều
quốc gia đối nghịch nhau. Chính trị quan của Phật đối
với các quốc gia đối lập thật đã thích ứng với thực
trạng đó. Do đó, chính trị quan của Phật không khỏi bị
hạn chế bởi thời gian và không gian. Nhưng trong sự hạn
chế đó vẫn có thể thực hành được.
Vả
lại trong công cuộc cứu độ, đức Phật đối với tất
cả sự kiện đều vận dụng một cách khéo léo, uyển chuyển
cho hợp với cơ sở nhất ban luận. Bởi thế, chính trị quan
về điểm này, cũng có đặc trưng của nó, cho nên, không
những thời bay giờ nó đã được coi là đặc thù mà ngay
đến ngày nay nó vẫn có nhiều thỏa đáng tính.
Ðể
tiện việc khảo sát, sau đây tôi chia ra từng số mục nhỏ
để dễ hiểu hơn.
1.Bảy
Ðiều Kiện Ðể Kiện Toàn Quốc Gia.
Phải
kiện toàn quốc gia như thế nào để đề phòng sự xâm nhập
thù địch từ bên ngoài? Về vấn đề này, đức Phật đã
có ý kiến rất rõ. Ðể phòng bị sự xâm lược của một
nước hùng cường nhất thời bay giờ là nước Ma Kiệt Ðà
(Magadha), dân tộc Bạt Kỳ (Vajji) thành lập một nước Cộng
Hòa LIên bang, họ đến hỏi Phật về sách lược kiện toàn
quốc gia và Phật đã trả lời họ về vấn đền này. Truyện
được ghi trong bộ Trường A Hàm quyển thứ hai, kinh Du Hành
(Pàli, Trường Bộ thứ 16, kinh Ðại Ban Niết-Bàn), trong đó
tuy đức Phật có đề cập đến nhiều điều kiện để kiện
toàn quốc gia, nhưng căn bản nhất thì có bảy điều kiện
sau đây:
Thứ
nhất, thường phải tập hợp nhau lại (Hán dịch: phải hội
hợp luôn để luận đàm chính sự). Nghĩa là, những người
có trách nhiệm về chính trị phải hội họp luôn để kiểm
khảo những ưu, khuyết điểm trong chính phủ hầu bổ chính
những chỗ sai lầm, bất lợi.
Thứ
hai, lấy tinh thần hòa hợp mà nhóm họp, lấy tinh thần hòa
hợp mà thảo luận quốc sự (Hán dịch: Vua, tôi hòa thuận,
trên dưới kính, nhường). Nghĩa là phải lấy quốc gia làm
trung tâm, lấy tinh thần công chính mà lo quốc sự. Thánh đức
Thái Tử đặt cau sau đây trong điều thứ nhất của Hiến
Pháp "Lấy hòa làm quý, lấy nhu thuận làm tôn" đại khái
đã chịu ảnh hưởng tinh thần trên đây. Lấy sự lợi hại
của một đảng phái mà tham dự quốc sự thì quyết không
phải là chính sách làm cho quốc gia phồn vinh : điều này
đức Phật đã bảo cho chúng ta biết từ lâu lắm rồi.
Thứ
ba, tôn trọng luật pháp truyền thống của quốc gia, không
làm theo luật lệ không ban hành (Hán dịch: phải tuân hành
pháp cấm kỵ, không trái lễ độ). Mỗi nước đều có lịch
sử và tập quán riêng, dân chúng theo đó mà quy định sự
sinh hoạt của mình, cho nên những cái đó phải được tôn
trọng, nếu hủy bỏ nó để đặt ra những luật lệ mới
một cách bừa bãi thì đó tức là đã coi thường truyền
thống.
Thứ
tư, kính trọng những bậc trưởng thượng trong nước, nghe
ý kiến của họ (Hán dịch: hiếu thờ cha mẹ, kính thuận
sư trưởng). Trong bản Hán dịch tuy chỉ nói là hiếu thuận
cha mẹ, kính thuận sư trưởng, nhưng theo văn Pàli thì ý nghĩa
chính trị của câu này có thể nói là phải tôn kính những
người lão luyện thông hiểu chính tình hoặc tập quán của
quốc gia và coi trọng ý kiến của họ. Về điểm này, có
thể nói Phật muốn ám chỉ ý nghĩa Cơ Mật Viện hay Nguyên
Lão Viện.
Thứ
năm, phụ nữ trong nước phải giữ hạnh tiết tháo trinh bạch
(Hán dịch: khuê môn chân chính, khiết tịnh vô uế). Muốn
kiện toàn quốc gia phải bắt đầu từ việc kiện toàn gia
đình. Mà kiện toàn gia đình phải lấy việc khuê môn chân
chính làm trung tâm. Trong Pàli tuy chỉ nó đến phụ nữ, nhưng
ở một phương diện khác, Phật cho đàn ông cũng phải có
tiết tháo mới kiện toàn được gia đình.
Thứ
sáu, tôn sùng các nơi linh miếu trong nước (Hán dịch: cũng
sự tôn miếu, trí kính quỷ thần). Ðứng trên lập trường
Ðệ Nhất Nghĩa Ðế, về hình thức sùng bái tôn miếu, có
thể nói đức Phật tuy không coi là trọng yếu, nhưng về
phương diện quần chúng phổ thông, đại khái Phật muốn
dùng hình thức đó để giáo dục mọi người hầu dần dần
tạo thành một tập tục kiền kính đôn hậu.
Thứ
bảy, như pháp tôn kính và bảo hộ các vị A La Hán (Hán dịch
tôn thờ Sa Môn, cung kính những người trì giới). Ở đây
nói La Hán chủ yếu chỉ là các vị tu sĩ Phật Giáo. Ở mục
trên Phật bảo phải sùng bái các nơi tông miếu là vì Phật
tôn trọng tinh thần truyền thống và tập tục của dân Bạt
Kỳ. Còn ở đây Phật muốn khuyến khích họ kính trọng các
nhà tôn giáo chân chính và nghe theo lời giáo hóa của họ.
Tôi cho rằng điều thứ hai trong Hiến pháp Thánh Ðức Thái
Tử có lẽ đã phát xuất từ điều thứ bảy này.
Tóm
lại, tất cả những điều kiện trên đây hoàn toàn đứng
trên cơ sở đạo đức và tôn giáo. Theo Phật thì sự kiện
toàn quốc gia chân chính hải lấy việc kiện toàn đạo đức
làm trung tâm. Ðương nhiên, như sẽ trình bày ở sau, Phật
Giáo tuy cũng dạy phải chỉnh bị quân sự, phát triển tài
chính,cải thiện vệ sinh, v.v… nhưng trung tâm điểm thì trước
sau vẫn ở chỗ phải gìn giữ chính pháp: đó là quan niệm
căn bản về chính trị của Phật Giáo. Ðiều thích thú là
quan niệm đó không phải chỉ là lý luận, mà nó có hiệu
quả rất thực tế: nhờ thi hành theo bảy điều kiện trên
mà dân tộc Bạt Kỳ trở nên hùng cường và nước Ma-Kiệt-Ðà
không thể nào chinh phục được . Ðây là một sự thật lịch
sử hiển nhiên.
2.
Về Nghĩa Vụ Của Nhà Vua.
Những
điều kiện trên, đặc biệt không có quy định quyền lợi
và nghĩa vụ của nhà vua. Nhưng các nước Ấn Ðộ ở thời
đại Phật phần nhiều theo chế độ quân chủ, cho nên đối
với nghĩa vụ của nhà vua, đức Phật đã nói đến rất
nhiều trong quan niệm chính trị của Ngài. Trong một nước
quân chủ, theo nguyên tắc, trung tâm chính sự là nhà vua. Hơn
nữa, các vua chúa thời bay giờ, trên thực tế phần nhiều
nhờ vào binh lực mà duy trì địa vị, bởi thế dụng tâm
của họ đối với việc nước, tốt hay xấu rất có ảnh
hưởng trực tiếp và to lớn. Ðặc biệt trong luật điển
của Bà-la-môn đã có riêng một chương nói về quyền lợi
và nghĩa vụ của nhà vua. Ở lĩnh vực chính trị vấn đề
này là một vấn đề hết sức trọng đại. Trong lúc còn
là Thái Tử chính Phật cũng đã nghiên cứu pháp điển, thâu
thập ý kiến rồi phụ thêm lý tưởng của Phật để cảm
hóa những ông vua đã quy y Ngài.
Quốc
vương, vì là một người thống lĩnh muôn dân, nên về mặt
nghi biểu, điều làm cho người ta chú ý nhất là cái tư đức.
Nếu một ông vua không có tư đức thì dù có những thủ đoạn
xảo diệu đến đâu cũng không thể tâm phục được dân
chúng. Do ý nghĩa ấy cho nên đức Phật, khi nói chuyện với
các vị quốc vương về chính sự, thường khuyên họ trước
hết phải bồi dưỡng tư đức. Nghĩa là, nhà vua phải thanh
liêm khoan hậu, đạo đức nhân từ, không nên uống rượu,
việc khuê phòng cần có tiết tháo, trinh nhân cách hướng
thượng (Tăng Nhất A Hàm quyển 42, nói về 10 đức của nhà
vua_ tham chiếu Nguyên thủy Phật Giáo Tư Tưởng luận, trang
351 - 352). Lấy nỗ lực tranh thủ nhân tâm: đó là thủ đoạn
cần thiết. Mà việc thu phục nhân tâm điều chủ yếu là
phải làm thế nào cho quan quân hòa mục nghe theo những lời
trung thực, niềm nở với mọi người, và yêu thương nhân
dân. Về vấn đề quân sự phải vận dụng một cách điều
độ, phát triển kinh tế và tài chính, dùng người phải căn
cứ vào khả năng và đặt đúng chỗ, đặc biệt chú ý về
vệ sinh: đó là những điều cần thiết để tạo nên một
nền chính trị lành mạnh (xem kinh Phật Vi Ưu Ðiền Vương
Thuyết Vương Pháp Chính Luận). Mà cái phương châm chính trị
đó trước sau phải lấy chính pháp làm nền tảng, dùng chính
nghĩa và nhân ái mà chi phối nhân dân. Ở điểm này, nếu
nói một cách lý tưởng, thì không để cho một chút tư lợi,
tư dục xen vào. Việc thu thuế má, việc xét xử phán quyết,
tất cả đều phải y theo pháp luật (trong 10 đức của nhà
vua). Pháp luật đây chỉ là những luật pháp đã viết thành
văn do pháp điển quy định, hoặc là những luật pháp không
được viết thành văn do tập quán, phong tục quy định. Tóm
lại tuy là vua nhưng không được sửa đổi những luật pháp
đó để khuynh hướng đến chỗ độc tài chuyên chính: có
thể nói quan điểm này rất có cái khí vị cận đại. Chính
trị tuy xây dựng trên tinh thần nhân ái, nhưng đối với
những kẻ phạm pháp bất nghĩa thì nhà vua có nhiệm vụ phải
nghiêm trị.
Trong
kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương đã có những điều cảnh
giác sau đây:
Thứ
nhất, nếu nhà vua không ngăn cấm những kẻ ác tức là đã
đi ngược lại với chính lý. Phải theo đúng chính pháp mà
trị dân. Có theo đúng chính pháp mới xứng đáng làm vua.
Nếu không làm theo chính pháp ắt sẽ bị nhân dân lật độ
một cách dễ dàng cũng như voi dẫm lên bông sen.
Thứ
hai, nếu lấy điều phi pháp trị dân thì dân sẽ làm loạn,
quần thần phải chết, bản thân vua cũng chẳng yên, những
kẻ địch ở ngoài xâm lược, quốc gia tiêu vong.
Thứ
ba, dù có mất ngôi vua, hại đến thân mệnh cũng quyết không
làm điều phi pháp. Ðiều tai hại nhất là dùng những kẻ
xiểm nịnh, cũng như người thả voi vào vườn hoa, dùng kẻ
xiển nịnh sẽ có ngày mất ngôi vua. Nếu vua coi người thân
thuộc và nhân dân đều bình đẳng, làm đúng chính pháp,
không gây bè phái, thiên vị thì danh tiếng vua được lừng
lẫy. Cho nên, người làm vua phải quên mình mà mở mang chính
pháp, tôn trọng chính pháp, dạy người làm 10 điều lành,
nếu được thế thì quốc gia phú cường, nhân dân an lạc
(Tân dịch Phật Giáo Thánh Ðiển, trang 1367).
Theo
Phật thì cái tư cách của nhà vua mới là quan trọng chứ
không phải là thủ đoạn hay sức mạnh, mà tư cách đó chính
là tinh thần làm theo chính pháp, tránh xa ác pháp.
3.
Ðặc Biệt Về Chính Trị Và KinhTế.
Theo
Phật Giáo thì điều chủ yếu trong chính trị là mưu đồ
và hoàn thành sự cộng tồn, cộng vinh cho dân chúng. Nghĩa
là, không ai xâm phạm đến ai, cùng nhau chung sống để tăng
tiến tự do và hạnh phúc của mọi người. Do đó, mà giữa
sinh hoạt chính trị và kinh tế của dân chúng có sự quan
hệ mật thiết. Theo một ý nghĩa nào đó, ta cũng có thế
nói, mục đích của chính trị là hy vọng phân phối tài sản
một cách công bằng và chính trực. Mà điều này tất cả
các nhà luật học và chính trị học của Ấn Độ đều chủ
trương như thế.
Nhưng
theo Phật Giáo, làm thế nào để an định đời sống kinh
tế của quốc dân? Về vấn đề này, theo chỗ tôi nghiên
cứu, tuy không có phương pháp cụ thể nào được nói đến
một cách tường tận, nhưng chủ ý căn bản của Phật Giáo
là muốn vấn đề phân phối tài sản giữa dân chúng phải
hết sức công bằng đừng để ai phải lo âu về việc ăn
mặc. Một hôm đức Phật thấy một nhà đại phú đang lập
một đàng tế lễ lớn, sau khi hỏi về phương pháp tế lễ,
đức Phật nói “Bày việc tế-lễ lớn, tốn tiền của mà
không ích lợi, trái lại lợi ích lớn nhất là hãy làm cho
tất cả dân chúng đều được no đủ”. Lại như kế sách
làm cho quốc gia thái bình an lạc, đức Phật cũng có ý kiến
“Đại Vương! Vì muốn chấm dứt những hành động phi pháp
của dân chúng mà Đại-Vương đã ra những luật lệ phạt
tiền, trục xuất, hạ ngục và xử tử, tuy phương pháp đó
mãnh liệt thật nhưng không công hiệu bằng phương pháp này:
những người làm ruộng và chăng nuôi thì cấp cho họ hạt
giống và thực vật, những người buôn bán thì cấp vốn
cho họ, những người làm quan thì phải tùy theo khả năng
mà thăng trưởng luôn, nếu làm được như thế thì mọi người
đều hết lòng phục vụ mà quốc gia không sinh biến loạn”
(Xem Palì Trường Hàm quyển 15_Kutadantasutta_Tân dịch Phật
Giáo Thánh Điển 55). Suy đó thì biết đức Phật cũng nhận
là hể ăn mặc đầy đủ thì có lẽ tiết. Tóm lại, quan
niệm của Phật là nếu muốn cho đời sống kinh tế của
dân chúng được ổn định, sự phân phối tài sản phải
triệt để công bằng.
4.
Phật Giáo Với Chủ Nghĩa Tiệm Tiến.
Trong
các tôn giáo tại Ấn Độ, đức Phật, một mặt là một
nhà đại lý tưởng, đồng thời mặt khác, lại là một nhà
tôn giáo rất thực tế, áp dụng phương pháp tiệm tiến được
mệnh danh là: “thiện xảo phương tiện” để thực hiện
mục tiêu lý tưởng. Bởi vậy, công cuộc tịnh hóa xã hội,
Phật Giáo chủ trương đường lối tiệm tiến, chứ không
chủ trương cách mệnh tiến. Nói một cách cụ thể, về vấn
đề xã hội, Phật tuy không chủ trương xóa bỏ triệt để
sự phân biệt giai cấp, nhưng thừa nhận mọi người trong
xã hội đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau; tuy không
phải đối chế độ tài sản tư hữu, nhưng như đã nói ở
trên, hy vọng sự phân phối tài sản phải công bằng. Tuy
vẫn duy trì cái nhân cách tôn nghiêm, nhưng phải dựa vào
nhau, giúp đở nhau, lấy cái gọi là “công nghiệp sở cảm”
để đưa quốc gia đến chỗ hòa bình an lạc đạo đức,
phồn vinh làm trung tâm điểm của chính trị.
TIẾT
THỨ TƯ:
QUỐC
GIA LÝ TƯỞNG VÀ CHÍNH ĐẠO.
Chính
trị quan nói trên tự nó có tính cách rất lý tưởng rồi,
nhưng nó vẫn lấy thực trạng của các quốc gia đối lập
đương thời làm mục tiêu. Song lý tưởng tối cao của Phật
về quốc gia quyết không phải ngừng lại ở trạng thái quốc
gia đối lập, mà là muốn thống nhất tất cả thành một
quốc gia lý tưởng duy nhất. Trong Phật Giáo có nhiều cách
thuyết minh lý tưởng đó, nhưng tựu trung đại biểu cho những
hình thức đó là tư tưởng “Chuyển Luân Thành Vương”
(Cakravartin). Tư tưởng Chuyển Luân Thành Vương đã phát sinh
vào thời đại đức Phật; Ấn Độ lúc đó tuy chia thành
nhiều nước nhỏ đối lập nhau, nhưng cũng đã có khuynh hướng
dần dần tiến đến sự thống nhất mà vị vua thích ứng
với tư tưởng này cũng tương tự như lý tưởng chúa cứu
thế của Do Thái. Sau khi Phật giáng sinh không lâu đã có ông
thầy tướng đoán rằng nếu Phật không đi tư tưởng mà
làm vua thì sẽ thành một vị Chuyễn Luân Vương, truyền thuyết
này chính đã xuất phát từ tư tưởng trên. Mà Phật vì xuất
gia làm bậc Chuyển Luân Vương của Pháp giới, nên ở lĩnh
vực chính trị lý tưởng, tuy nhiên vẫn lấy quốc gia do Chuyễn
Luân Vương chi phối làm tối cao, chiếu theo nhiều trưng-chứng,
ta thấy đó là một sự thật.
Song
Chuyển Luân Vương là một vị vua như thế nào? Về vấn đề
này, căn cứ theo sự ghi chép nhất luật trong các kinh điển
thì Chuyển Luân Vương phải thành tựu bảy thứ báu, tức
là: bạch tượng, cám mã (ngựa đỏ), thần châu, ngọc nữ,
cư sĩ, chủ bi và luân (bánh xe). Bạch tượng và cám-mã
tượng trưng cho sự hoàn bị về sản sinh và giao thông, thần
châu tượng trưng cho nền tài chính sung thực, ngọc nữ và
cư sĩ tượng trưng cho nhân dân lương thiện, chủ bích có
thể nói tượng trưng cho uy quyền, còn luân thì tượng trưng
cho sự thực hành Chính pháp một cách trọn vẹn, đầy đủ.
Như vậy, ý nghĩa câu “chuyển Chính Pháp Luận” đã
xuất phát từ đấy.
Theo
truyền thuyết thì Chuyển Luân Vương là người đủ tư cách
bảy báu trên và vào đêm trăng tròn từ trên trời tự nhiên
hiện xuống. Nhưng đây chỉ là thí dụ. Thật ra, Chuyển Luân
Vương lấy chính nghĩa làm trung tâm, khi có đủ sáu điều
kiện tức là đã có tư cách thống nhất thiên hạ, thì xuất
hiện. Lấy bánh xe Chính pháp làm cơ hiệu, trước hết chinh
phục phương Đông, nhờ uy lực của Ngài, không dấy can qua,
nguy hiểm trở lại bình an, cong thành thẳng, tự nhiên bình
định. Rồi lại từ các phương Tây, Nam Bắc cũng như thế,
cho đến cuối cùng toàn thể thế giới thống nhất trong hòa
bình: Đó là cái uy lực đặc hữu của Luân Vương chủ yếu
là lời giáo huấn đạo đức. Quy tắc thông thường là: “không
giết hại, không đạo đức, không gian dâm, không uống rượu”.
Đối với các quần thần nhà Vua thường nói: “Chỉ dùng
Chính-pháp mà trị, không để cho những việc phi pháp xảy
ra trong nước”. Nhờ đó mà nhân dân dưới quyền thống
trị của Chuyển Luân Vương đều được thỏa mãn, không
ai bất bình, không có đấu tranh, v.v…Trong kinh cũng nói: Đất
cát phì nhiêu, nhân dân thịnh vượng, tính tình nhu hòa, từ
hiếu trung thuận” (Trường Hàm quyển 6, Chuyển Luân Vương
Tu Hành kinh, Đại Chính Tạng I, 39, trang 40).
Nhưng
khi nào thì Chuyển Luân Vương xuất hiện? Về điểm này,
có câu nói: “Chính pháp tại thế, Luân Vương bất tuyệt
kỳ kế”. Nghĩa là bất luận khi nào có Chính Pháp thì Luân
Vương sẽ xuất hiện tại đó. Nhưng, trên thực tế, kể
cả thời đại Phật, cho đến nay vẫn chưa thấy Chuyển Luân
Vương ra đời. Theo truyền thuyết Phật Giáo thì vị vua này
tuy cũng thường xuất hiện, nhưng khi xuất hiện với tất
cả mọi hình thái chân chính thì có lẽ còn ở một tương
lai lâu xa lắm. Nghĩa là trong tương lai, khi Phật Di-Lặc ra
đời thì Pháp giới Chuyển Luân lúc đó sẽ dùng hình thái
của Chuyển Luân thế tục giới là Sankha mà xuất hiện. Về
cái trạng thái của thế giới lúc đó tuy có vẻ rất không
tưởng, nhưng cũng có nhiều ám thị rất phong phú, và sau
đây xin trích dịch một vài đoạn trong các kinh để dẫn
chứng:
“Lúc
bấy giờ, cõi diêm phù (toàn thế giới) Đông, Tây, Nam. Bắc,
trong khoảng mười vạn do tuần sông, núi và đá đều tự
tiêu diệt, nước trong bốn biển lớn tụ lại một phương.
Đất cõi diêm-phù lúc đó rất bằng phẳng và sáng như mặt
gương, thóc lúa đầy dẫy, nhân dân no ấm, rất nhiều của
báu, các thôn ấp liền nhau, và chim chóc ca hát suốt ngày.
Lúc
đó, những cây trái xấu sẽ chết khô, mùi hôi thối tự
nhiên tiêu diệt và thai vào đó, cây trái ngon ngạt, hương
vị thơm tho sinh trưởng. Khí trời hòa dịu, bốn mùa thuận
tiết, thân thể không sinh bệnh tật, tham dục. sân khuể và
ngu si không phát động. Lòng người bình đẳng, đều cùng
một ý, thấy nhau là vui mừng, nói với nhau những lời tốt
lành, cùng nói một thứ tiếng, không có sai khác, đúng như
người ở Bắc-Câu-Lư-Châu. Khi muốn đại tiểu tiện thì
đất tự nhiên mở ra và sau khi xong rồi tự nhiên khép lại.
Lúc
ấy trong cõi Diêm-Phù, gạo tự nhiên sinh, không có võ trấu,
mùi thơm rất ngon. Còn vàng bạc, trân bảo, xà cừ, mã não,
trân châu, hổ phách thì rải rát đầy mặt đất, không ai
thu nhặt. Lúc ấy, nhân dân tuy cầm của báu đó mà nói với
nhau: “Ngày xưa, vì những của báu này mà người giết nhau,
giam cầm trong ngục, gây cho nhau nhiều khổ não. Còn ngày nay
thì những của báu này cũng như gạch ngói, không ai lấy giữ”
(Tăng Nhất Hàm, quyển 44, Đại Chính Tạng II, 787, trang 8).
Nếu tóm tắc một cách đơn giản những đặc chất đó thì:
1.
Toàn thế giới được thống nhất, bất luận núi hay biển
đều không làm chướng ngại sự giao thông.
2.
Mọi người đều sống cuộc đời an nhàn và phát huy những
thiết bị văn hóa.
3.
Ngôn ngữ trên thế giới cũng thống nhất, mọi người đều
cùng một lòng.
4.
Vàng bạc châu báu mất hết giá trị: đó là cơ điểm chủ
yếu.
Điều
thú vị là Phật Giáo dự đoán những hiện tượng này có
phải là một lý tưởng? Nhiều điểm, chẳng hạn, sự phát
triển giao thông trên toàn thế giới, sự hoàn bị về đường
sá, ngày nay đã thực hiện rất nhiều. Duy có điều không
may là ngày nay thế giới ngôn ngữ chưa được thống nhất,
nhân loại vẫn chưa tiến đến chỗ gặp nhau vui mừng, nhất
là đối với vàng bạc châu báu thì lòng tham càng tăng thêm
đến nổi biến nó thành nguồn gốc của mọi tội ác, đó
là trạng thái của thế giới hiện nay.
Nhưng
dù sao những lời dự đoàn trên không phải hoàn toàn không
tưởng, trái lại, cũng có điều có thể thực hiện được.
Không những thế, dù công cuộc xúc tiến Chính-pháp nên những
lý tưởng ấy tất sẽ có thể thực hiện trên thế giới
này. Chúng ta tin chắc cuối cùng thế giới có thể được
thống nhất theo lập trường nhân đạo và văn hóa. Song lúc
đó thì cái gọi là Chuyển Luân Vương sẽ xuất hiện dưới
hình thái nào? Dĩ nhiên đây là điều không thể quyết đoán
ngay được. Nhưng bất luận dưới hình thái nào, lấy lý
tưởng Luân Vương làm tiêu chuẩn, nỗ lực theo phương diện
nhân đạo và văn hóa mà xúc tiến công cuộc thống nhất
thế giới: Đó là nghĩa vụ đạo đức của tất cả cá nhân
cũng như các quốc gia mà Phật Giáo đã đề xướng.
Lấy
quốc gia chi phối bởi Luân Vương mà lý tưởng, hóa thêm
một bậc nữa tức là tư tưởng Chân Phật Tịnh Độ. Nhưng
về xã hội lý tưởng Tịnh Độ vì đã nói ở các chương
khác rồi, nên ở đây thiết tưởng không cần phải lập
lại nữa.
HẾT
Chân
thành cảm ơn Thầy Thích Đồng Thường và quý Thầy cùng
Phật tử Chùa Giác Nguyên đã hoan hỷ giúp đánh máy vi tính
ba quyển Phật Giáo Tư Tưởng Luận do HT. Thích Quảng Độ
dịch và bộ Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật do Hoà Thượng Thích
Trí Tịnh dịch (Tâm Diệu)