CHƯƠNG
II
TÀI
LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT TRUYỆN
Phật-đà-luận
của các phái Tiểu thừa không phải nghiên cứu về Phật
truyện tự thân mà là căn cứ vào Phật truyện đã được
tổ chức thành một hình thái nhất định để nói rõ ý nghĩa
thần học của nó. Do đó, để hiểu cái dụng ý của họ
vê Phật-thân-quan, trước chúng ta cần phải biết rõ về
Phật truyện đã được tổ chức thành một hình thái nhất
định ấy. Song, Phật truyện này dù cho được tổ chức hoàn
hảo đến đâu đi nữa thì cũng chưa chắc đã đúng với
sự thực lịch sử, vì nó đã trải qua nhiều giai đoạn mới
được thành lập, cho nên đối với những quá trình và tư
liệu đã tạo thành Phật truyện ấy, chúng ta không thể không
biết tới.
Như
đã nói ở trên, Phật giáo lấy sự tự giác và nhân cách
của đức Phật làm nền tảng để thành lập, và trong thời
đại Phật giáo Nguyên Thủy này, Phật và pháp vốn là nhất
như. Song, có điều người ta lấy làm lạ là trong các ký
lục cổ xưa, Phật truyện không thấy được lưu truyền.
chỉ thấy trong Đại phẩm luật văn Ba li (Ngũ-phần-luật
quyển 15 (Đại chính, 21, tr. 101), bắt đầu từ phổ hệ dòng
Thích Ca, đại khái tuy nhất trí, nhưng so với văn Ba li không
được rõ ràng mấy), tương đối ghi chép tường tận từ
khi Phật thành đạo, độ cho vị đại đệ tử là Ca-Diếp,
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên cho đến khi thành lập Tăng
già. Phật-ban-nệ-hoàn trong Trường-A-Hàm (Đại-Chính, I, tr.
160, phần giữa) thì chỉ ghi chép những sự tích trong ba, bốn
thán truớc khi Phật nhập diệt mà thôi. Ngoài ra, tất cả
những sự tích khác chỉ được lưu truyền một cách rời
rạc, không có đầu cuối mạch lạc: đó là một điều rất
đáng buồn! Nhất là về những lý lịch trước ngày đức
Phật thành đạo hiện nay vẫn còn rất nhiều chỗ ta chưa
được rõ; chẳng hạn như động cơ xuất gia và quá trình
tu hành, tất đều do chính đức Phật lúc về già hồi tưởng
lại và nói cho các đệ tử nghe, ngày nay chúng ta chỉ được
biết một cách rải rác (1) mà thôi.
Nhận
xét như trên ta thấy có vẻ như trái ngược với lập trường
“Phật-pháp-nhất-như”, nhưng suy nghĩ kỹ một chút, ta thấy
điều đó không có gì lạ cả. Vì sau khi Phật vừa nhập
diệt các vị đệ tử đối với Phật vẫn còn nhớ tiếc,
hơn nữa, theo đúng lời di chúc của Phật là lấy pháp làm
nơi nương tựa nên việc khẩn yếu trước là phải biên tập
những giáo pháp của Phật, còn chính Phật truyện thì lại
không phải việc cấp bách, do đó mà trong các bản ký lục
cổ xưa đã thiếu hẳn tính cách tổng hợp trong sự thuyết
minh về Phật truyện. Về điểm này, có thể nói giữa Phật
giáo và Cơ Đốc giáo rất tương đồng: vào thời kỳ đầu,
khi biên tập những lời giáo huấn của Gia Tô, giáo đồ Cơ
Đốc đều giáo lý làm trung tâm, còn như nhân cách hoạt động
của Gia Tô thì chỉ được dự tưởng đằng sau giáo lý đó
mà thôi.
(1)
– M. IV. Bhaya bheravasutta (Tăng-nhất-a-hàm quyển 93, Tăng thượng
phẩm sơ, Đại chính, 2, tr. 665 phần giữa)
-
M.XIX Dvcdhàvitakkasutta (Trung-a-hàm quyển 2, Niệm Kinh, Đại
Chính, 1, tr. 589 phần đầu).
-
M XXVI, Ariyapariyesanasutta (Trung-a-hàm quyển 56, La-ma kinh, Đại
Chính, 1, tr. 775, phần cuối).
-
M. XXXVI Mahàsaccakasutta
-
Qldenberg: Buddha, 4 suf, S, 101.
Song
mà cách Phật mỗi ngày một xa, thậm chí các vị đệ tử
thân cận với Phật cũng lần lượt qua đời, do đó niềm
luyến tiếc đáng giáo phụ lại càng thêm khẩn thiết và
muốn hình dung lại cuộc đời của Phật đến một trình
độ nào đó để biên tập thành Phật truyện là tất nhiên
phải có. Chính vì thế mới có Phật truyện bằng văn học
được truyền đến ngày nay. Song, xét về nội dung của Phật
truyện đó, như sự tích trước khi xuất gia, ta thấy biến
đổi rất rõ ràng. Điều này không những chỉ hạn cuộc
trong sự tích sau khi giáng sinh tại thành Ca-tỳ-la-vệ mà còn
tru đến lý lịch (?) mấy trăm nghìn kiếp sinh tử luân hồi
trước kia cũng rất rõ ràng. Đại biểu cho điều đó chính
là Bản-sinh-đàm rất nổi tiếng (I). Rồi lại muốn đem phối
hợp với sự tu hành và thêm ít nhiều tính cách thần học,
chính là Lợi-đa-tỳ-đa-ca (Sở-hành-tán, 35 quyển) cũng được
kể là một tiểu bộ trong năm bộ Ni-ka-da bằng văn Ba-li.
Như vậy, nhân cách của đức Phật được nhận là quá vĩ
đại, không những do sự tu dưỡng trong kiếp này mà có được
mà còn do công tu hành từ bao nhiêu kiếp trước nữa; thêm
vào đó, khi thuyết pháp, đức Phật lại thường dùng những
cố sự có tính cách đồng thoại được lưu hành ở thời
bấy giờ để nói rõ mối nhân duyên quan hệ của Ngài ở
quá khứ để tỏ cho thính chúng biết tất cả không phải
là ngẩu nhiên, cho nên, cuối cùng, những cố sự đó đã
được coi như một yếu tố của Phật truyện, dần dần con
số tăng thêm lên, rồi lại được chỉnh lý để rồi kết
quả trở thành Bản-sinh-đàm hay Sở-hành-tán. Về Bản-sinh-đàm,
nếu phán đoán theo các điêu-khắc-phẩm được biểu hiện
tại Sơn địa, Ba-lô-phúc-độc và A-ma-lạp-ngõa-cơ, v.v…,
vào thời đại A-dục-vương hoặc sau đó không lâu, thì ta
có thể nói rõ đã được thành lập rất sớm. Nếu đứng
về mặt biểu hiện mà nhận xét, thì Bản-sinh-đàm chẳng
qua chỉ là những cố sự được giáo-huấn-hóa, nhưng, nếu
đứng về trang nghiêm Phật truyện mà nhận xét, đồng thời,
về phương diện lấy Phật và Bồ tát làm trung tâm để triển
khai tư tưởng Phật giáo, về điểm này, Bản-sinh-đàm quả
thực đã là nguyên-động-lực được phát huy một mức độ
ngoài sức tưởng tượng. A-Tỳ-Đạt-Ma lấy Bồ tát luận
làm vấn đề pháp tướng thật sự đã là đề mục liên
quan đến Bản-sinh-đàm hoặc Sở-hành-tán. về sau, Đại thừa
Phật giáo lấy Bồ tát làm trung tâm để phát triển, nếu
truy nguyên ra, ta thấy tư tưởng đó thật cũng xuất phát
từ Bản-sinh-đàm. Tóm lại, do sự thành lập của Bản-sinh-đàm,
từ mấy trăm nghìn muôn kiếp quá khứ đến khi thành Phật,
ít ra là về mặt tài liệu có thể nói Phật truyện đã đạt
đến giai đoạn hoàn bị.
(1)
Fausboll; jàtaka, vols. VII, London 1877. (Nguyên điển). Kern; Jàtakamàlà
vol. 1, Harvard University Press 1914 (Nguyên điển), Dutoit; Jàtakam,
Munchen (dịch)
Cowell;
The Jàtaka, Cambridge 1895 (dịch)
Speyer;
The Jàtakamàlà (S.B.B) London 1895 (dịch).
Như
vậy là Phật truyện đã được thành lập với sự kết hợp
của những tài liệu tưởng tượng và những tài liệu sử
thực và được truyền lưu đến ngày nay dưới nhiều hình
thái. Hình thái chủ yếu và hoàn bị hơn cả dĩ nhiên phải
kể đến bản chú thích về Bản-sinh-đàm (I) của Nam-Phương,
đầu tiên được viết là Nhân-duyên-đàm, khởi thủy từ
các kiếp quá khứ cho đến sự thiết lập Kỳ-viên-tinh-xá.
Tác phẩm này viết tại Tích Lan, nếu đứng về phương diện
thời gian mà nhận xét thì tuy nó có vẻ rất mới, nhưng nếu
xét về phương diện xuất xứ thì nó lại rất xa xưa, cho
nên rất có giá trị về mặt sử liệu nghiên cứu Phật truyện.
(I)
Fausboll ‘s edition, Jataka vol. 194 Rhys Davids; Buddhist Birth Story
vol. 1, P. 1 – 43.
Nhưng
tài liệu về Phật truyện được truyền nhiều nhất là các
bản Hán dịch. Như: Tu-hành-bản-khởi-kinh (2 quyển, Hậu-Hán,
Trúc-đại-lực và Khang-mạnh-tường cùng dịch; Đại-chính,
3… từ thời đại Phật-Định-Quang đến ngày hàng ma thành
đạo), Phật-thuyết-thái-tử-thụy-ứng-bản-kản-khởi-kinh
(2 quyển, Ngô, Chi-Khiêm dịch, Đại-Chính 3… kể nhân duyên
từ thời đại Phật-Định-Quang đến ngày ba anh em Ca Diếp
quy Phật), Quá-khứ-hiện-tại-nhân-quả-kinh (4 quyển, Tống,
Cầu-na-bạt-đà-la dịch, Đại-Chính, 3… từ Phổ-quang Như-lai
đến Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên quy Phật), v.v… đều
là những tài liệu chủ yếu. Nhất là Phật-bản-hành-tập
kinh (60 quyển, Tùy, Xà-na-quật-đa dịch, Đại-Chính 3) dùng
mọi hình thái để sưu tập Nhân-duyên-đàm; vì bộ kinh này
bao hàm những yếu tố rất cổ cho nên tùy theo phương pháp
xử dụng mà đối với việc nghiên cứu Phật truyện sẽ
là tài liệu rất sáng tỏ. Căn cứ vào những tài liệu trên
đây, đem sửa chữa lại rồi dùng văn vần để viết thành
truyện Phật đó là tác phẩm hữu danh của Mã Minh; Phật-sở-hành-tán
(5 quyển, Bắc-kinh, Đàm-vô-sấm dịch, Đại-Chính, 4; bản
dịch khác: Phật-bản-hành-kinh, 7 quyển, Tống, Thích-pháp-vân
dịch, Đại-Chính, 4). Căn cứ vào tất cả tài liệu trên
đây, có thể nói, Phật truyện đến ngày nay đã đến tuyệt
đỉnh (Thích-Ca-phổ, 5 quyển của Tăng-Hựu “Đại-Chính,
50” sưu tập tất cả những tài liệu này, kể chỗ xuất
xứ, về điểm này, tuy có tiện lợi, nhưng vì đối với
tài liệu không có sự phê phán nên không thể nhận là sách
nghiên cứu được).
Như
vậy, hình thái Phật truyện tuy đã từng được sửa chữa
qua, nhưng điểm nào mới chính là sự thực lịch sử? Và
điểm nào do đời sau thêm thắt vào? Về vấn đề này, dĩ
nhiên, ngoài những điểm tương đối rõ ràng có thể nhận
thấy, còn thì rất khó mà có thể thuyết minh được. Sử
dụng và phê phán những tài liệu trên đây, rồi tham chiếu
những sự kiện khác để tạo nên một cuốn Phật truyện
chân chính: đó là một đề mục lớn mà Phật giáo Nguyên
Thủy cần nghiên cứu. Song, căn cứ vào những tài liệu Phật
truyện ấy để cấu tạo thành nghị luận thần học: đó
là mục lớn mà A-Tỳ-Đạt-Ma Phật giáo muốn nghiên cứu.
Bởi thế, sau đây, chúng tôi nói sơ qua về Phật truyện.