THIÊN
THỨ HAI
YẾU
TỐ THÀNH LẬP VŨ TRỤ
CHƯƠNG
I
BẢN
CHẤT TỒN TẠI
Tiết
thứ ba:
KHUNH
HƯỚNG DUY-TƯỢNG-LUẬN
(Tiếp
Theo Trang Trước)
2-
LUẬN CỨ VÀ PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT CỦA QUÁ-VỊ-VÔ-THỂ-LUẬN.
Đến
đây vấn đề được đặt ra là: luận cứ và phương pháp
quan sát của Quá-vị-vô-thể-luận như thế nào? Vấn đề
này, như đã nói ở trên, vì Đại-chúng-bộ đã không lưu
truyền lại một luận bộ thống nhất, nên, trên quan hệ,
tài liệu về phương pháp vận dụng nghị luận này của chính
Đại-chúng-bộ, người ta không được biết rõ. Nhưng một
điều rất lý thú là tài liệu ấy người ta lại được
thấy trong Kinh-bộ. Kinh-bộ vốn là một phái thuộc Thượng-tọa-bộ,
phân xuất từ Hữu Bộ, song chịu ảnh hưởng của Đại-chúng-bộ
mà trở lại phản đối nghị luận của Hữu Bộ. Tài liệu
này được ghi trong Câu xá luận, quyển 20, cho nên, ở đây
ta có thể trích dẫn và lấy đó làm đại biểu cho Quá-vị-vô-thể-luận.
BỊ
KHẢO. Về nguồn gốc và sự phát triển của Kinh-lương-bộ
tuy có nhiều thuyết khác nhau, nhưng điều người ta có thể
tin chắc được là bộ này đã xuất phát từ Hữu Bộ và
dần về sau đã chiếm địa vị đặc hữu của mình. Còn
về niên đại thì tôi cho rằng có lẽ bộ này ra đời sau
khi Hữu Bộ được thành lập và trước khi luận Đại-tỳ-bà-sa
xuất hiện. Theo ý nghĩa này, ta có thể căn cứ theo truyền
thuyết từ kxưa lấy Thấ-lợi-la-đa (bốn trăm năm sau Phật
nhập diệt) làm người sáng lập Kinh-lượng-bộ (mạt kế).
Duy-thức-thuật-ký bản 2 (Đại chính, 43, trang 274, thượng)
tuy cho rằng sau một trăm năm Phật nhập diệt có Cưu-ma-la-đa
khởi xướng tư tưởng Kinh-bộ và cho đó là truyền thuyết
(bản kế) của Kinh-bộ, nhưng đìâu này đáo cùng không thể
tin được. Thuyết của Cưu-ma-la-đa được truyền lưu, bất
luận về loại nào, đều là dự tưởng tư tưởng rất viên
thục của Hữu Bộ. Như thuyết cho vô-biểu-sắc là tử-chủng-tử,
phủ định sự thực có của “Bất-tương-ưng-hành, sắc,
tâm tương huân, v.v… chính là điều đó. Tư tưởng này có
lẽ đã xuất hiện khoảng ba trăm năm sau Phật nhập diệt
(Câu xá quyển 2, quốc dịch, trang 82, phần chú thích).
Lại
nữa, trong Duy-thức-thuật-ký, bản 4 (Đại chính, 43, trang
358, thượng) có ghi như sau: Thí-dụ-sư là Kinh-bộ-dị-sư.
Tức là ngày mà các vị đó xuật hiện gọi là Kinh bộ. có
ba loại: 1) Căn bản, tức Cưu-ma-la-đa; 2) Thất-lợi-la-đa,
tạo Kinh bộ Tỳ-bà-sa; chính lý bảo là Thượng tọa; 3) Chỉ
gọi là Kinh bộ. Dùng thí dụ để giải thích rộng rãi luận
Kết Man của Căn Bản Sư thì gọi là Thí Dụ Sư. Đây chỉ
theo lý thuyết mà có những danh xưng khác nhau, kỳ thực chỉ
là một Kinh bộ mà thôi.
Sau
luận Đại-tỳ-bà-sa lại thêm một sự tiến triển nữa:
đó là Tế-ý-thức-luận. Mà cái đặc trưng tích cực của
tư tưởng Kinh bộ là ở sự thừa nhận tồn-tại-tính của
Tế-ý-thức. Điểm này so với Hữu Bộ, tựa hồ Kinh bộ
vẫn còn muốn tiến đến chủ nghĩa thực hữu, có thể
nói, gần với triết học duy thức sau này, do đó mà thế
giới quan kia đã rõ ràng biến thành Duy-tượng-luận, điều
này âu cũng là lẽ tự nhiên.
Bây
giờ ta thử xem Kinh bộ đã dùng chứng cứ Duy-tượng-luận
của Đại-chúng-bộ-hệ để phản bác Thực-hữu-luận của
Hữu Bộ như thế nào.
Thứ
nhất, nếu pháp thể là có thật và hết thảy mọi pháp đều
trải qua ba thời thì chúng phải khởi tác dụng. Song, quá
khứ và vị lai đã không có thì tác dụng của chúng như thế
nào? Nếu chỉ có hiện tại có tác dụng thì quá khứ, vị
lai bị ngăn cách sao?
Thứ
hai, nếu bào vì hiện tại có nhiều nhân duyên hòa hợp nên
không có tác dụng, còn quá khứ, vị lai vì thiếu nhân duyên
hòa hợp nên không có tác dụng thì lý luận đó không đứng
vững. Tại sao vậy? Vì, theo Hữu Bộ, những nhân duyên kia
cũng là thường hằng thì không có lẽ nào chúng lại hòa
hợp lúc này mà không hòa hợp lúc khác.
Thứ
ba, nếu một tác dụng phát khởi tất phải nhờ một tác
dụng khác, và do sự thiếu hay đủ của tác dụng khác đó
mà có sự khu biệt về quá khứ, hiện tại và vị lai. Rồi
các tác dụng khác kia lại phải nhờ ở một tác dụng khác
nữa, và, như vậy, kết quả sẽ là vô cùng. Trái lại, nếu
tự thể tác dụng không trải qua quá khứ, hiện tại và vị
lai mà là sự tồn tại bất biến hóa, thì cái bất biến
hóa ấy phải là vô tri. Do vậy, nếu cái tác đã diệt rồi
cho là quá khứ, cái chưa sinh cho là vị lai sẽ là vô ý nghĩa.
Thứ
tư, nếu bảo rằng pháp thể vả tác dụng là nhất thể thì
tại sao trước kia lại nói pháp thể hằng hữu chứ không
phải tác dụng hằng hữu? Cái gọi là vị lai, hiện tại,
quá khứ chẳng qua là chỉ các pháp hữu vi chưa sinh, đã sinh,
chưa diệt, đã diệt mà thôi.
Trên
đây là đại thể luận lý của Kinh bộ đả phá Hữu Bộ.
Song,
còn phần giáo chứng và lý chứng của Hữu Bộ viện ra để
là căn cứ cho luận thuyết của mình sao? Về điểm này, theo
Kinh bộ, khi đức Phật nói đến ngũ uẩn, hoặc nói quá khứ,
hiện tại hay vị lai, v.v… có thể nói chưa chắc đức Phật
đã hàm ngụ ý nghĩa thực tại trong đó. Hơn nữa, cũng có
chỗ đức Phật phủ định thuyết Tam-thế-thực-hữu, cho
nên không thề căn cứ vào ý ngĩa biểu diện của một vài
câu kinh mà nhất khái cho rằng Phật chủ trương thuyết Tam-thế-thực-hữu.
Chẳng hạn, Phật nói:
“Nhãn
căn khi sinh, không từ đâu mà đến; nhãn căn khi diệt, không
có chỗ nào tạo tập. Trước không, nay có; có rồi lại không”.
(Văn Câu xá, quyển 2, trích dẫn thắng nghĩa “không” trong
Khế-Kinh. Tạp-A-Hàm quyển 13 (Đại chính, 2, trang 92, hạ),
nói: vậy nhãn chẳng phải sinh thực, sinh rồi diệt hết”.
Đây rõ ràng là chứng minh cho thuyết “Hiện-tại-nhất-sát-na”
vậy.
Còn
về phận lý chứng thì Hữu Bộ đã dùng nghiệp-luận và
nhận-thức-luận để chứng minh. Nhưng vì trình bày tác dụng
của nhân quả trong ba thời nên nó đã chẳng phải là thực-tại
của quá khứ, vị lai nữa. Nghiệp ở quá khứ tích tụ đến
hiện tại một sát na rồi trình hiện hiệu quả của nó,
đồng thời, nghiệp của quá khứ và hiện tại lại nuôi
dưỡng vận mệnh của vị lai. Nghĩa là, sự tồn tại của
nghiệp chỉ trong một sát na hiện tại, còn quá khứ và vị
lai chẳng qua chỉ là cái quan niệm trước và sau được kéo
dài ra mà thôi: đó là chủ trương của Đại-chúng-bộ và
Kinh-bộ.
Còn
về nhận-thức-luận thì sở dĩ có được nhận thức là
do đối tượng và thức, nhưng cái đối tượng đó không
cứ phải nhất định là vật tồn tại thực hữu: những
sản vật do tưởng tượng cũng có thể là đối tượng của
nhận thức (Bà sa quyển 55 (Đại chính, 27, trang 283, thượng),
thí dụ là có duyên không thực tính), ký ức hay sản vật
quy định cũng như thế. Nếu quá khứ và vị lai trở thành
đối tượng thì tất kính cũng chỉ là kết quả của sự
tuy ức và tưởng tượng mà thôi. Nếu nói một cách chặt
chẽ thì không phải có hiện vật quá khứ, vị lai mà chỉ
là cái ảnh tượng của quá khứ, vị lai. Dĩ nhiên, đây cũng
chỉ là chủ trương của Đại-chúng-bộ. Theo thức-thân-túc-luận
(quyển I, Đại chính, 26, trang 535, thượng) thì ai cũng biết
rằng Sa mon Mục-kiền-liên chủ trương có tâm “vô-sở-duyên”;
tôi cho rằng ý kiến của Kinh bộ chính là hệ thống đã
phát khởi từ phương diện đó.
Tóm
lại, theo Hữu Bộ, pháp thể, bất luận về không gian hay
thời gian, đều là tịnh lập; còn cái gọi là Tam thế thì
tịnh lập một cách vô cùng phức phạp cũng như những quân
cờ trên một bàn cờ tướng, đảo lộn, ngược xuôi, mà
trong quá trình đó, đã xích đi rồi gọi là quá khứ, đang
xê xích đi gọi là hiện tại, và con cờ có thể đi trong
nước tới thì gọi là tương lai. Song, Kinh bộ (và một phái
thuộc Đại-chúng-bộ) thì cho pháp thể cũng giống như một
lớp sóng liên tục phát khởi và hướng tới một phương
hướng nhất định, chính lúc đang phát khởi là hiện tại,
khi phát khởi rồi, hay cái đương thể từ đó sẽ phát khởi
là quá khứ, vị lai. Sau đến phái Duy Thức của Đại thừa
chủ trương “Thức A-lại-gia liên tục sinh diệt từng sát
na cũng như một dòng nước chảy xiết không ngừng” và lý
luận này thật đã đạt đến kết quả tất nhiên mà tư
tưởng của Kinh bộ muốn đạt đến (Câu xá quyể 20).
Như
vậy, Kinh bộ, về phương diện “tung”, đã phản bác Tam-thế-thực-hữu-luận,
đồng thời, về phương diện “hoành”, đả phá luôn
cả thuyết thực thể do nhiều yếu tố lập nên của Hữu
Bộ. Những vấn này tuy sẽ được bàn đến sau, nhưng nếu
nói một cách đơn giản cái đặc trưng của Hữu Bộ thì
đó chính là thuyết “Bất-tương-ưng-hành”. Những yếu
tố này kiến lập những quan hệ giữa vật và tâm trên bình
diện trừu tượng, cho nên, ngoài khái niệm ra, không có một
phán định nào khác (Bà sa quyển 38, Đại chính, 27, trang 198,
thượng; và Câu xá quyển 5). Lại nữa, Hữu Bộ lập ra ba
vô vi (trạch diệt, phi trạch diệt, hư không) chẳng qua là
tên gọi khác của sự “không tồn tại” hoặc “không tác
dụng” một cách tiêu cực, nghĩa là, cái tự thể đó không
phải là phán định tồn tại (Bà sa quyển 31, Đại chính,
27, trang 161, thượng; Câu xá quyển 6). Rồi lại đến tồn
tại của vô-biểu-sắc, tức cái thể của nghiệp tập mà
Hữu Bộ thừa nhận thì đó chẳng qua cũng chỉ là tư-chủng-tử
mà thôi (Câu xá quyển 13; Bà sa quyển 122, Đại chính, 27,
trang 634, trung). Ngoài ra, còn mấy thuyết nữa phản đối chủ
trương của Hữu Bộ, nhưng tôi tưởng ta sẽ đề cập đến
sau những trường hợp thích đáng hơn.
Tóm
lại, vì Kinh bộ lấy Hữu Bộ làm căn cứ lập tông,
nên về những giáo lý trọng đại, Kinh bộ đã giữ thái
độ phản đối (trừ Cực-vi-luận). So với Duy-thức-luận,
tuy thuyết của Kinh bộ chưa được hoàn toàn lắm, nhưng vì
Kinh bộ muốn đạt đến quan-niệm-luận là một lý luận
rất tiến bộ, nên trong số mười tám bộ phái, nó cũng đã
trở thành một phái rất có đặc sắc. Mà nền tảng lại
bắt nguồn từ Đại-chúng-bộ, nên không bao lâu bộ này đã
được coi là đại biểu của Đại-chúng-bộ.
3-
ĐẶC BIỆT VỀ CHỦ-TRƯƠNG CỦA THÀNH-THẬT-LUẬN.
Sau
hết, đến đây cần phải nói qua tư tưởng của một phái
mà, cũng như Kinh bộ, có khuynh hướng đại biểu chó Duy-tượng-luận,
và ở nhiểu điểm, rất giống với Kinh bộ, đồng thời,
ở nhiều điểm khác, cũng lại có chỗ bất đồng: đó chính
là Thành-thật-luận của Ha-lê-bạt-ma.
Theo
truyền thuyết, cũng như Kinh bộ, Ha-lê-bạt-ma vốn từ Hữu
Bộ phân xuất, một mặt giữ thái độ phản đối Hữu Bộ,
nhưng mặt khác ở nhiều điểm, lại muốn thâu thập tư tưởng
của Hữu Bộ. Bởi thế, cũng như Kinh bộ, ở đây cần phải
nghiên cứu qua tư tưởng của Thành-thật-luận để tìm hiểu
chủ trương của Ha-lê-bạt-ma như thế nào.
Nếu
y cứ theo tứ-luận-huyền-nghĩa thứ 10, thành-hoại-nghĩa thì
nguyên tên là Thành-thật-luận là Xà-na-ca-ba-lâu-vũ-ưu-ba-đề-xá.
Xà-na-ca còn gọi là Tỳ lưu, được dịch là Thành, Ba-lâu-vũ,
cũng nói là Dạ-tha-bạt, được dịch là Thật; Ưu-ba-đề-xá
được dịch là Luận (Tam-luận-huyền-nghĩa-kiêm-u-tập thứ
3; Phật-giáo-đại-hệ-bản, trang 181).
Niên
đại xuất sinh và trưởng thành của Ha-lê-bạt-ma tuy không
được rõ, nhưng theo Huyền-sướng trong bài tựa Ha-lê-bạt-ma-truyện
(thấy trong Tam-tạng-ký, tập II, Đại chính, 55, trang 78, hạ)
thì Ha-lê-bạt-ma ra đời vào chín trăm năm sau Phật nhập
diệt; lại nữa, theo Tăng-Duệ trong bài tựa Thành-thật-luận
(Tam-luận-huyền-nghĩa dẫn dụng, Đại chính, 45, trang 3, hạ)
thì Ha-lê-bạt-ma sinh vào tám trăm năm sau Phật nhập diệt.
Song những thuyết này định đặt kỷ nguyên Phật vào năm
nào mà nói như vậy? Vì điều này rất mơ hồ cho nên chỉ
có thể nói là không được rõ. Như chúng ta đều biết, Thành-thật-luận
đã được La-Thập dịch ra chữ Hán vào thời đại Diêu Tần,
nhận xét theo điểm này, ta có thể nói Ha-lê-bạt-ma là người
cùng thời đại với La-Thập (A.D. 344-413). Như vậy, luận
Bà sa (dự tưởng 250 sau Tây lịch) rất gần với niên đại
của Ha-lê-bạt-ma.
Trong
truyện của Ha-lê-bạt-ma có điểm rất đáng chú y là: lúc
đầu ngài học theo Hữu Bộ, nghiên cứu luận Phát trí, cảm
thấy bất mãn vì danh tướng quá phiền phức, do đó mới
trước thuật dị luận mà bị trục xuất. sau khi bị trục
xuất, Ha-lê-bạt-ma đến ngụ tại thành Hoa Thị ở Ma-ha-đà
là nơi có nhiều giáo đồ của Đại-chúng-bộ. Ở đây, Ha-lê-bạt-ma
gặp các học giả Đại thừa và khi đàm luận đã được
khí đầu ý hợp, và từ đó đã chịu sự cảm hóa rất lớn
của Đại-chúng-bộ-lưu. Sau, để thực hiện chí nguyện là
nói rõ chân ý của Phật, Ha-lê-bạt-ma mới trước tác Thành-thật-luận
gồm 16 quyển, chia thành 5 chương, 202 phẩm (Sơ phát chương
phẩm, Khổ đế chương 59 phẩm, Tập đế chương phẩm, Diệt
đế chương 14 phẩm và Đạo đế chương 48 phẩm).
Căn
cứ theo truyền thuyết trên đây, ta không thể không nghĩ rằng
Thành-thật-luận là sản vật do kết của sự chuyển hướng
từ Hữu Bộ sang Đại-chúng-bộ. Tuy nhiên, vể nguồn gốc
của Thành-thật-luận vẫn còn có nhiều truyền thuyết khác
nữa. Chẳng hạn, có thuyết cho rằng Thành-thật-luận đã
dùng nghĩa với Kinh bộ (Tam-luận-huyền-nghĩa dẫn dụng chú
sớ của Chân đế, Đại chính, 43, trang 3, trung); hoặc có
thuyết cho rằng nó đã thoát hóa từ Đa-văn-bộ (Bộ-chấp-dị-luận-sớ
của Chân đế; Tam-luận-huyền-nghĩa-quan-chú dẫn dụ, trang
53, hữu; Tam-luận-huyền-nghĩa dẫn theo); lại có thuyết cho
rằng nó đã phát xuất từ Đàm-vô-đức, tức là Pháp-thượng-bộ
(đại-thừa-chuyển-luận quyển 5, Đại chính, 45, trang 65,
trung); hoặc cũng có thuyết cho rằng Ha-lê-bạt-ma vốn là
người thuộc phái Số luận chuyển sang Phật giáo (đại-phương-quảng-Phật-hoa-nghiêm-kinh-tùy
sớ-diễn-nghĩa-sao quyển 14, Đại chính, 36, trang7, thượng).
Như vậy, Ha-lê-bạt-ma là một nhà bác học phi thường, ngài
đã đọc tất cả các loại sách để thâu thập những điều
sở trường và kết quả là, ở nhiều điểm, Ha-lê-bạt-ma
đã có nhiều chỗ cộng thông với nhiều học phái. Nhưng,
trên đại thể, Ha-lê-bạt-ma vẫn lấy Đại-chúng-bộ làm
căn bản để rồi đọc thêm những kinh luận khác, và không
ngừng nhìn qua Trung-Quán Phật giáo. Tuy vậy, Ha-lê-bạt-ma
vẫn giữ sở trường của tư tưởng Hữu Bộ, nghĩa là, nói
theo thuật ngữ, lấy cái gọi là “Lý-trường-vi-tông” làm
lập trường của mình. Do đó, nếu muốn quyết định liệt
cái địa vị của Ha-lê-bạt-ma vào một phái nào trong mười
tám bộ phái là một điều rất khó khăn.
Ha-lê-bạt-ma
muốn tham cứu tất cả các loại kinh luận và giáo lý để
xác lập học thuyết của mình, và trong khi tham cứu, Ha-lê-bạt-ma
đã áp dụng phương pháp phê bình những kinh luận và giáo
lý ấy: đó là điều chúng ta cần lưu ý.
Thứ
nhất, phê phán chân ngụy, đúng hay không đúng, lấy sự phù
hợp với pháp hay không phù hợp với pháp làm tiêu chuẩn,
bất luận người nói điều đó là ai.
(1)
Về học thuyết của Ha-lê-bạt-ma như đã được trình bày
trong thiên thứ 5, mục Tâm-lý-luận, trong đó có ít nhiều
quan điểm bất đồng. Nhưng sự bất đồng ấy có thể là
vì ý kiến thay đổi trong thời gian nghiên cứu dài đặc và
đó cũng là điều chứng tỏ sự nghiên cứu của tác giả
đã tiến bộ và phát triển.
Thứ
hai, trong khi phê phán, nếu thấy có dị nghĩa thì căn cứ
theo kinh “liễu nghĩa” chứ không theo “bất liễu nghĩa”,
tức là trong các kinh điển, phải y theo những chỗ nào được
xác định là đúng với chân ý của Phật, còn không thì phải
theo pháp tương phản để tìm chân lý.
Thứ
ba, nếu như thế rồi mà vẫn còn thấy có dị luận thì phải
lấy nghĩa lý bao hàm trong nội dung của các kinh làm chủ chứ
không chấp nê vào những câu kinh văn biểu diện.
Thứ
tư, cái tiêu chuẩn trí thức được dùng để phê phán tối
hậu những điểm trên đây là cái trí trực quán hình-nhi-thượng
chứ không phải thức, tức tri thức thông thường. Nói một
cách dễ hiểu hơn là phải dùng trí trực quan vô lậu để
phê phán kinh điển mới phù hợp với chân ý của Phật.
Trên
đây là phương pháp luận của Ha-lê-bạt-ma, và chính vì muốn
biểu hiện ý nghĩa chính xác do phương pháp này mà có nên
Ha-lê-bạt-ma đã mệnh danh cho tác phẩm của mình là Thành-thật-luận
(Thành-thật-luận quyển 2, Tứ-pháp-phẩm, Đại chính, 32,
352).
(Kinh
Duy Ma, Pháp-cúng-dàng-phẩm 13, nói, “Y theo nghĩa, không y theo
lời; y theo trí, không y theo thức; y kinh liễu nghĩa, không
y theo kinh bất liễu nghĩa; y theo pháp, không y theo người”.
(Đại chính, 14, trang 556, hạ). Lại trong kinh Đại thừa Niết
bàn quyển 6, Tứ y phẩm (Đại chính, 12, trang 642, thượng)
cũng có những câu tương đồng như trên). Điểm này, trong
Bà sa, Câu xá, Tịnh Tuệ, Tùy Hành gọi là A-Tỳ-Đạt-Ma là
một pháp thức để noi theo, nhưng ở đây lại tiến thêm
nữa mà đạt đến phương pháp phê bình.
Nhưng,
thế-giới-quan của Ha-lê-bạt-ma như thế? Nếu nói một cách
cực sơ lược thì đặc trưng thế-giới-quan trong Thành-thật-luận,
theo một ý nghĩa nào đó, có thể nói là muốn thống hợp
khuynh hướng thực-tại luận của Thượng-tọa-bộ-lưu và
khuynh hướng duy-tượng-luận của Đại-chúng-bộ-lưu. Nghĩa
là, nếu đứng trên lập trường thường thức hay khoa học
mà nói thì vạn hữu thì có thật, là tồn tại, nhưng, nếu
đứng trên lập trường hình-nhi-thượng-học mà nói thì bản
tính là không. Nói theo thuật ngữ: “Thế-đế cho nên có,
Đệ-nhất-nghĩa-đế cho nên không” (Thành-thật-luận quyển
2, Vô-tướng-phẩm 2 (Đại chính, 32, trang 255, thượng), cũng
Thành-thật-luận quyển 12, Diệt-pháp-tâm-phẩm 153 (Đại chính,
32, trang 333).
Một
điểm lý thú là, trong Tứ-đế-luận, khi thuyết minh về hai
Khổ và Tập, Ha-lê-bạt-ma đã chuyên đứng trên lập trường
thế-đế mà luận về phương diện “có”, nhưng nói đến
hai đế Diệt và Đạo thì lại đứng trên lập trường đệ-nhất-nghĩa
mà chủ trương “không”. Như đã nói ở trên, nếu coi Tư-Đế
là toàn thể vấn đề của Phật giáo thì Thượng-tọa-bộ
đã theo lập trường Khổ, Tập (thế giới sự thật) để
cấu thành thế-giới-quan của mình, còn Đại-chúng-bộ thì
lại xây dựng thế-giới-quan ấy trên cơ sở Diệt và Đạo
đế. Đó là ý kiến của tôi, và, ở đây, có thể nói là
Ha-lê-bạt-ma đã nói rõ sự thật ấy.
Song,
đứng trên lập trường thế đế, Ha-lê-bạt-ma có thừa nhận
hết thảy đều thật có như Hữu Bộ không? Vấn đề này
chưa hẳn đã là thế. Khi luận cứu về những hiện tượng
và yếu tố, theo Ngưng-Nhiên, Ha-lê-bạt-ma đã đưa ra pháp
số đại ước là năm vị, tám mươi tư pháp (theo Duy-ma-kinh-sớ-yêm-la-ký
quyển 18 (Phật-giáo-toàn-thư-bản, trang 257-258) thì: Sắc pháp
14, Tâm pháp I, Tâm sở 49, Bất-tương-ưng-hành 17, Vô vi 3).
Sự phân loại này có đúng không? Vấn đề tuy không được
rõ, nhưng bất luận thế nào đi nữa, sự luận cứu về sắc,
tâm, tâm sở, bất-tương-ưng-hành và vô vi của Ha-lê-bạt-ma
là một sự thật. Song, đứng về phương diện thế đế,
có phải Ha-lê-bạt-ma đã thừa nhận tất cả đều tồn tại
không? Điều này, nếu đứng trên lập trường thế đế mà
nhận xét thì nhưng nhiên giả cũng có mà thật cũng có; có
cũng có mà không cũng có. Nghĩa là nói theo Tam-thế-hữu-vô-luận,
hiện tại tuy có, nhưng quá khứ, vị lai thì không (Thành-thật-luận
quyển 2, Vô-tướng-phẩm 20 - Nhị-thế-vô-phẩm 22). Nếu nói
theo Trung-hữu-luận thì có thể bảo rằng cái trạng thái
đặc thù của trung hữu là không có (T.T.L. quyển 3, Vô-trung-phẩm
25). Nếu lại nói về sắc pháp thì sắc, hương, vị, xúc
là tứ trần tuy thật có, nhưng địa, thủy, hỏa, phong tứ
đại thì lại chỉ là giả có. Nếu lại nói theo tâm, tâm
sở, thì những tâm sở kia thật ra chỉ là tác dụng bất
đồng của một tâm, ngoài tâm ra, không có sự tồn tại độc
lập của tâm sở. Theo những ý nghĩa trên đây, Ha-lê-bạt-ma
tuy đứng về phương diện thế đế mà nói là có, nhưng,
trên đại thể, có thể nói Ha-lê-bạt-ma đã nghiêng hẳn
về Đại-chúng-bộ mà phản đối thuyết thực tại cực đoan
của Hữu Bộ.
Khi
thuyết minh về ý nghĩa tồn tại của thế giới, Ha-lê-bạt-ma
đã đưa ra hai loại nhị đế và ba loại tâm. Hai loại nhị
đế là sự phân biệt giữa đệ-nhất-nghĩa-đế và thế-đế,
rồi lại đem thế đế chia thành hai lớp là giả có và thật
có. Thích ứng với nhận thức này là ba loại tâm. Thứ nhất
là giả-danh-tâm; vật chất tồn tại tuy lấy tứ trần (sắc,
hương, vị, xúc) làm thể, nhưng cái bình là nhân duyên hòa
hợp của tứ trần mà thành, nó không có tự thể, cho nên
cái bình chỉ là giả thể. Những yếu ngũ ấm tuy là thực
thể nhưng hữu tình là giả thể, do đó, đối với nhận
thức này cũng là giả danh tâm, không có thỏa-đáng-tính chân
thật. Thứ hai là pháp tâm, là nhận thức đối với tứ trần
hoặc ngũ ấm. Nếu so với giả danh tâm thì pháp tâm tuy có
thực-tại-tính, nhưng, đứng trên lập trường đệ-nhất-nghĩa-đế
mà nói thì pháp tâm rốt ráo cũng khỏi vô thường lưu biến,
cho nên, về điểm này, nếu nói là thật có cũng không được.
Thứ ba là không tâm. Đây mới chính là nhận thức phù hợp
với đệ-nhất-nghĩa-đế; tuy nhiên, cái không chân thực,
bất luận về chủ quan hay khách quan, đều không có, cho nên
nhận thức không cũng không có nốt. Duy chỉ diệt luôn cái
“bất khả đắc” mới phù hợp với đệ-nhất-nghĩa-đế;
đó là yếu điểm của Diệt-đế-quan (về Tam tâm, tham chiếu
Thành-thật-luận quyển II, giả danh phẩm 141).
Như
vậy, Thành-thật-luận đã phát xuất từ thế-giới-quan hữu
rồi kiểm thảo cái ý nghĩa và giá trị tồn tại của nó,
và rồi dần dần lại từ Duy-tượng-luận mà tiến đến
Vô-vũ-trụ-luận mới cho là hợp với chân ý của Phật. Mà
từ hữu tiến đến không là ý nghĩa đặc thù của Thành-thật-luận
vậy.
Theo
Thành-thật-luận, nếu ngay từ đầu mà chủ trương hết thảy
đều là không thì sẽ không tránh khỏi sa vào cái nguy “đoạn
kiến”; đồng thời, nếu lại giả định tất cả là có
thì rất có thể bị rơi vào vòng “thường kiến”. Cho nên,
ở đây phải đứng trên lập trường thế đế và đệ-nhất-nghĩa-đế
mà thừa nhận cả hai phương diện hữu và không mới khế
hợp với trung đạo.
Tóm
lại, thế-giới-quan của Thành-thật-luận, về nhiều điểm
cũng giống với thế-giới-quan của Kinh bộ. Chẳng hạn như
chủ trương “Quá-vị-vô-thể-luận”, cho tâm sở là tác
dụng, coi vô biểu tiếp với hành chứ không tiếp với sắc,
v.v… ngoài ra, còn rất nhiều điểm giống hệt như nhau. Song,
cái tư tưởng quan-niệm-luận đó đã tiến bộ so hơn với
Kinh bộ, và có thể nói, đã sánh với pháo Đại thừa Trung
quán. Kinh bộ, nhờ thuyết “Tế-ý-thức” và thuyết “chủng
tử” tuy là chuẩn bị để tiến tới Duy-thức-luận, nhưng
vẫn chưa thật sự trở thành quan-niệm-luận, do đó, không
thể tiến đến “không” được. Như vậy, sự bất đồng
giữa Kinh bộ và Thành-thật-luận tất kính là ở như thời
đại thành lập; Ha-lê-bạt-ma trước sau vẫn cho lời Phật
nói chỉ hạn cuộc trong bộ A Hàm thánh điển, vả lại, ngài
cũng ra đời sau khi phái Trung quán được thành lập, cho nên,
thông qua sự giải thích của Đại-chúng-bộ, ý kiến của
Ha-lê-bạt-ma bị cảm hóa mà mặc nhiên hấp thụ khí vị
của phái Trung quá. Về sau, khi được truyền và Trung Hoa,
nhiều tranh luận đã xẩy ra về việc nên đặt Thành-thật-luận
vào Tiểu thừa hay Đại thừa chính là do lẽ đó. Nếu
chỉ hạn cục trong vấn đề này thì ta có thể nói Thành-thật-luận
là tư tưởng của Tiểu thừa đã đạt đến điểm mà Tiểu
thừa mong muốn. Song, nếu nói theo tính chất giáo lý thì tư
tưởng của Kinh bộ không những khai triển thuyết Duy thức
của Đại thừa mà còn bắt tay với Đại thừa nữa. Nếu
quyết định Thành-thật-luận thuộc phái nào là đúng thì,
ngoài điểm cùng bắt tay với phái Trung quán ra, nếu lấy
Đại thừa làm tiêu chuẩn để nhận xét, thì luận này và
Kinh bộ là hai hệ thống lớn của Tiểu thừa, rồi từ đó,
không bao lâu, lại tiến thêm một bước nữa mà chuyển hướng
tới Đại thừa.
Tiết
thứ tư:
KHUYNH
HƯỚNG THỰC-TẠI-LUẬN-HÌNH-NHI-THƯỢNG
(đặc
biệt về tư tưởng Vô vi và Chân như)
1-
SÁT-NA-DIỆT-LUẬN CỦA HIỆN-TƯỢNG-GIỚI, TỨC HỮU VI PHÁP.
Trở
lên, chúng ta đã bàn đến hai tư trào đến đại biểu cho
thế-giới-quan của bộ phái Phật giáo: đó là khuynh hướng
Thực-tại-luận. Ngoài ra, còn một tư trào nữa, tuy vẫn quan
hệ mật thiết với hai tư trào trên, nhưng, không nhiều thì
ít, lại có chỗ cá biệt: đó là khuynh hướng thực-tại-luận-hình-nhi-thượng,
và có thể nói khuynh hướng tư tưởng này chỉ dương cả
hai khuynh hướng trên. Đương nhiên, nếu nói một cách thực
tế, lúc đầu tư trào này không rời khỏi hai tư trào trên,
do đó, nó không có một địa vị độc lập, nhưng, về sau,
Đại thừa Phật giáo đã khai triển thành một giáo lý đặc
thù. Chính vì thế mà ở đây ta cần phải đặc biệt dành
riêng một tiết để khảo sát về tư trào này.
Theo
Phật giáo Nguyên thủy, hiện-tượng-giới, nhận xét về mặt
thực-tại-luận cũng như duy-tượng-luận, dù cho có chính
đáng đi nữa thì cũng không tránh khỏi vô thường biến thiên.
Bởi vì hiện-tượng-giới không phải do thần tạo cũng không
phải là tự ngã: hết thảy đều nhân duyên quan hệ mà thành
trong đó không có một vật gì là thường hằng bất biến.
Do đó, đặc trưng của thế-giới-quan Phật giáo là cho hết
thảy sự vật đều vô thường (chư hành vô thường), và
hết thảy sự vật được gọi là hữu-vi-pháp. Theo Phật
giáo, là vì hữu-vi-pháp cho nên hết thảy mọi hiện tượng
đều là vô thường.
Nếu
thế thì đến bộ phái Phật giáo, tư tưởng đó đã được
khai triển như thế nào? Dĩ nhiên, bộ phái Phật giáo trước
sau vẫn truy cầu cái tinh thần của Phật giáo Nguyên thủy,
cho nên thế-giới-quan vô thường ấy, về nhiều điểm, cũng
đã phát triển một cách rộng rãi. Nếu đứng về phương
diện tiêu cực mà nói thì Phật giáo Nguyên thủy, đối với
việc phủ định thường-trụ-luận, tuy có đưa ra nhiều ý
kiến để phê bình, nhưng vấn đề trung tâm chỉ là thường-trụ-ngã-quan,
thêm vào đó, có đề cập đến Phạm-thiên-thần-quan mà thôi.
Nhưng đến bộ phái Phật giáo, nhất là những học phái tiến
bộ, lại muốn đề cập tất cả các loại thường trụ luận
đang được lưu hành ở thời bấy giờ để chứng minh chúng
không là chân lý (trong bảy bộ luận pàli hoặc bảy luận
của Hữu Bộ tuy vẫn chưa biểu hiện một cách rõ ràng về
phương diện này, nhưng Bà sa, Câu xá và Thành thật thì không
những đã đề cập đến tất cả những vấn đề đó, mà
còn luận cả đến Phật-sở-hành-tán của Mã Minh nữa (quyển
thứ 4, Đại chính, 4, trang 34). Sự bài xích thường ngã (có
thể coi Pháp-ngã-phẩm trong Câu xá là đại biểu) dĩ nhiên
là cho tư tưởng là Phạm thiên và tư tưởng Tự-tại- thiên
là bất hợp lý. Tiếp đến là bác thuyết tự tính, thần
ngã của Số luận và Ngã luận và Cú-nghĩa-luận của Thắng
luận. Ngoài ra, tất cả các thuyết ngoại đạo khác, nếu
thừa nhận nguyên lý tồn tại thường hằng dưới bất cứ
hình thái nào đều bị bác kích cả. Dương nhiên, trong A-Tỳ-Đạt-Ma
luận thư, đối với những vấn đề trên, cũng có thái độ
phê bình tiến bộ, tuy không phải tất cả các bộ luận đều
đả phá, song đối với cái nguyên lý tồn tại thường hằng
bất biến thì đại khái các phái đều cùng một tinh thần
phản đối. (Trong luận Bà sa quyển 9 (Đại chính, 27, tr. 41)
có đề cập đến những thuyết vô-nhân-luận, tự-tại-luận,
tự tính, sĩ phu (thần ngã), thời, phương và không, v.v…
là đệ nhất nguyên lý và phê bình những thuyết đó là “phi
nhân kế nhân”. Lại trong Thành-thật-luận, quyển 11, Phá-nhân-quả-phẩm
thứ 151 có nói đến những thuyết ngoại đạo như tự tại,
thế tính, vi trần, v.v…; rồi luận Câu xá, quyển 7, và 626
cũng đả phá những thuyết đó).
Theo
bộ phái Phật giáo, hết thảy mọi hiện tượng đều do cái
pháp tắc quan hệ, tức nhân duyên hòa hợp mà thành. Như sẽ
được trình bày sau, khi nhân-duyên-luận phát đạt mạnh thì
đồng thời cũng khiến cho vô-thường-quan tiến triển mà
phát sinh ra một thuyết rất nổi tiếng: đó là Sát-na-diệt-luận.
Sát-na-diệt có nghĩa là hết thảy hiện tượng - bất luận
là hiện tượng tâm hay vật - đều sinh biến chuyển trong
từng sát na, chúng không bao giờ đứng yên ở cùng một trạng
thái. Đó là một đặc trưng của thế-giới-quan Phật giáo
và, cùng với vô-ngã-luận nó đã là đề mục được các
học phái khác nêu ra khi phê bình Phật giáo. Có điều đáng
tiếc là trong giáo hội Phật giáo, sát-na-diệt-luận này đã
được nghĩ đến và thành luận thuyết vào thời gian nào,
và quá trình tiến triển của nó ra sao thì chúng tôi vẫn
chưa nghiên cứu đến. Trong bộ thánh điển A Hàm tuy có thuyết
“Tạp na” nhưng vẫn chưa có thấy thuyết “Tạp-na-ba-ca”;
không những thế, ngay trong các bộ luận ở vào thời kỳ
đầu cũng vẫn không thấy bàn đến thuyết này một cách
rõ rệt. Do đó, về nguồn gốc của thuyết này, chúng tôi
vẫn chưa tìm ra được. Tuy nhiên, dù sao thì giáo lý này,
theo Bắc truyền, cũng đã được Hữu Bộ, Hoá-địa-bộ và
Ẩm-quang-bộ thuộc Thượng-tọa-bộ hệ chủ trương (về
Hóa-địa-bộ và Ẩm-quang-bộ, xin xem Quốc dịch Tôn-luân-luận
trng 60-65). Còn nếu theo Nam truyền thì giáo lý thì được
chủ trương bởi Đông-sơn-bộ và Tây-sơn-bộ thuộc Đại-chúng-bộ-hệ.
Luận-Sự 22, 8, thể hiện giáo lý đó trong mệnh đề “Hết
thảy các pháp tồn tại trong một sát-na-tâm”. Đặc biệt
theo nhà chú giải Luận-Sự là Phật Âm thì như Bắc-đạo-phái
theo kết luận của sát-na-luận mà cho là “vô-tương-tục-duyên”
(K. V. XXII, 7) rồi chủ trương hết thảy đều là lưu chuyển,
không có sự tái phát khởicủa cùng một sự thật. Xem thế
đủ biết bất luận Thượng-tọa-bộ-hệ hay Đại-chúng-bộ-hệ
có thể nói đều chủ trương sát-na-diêt-luận để đạt
đến kết luận về thế-giới-quan “chư hành vô thường”
vậy. Đương nhiên, nếu nói một cách chặt chẽ, thì Sát-na-diêt-luận
chưa hẳn đã là tư tưởng cộng thông của tất cả các phái.
Theo Luận-Sự thì Thượng-tọa-bộ phái Nam Phương phản đối
Sát-na-diệt-luận của Tây-sơn-bộ, còn Tôn-luân-luận thì
Độc-tử-bộ cho rằng tâm và tâm sở tuy diệt trong sát na
nhưng đại địa và mệnh căn thì cho là tạm trụ (Quốc dịch
Tôn-luân-luận trang 51). Nhất là đến Hóa-địa-bộ mạt kỳ
thì lại cho đại địa là kiếp trụ, tức là trụ trong khoảng
ba kiếp thành, trụ, hoại chứ không phải diệt trong sát na
(Quốc dịch Tôn-luân-luận trang 61). Nói tóm lại, ta có thể
cho rằng sát-na-diệt-luận là thế-giới-quan cộng thông giữa
các phái (ngoài ra, chính-lượng-bộ cho rằng các sắc pháp
như đại địa và các bất-tương-ưng pháp như mệnh căn,
v.v… cũng tạm trụ trong một thời kỳ và chủ trương ánh
đèn, tiếng chuông, v.v… và các tâm pháp thì diệt trong sát
na – Câu-xá-luận-quang-ký quyển 13, Đại chính, 41, trang 202).
2-
VÔ-VI-PHÁP-LUẬN.
Như
vậy là thế-giới-quan của bộ phái Phật giáo cho rằng hết
thảy đều lưu chuyển và biến hóa không ngừng. Song mà, có
phải bộ phái Phật giáo, đối với tất cả mọi hình thái,
đều không thừa nhận tính chất thường trụ bất biến không?
Dĩ nhiên, như vừa nói trên kia, bộ phái Phật giáo cho rằng
hết thảy hiện tượng đều lưu chuyển biến hóa, không có
một thực thể thường trụ nào, song, theo một ý nghĩa nào
đó thì, trái lại, không thể không thừa nhận một thực
thể thường hằng. Nếu đối với tất cả mọi hình thái
đều phủ nhận một sự thật bất động thì chung cục tất
cả đều là hỗn độn, không có chỗ lập cước. Trở lại
Nguyên thủy Phật giáo, ta có thể nói đại để đức Phật
đã thừa nhận ba hình thái thường hằng. Thứ nhất là cái
pháp tắc thường hằng quán thông cả hiển-tượng-giới,
đặc biệt là về pháp tắc “duyên khởi” đức Phật đã
nói rằng dù có Phật ra đời hay không nó vẫn bất biến,
pháp tình quyết định, pháp tính thường trụ (S. II, p, 25;
Tạp-A-Hàm 12, Đại chính, 2, trang 84. Cũng có thể tham chiếu
Nguyên Thủy Phật Giáo Tư-Tưởng-Luận trang 96). Thứ hai là
lý tưởng tối hậu, tức là cảnh Niết bàn thường hằng
bất biến. Đức Phật gọi cảnh ấy là bất sinh, bất thành,
vô tác, vô vi để đối lại với những cái sinh, thành, tác,
vi (Căn Bản Phật Giáo trang 296). Thứ ba là cái pháp tắc quy
định mối quan hệ giữa hiện-tượng-giới và lý-tưởng-giới,
cùng là cái chân lý bất biến của đạo pháp Tứ Đế. “Tứ
Đế này là tính không hư dối, là pháp không biến dị, là
chân như”, đó là lời nói của đức Phật (trích Nguyên
Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận trang 103. Này các Tỳ Khưu!
Tứ Đế này là chân như, không hư dối, không biến dị).
Tuy
ý trên đây không liên quan gì đế thực thể tồn tại, nhưng
ít ra cũng đã thừa nhận cái tính chất thường hằng của
một loại pháp tắc, đó là điều không còn hồ nghi gì nữa.
Tựu trung, đức Phật gọi Niết bàn là bất sinh, bất diệt,
bất tử, bất hoại cũng lại hoàn toàn khác với hiện tượng
giới lưu chuyển, và ngài thường đề cao Niết bàn - về
nội dung Niết bàn có nhiều dị luận – và đặc biết gọi
nó là vô vi. Nghĩa là nó không sinh diệt biến hóa như các
pháp hữu vi trong hiện-thực-giới cho nên gọi nó là vô vi
(A.I, p. 152: “Không sinh, trụ, dị, gọi là vô vi”. Nếu căn
cứ theo cách dụng ngữ của Phật giáo Nguyên thủy thì vô
vi chỉ hạn cục trong ý nghĩa Niết bàn; song, nếu “vô vi”
có thể được giải thích như một cái gì không còn ở trong
vòng biến hóa lưu chuyển thì, dĩ nhiên, nó cũng có thể bao
hàm trong hai thình thái thường hằng kia nữa.
Cũng
như tất cả mọi vấn đề khác, vấn đề trên cũng đã được
bộ phái Phật giáo khảo sát một cách rất tiến bộ: đó
là vô-vi-luận của bộ phái Phật giáo. Đến đây, tất cả
những cái thường hằng bất biến đều được biểu hiện
bằng từ ngữ “vô vi” và thường đem nó so sánh, đối
chiếu với các pháp “hữu vi”. Trong các bộ phái cũng có
phái, như Kinh bộ chẳng hạn, hoàn toàn giải thích vô vi là
tiêu cực; cái gọi là vô vi tất kính không ngoài cái đương
thể tiêu cực của hữu vi pháp. Tuy cũng có những học phái
chủ trương như thế, nhưng, trên đại thể, vô vi luận dần
dần đã có ý nghĩa trọng yếu, đó là sự thật không thể
phủ định. (Về vô-vi-quan của kinh Bộ, Câu xá luận
nói: “Kinh bộ sư cho rằng hết thảy vô vi đều không có
thật, nó không phải thực như sắc, thụ, v.v…Nếu thế thì
tại sao gọi là hư không? Gọi hư không chẳng qua chỉ là
nơi giả xúc mà thôi… Đã khởi tùy miên và các diệt vị,
nếu không do sức giản trạch thì không sinh, nên gọi là trạch
diệt. Lìa sức giản trạch, nếu không đủ duyên thì không
sinh, nên gọi là phi trạch diệt” Câu xá , Căn phẩm, quyển
6, Quốc dịch trang 402). Trong Bà sa quyển 3 (Đại chính, 27,
tr. 161, thượng), các nhà Thí Dụ cho trạch diệt, phi trạch
diệt, hư không đều không có thực thể. Rồi đến vô vi
quan của Thành-thật-luận đại khái cũng không khác mấy chủ
trương trên. Bởi vì trong Pháp-tụ-phẩm 18 của luận này
(quyển 2, Đại chính, 32, trang 252, trung) có nói: “Hữu vi
pháp do chúng duyên sinh là ngũ ấm; vô vi pháp là ngũ ấm tận
diệt”. Bởi thế trong Thành-thật-luận lập ra ba vô vi có
lẽ đó là sự giải thích nhất định chăng?).
Theo
tinh thần thành lập vô-vi pháp đó, đại khái, ta có thể
chia thành hai loại. Thứ nhất, coi vô-vi-pháp cũng ngang hàng
vời hữu-vi-pháp, do đó, giữa vô-vi-pháp và hữu-vi-pháp không
có một giải pháp trực tiếp. Thứ hai, tiến lên một bậc
nữa, tuy chưa đi đến thực-thể của hữu-vi-pháp, nhưng ít
ra là quy định cá hình thức hay pháp tắc do đó các pháp
hữu vi hoạt động. Loại trên là chủ trương Thượng-tọa-bộ
hệ và loại hai là chủ trương là Đại-chúng-bộ hệ và
các phái Thượng-tọa-bộ chịu ảnh hưởng của Đại-chúng-bộ.
Thượng-tọa-bộ vốn lấy sự tầm cầu thế giới thực sự
(Khổ, Tập đế) làm chủ, nên, về điểm này, không lấy
vô vi bất-biến-tính làm yếu tố chủ yếu cho thế-giới-quan.
Trái lại, Đại-chúng-bộ chuyên thích ứng với sự nghiên
cứu thế giới lý tưởng (Diệt, Đạo đế), vốn phát xuất
từ Diệt đế, nên dần dần đã khoáng sung đến kết quả
của vô-vi-quan.
Trước
hết hãy nói về vô-vi-quan của Thượng-tọa-bộ, Thượng-tọa-bộ
ở Tích Lan, vì muốn y theo sự truyền trì của Phật giáo
Nguyên thủy, nên, về vô vi, cũng chỉ lập cái đương thể
đã tận diệt tham, sân, si là Niết bàn, chứ không thừa nhận
vô vi khác. Điều này cứ xem trong Luận-Sự luận phá mọi
thuyết vô vi cũng đủ rõ (Khuynh hướng, Vô-vi-pháp, VI, 1-6;
XIX, 3-4).
Trong
tỳ-bà-băng-già tuy cũng lập vô vi nhưng đó chỉ cho tham diệt,
sân diệt và si diệt mà thôi. Trong các phái thuộc Thượng-tọa-bộ-hệ,
Tôn-luân-luận thì Hữu Bộ và Hóa-địa-bộ là những bộ
phái đã đặc biệt khai triển vô-vi-luận. Tựu trung, cái
trình độ phát đạt của vô vi thuộc Hữu Bộ tuy thấp, nhưng
vì nó tràn lan một cách nhanh chóng nên nó đã trở thành cơ
sở hay xuất phát điểm của vô-vi-quan của bộ phái Phật
giáo. Theo Hữu Bộ thì có ba loại vô vi là trạch diệt, phi
trạch diệt và hư không (ba danh từ vô vi này đã thấy xuất
hiện rất sớm trong Tập-dị-môn-túc-luận, quyển a, Đại
chính, 26, trang 39, hạ; Phẩm-loại-túc-luận, quyển 12, Đại
chính, 26, trang 741, thượng).
Thứ
nhất, trạch-diệt-vô-vi là pháp thích ứng với giáo lý đặc
thù của Hữu Bộ. Theo Hữu Bộ thì vị lai là trụ vị tạp
loạn, hết thảy mọi yếu tố tuy có tồn tại, nhưng, nếu
nhận xét về phương diện “trong một sát na không có hai
tâm cùng phát khởi” thì vì tất cả các pháp không thể
trong một lúc hiện khởi toàn bộ được. Và nếu trong thời
gian nhất định không hiển hiện được thì mãi mãi sẽ mất
cơ hội hiển hiện, chính vì lý do đó mà trở thành cái gọi
là “bất sinh pháp”. Thí dụ: trong khi nghe giảng chợt có
một âm hưởng nào hoặc trong giảng đường vọng lại bên
tai, nếu là lúc bình thường thì ta có thể đó là âm thanh
gì, nhưng vì lúc đó đang chuyên chú nghe giảng nên ta đã
không ý thức âm hưởng đó, và cái thính giác lẽ ra đã
phải sinh khởi trong lúc đó thì lại vĩnh viễn không sinh
khởi được nữa. Nếu đứng trên lập trường Tam-thế-thực-hữu-luận
mà nói thì cái thính giác phải sinh khởi ấy vẫn còn tồn
tại trong vị lai, và vì đã trở thành bất sinh cho nên nói
là bất sinh bất sinh bất diệt mà thành một loại vô-vi-pháp.
Pháp này không phải là kết quả do trí lực, mà, nói theo
thuật ngữ, là kết quả là thiếu duyên mà không sinh, và
tất nhiên nó trở thành pháp bất sinh, vì thế mới gọi là
“phi-trạch-diệt-vô-vi” (vô vi không do trí lực).
Tư
tưởng trên đây đã thật sự phát khởi vào thời kỳ nào
là một vấn đề vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng. Tuy
nhiên, trong pháp-uẩn-túc-luận, nó đã cùng với hai loại
vô vi kia được kể vào số “Pháp xứ” (Pháp-uẩn-túc-luận
quyển 10, Đại chính, 26, trang 500, hạ). Rồi trong A-tỳ-đàm-luận
của Xá-lợi-phất (quyển 1, Đại chính, 28, trang 526, hạ),
trong số “Pháp nhập” ghi là trí-duyên-tận (trạch diệt),
phi-trí-duyên-tận (phi-trạch-diệt) hai loại. Đến Tập-dị-môn-túc-luận
thì hiển nhiên nó đã trở thành một trong ba vô vi (Tập-dị-môn-túc-luận
quyển 1, Đại chính, 26, trang 369, hạ).
Dựa
vào những bằng chứng trên để phán định, ta có thể nói
tư tưởng đó rất xưa, nó đã phát khởi cùng với Tam-thế-thực-hữu-luận:
đó là điểm không còn hồ nghi gì nữa. Nhưng, điểm lý thú
của Hữu Bộ mệnh danh nó là vô-vi-pháp, rồi Chính-lượng-bộ
thừa kế danh từ đó mà giải thích khác một chút, cho đến
Đại-chúng-bộ
cũng áp dụng danh từ đó. Tóm lại, những học phái lập
ra vô-vi-pháp, có thể nói, tất cả đều thừa nhận loại
vô vi này.
Thứ
ba, hư-không-vô-vi là chỉ nghĩa không gian tuyệt đối, tuy
vượt ra ngoài tất cả mọi sự biến hóa của vật chất
nhưng vẫn còn có tàn lưu. Khi giải thích, Hữu Bộ bảo nó
lấy vô ngại làm tính. Nhờ tính vô ngại mà nó vận chuyển
dung hợp trong tất cả sắc chất (Câu xá quyển 1, quốc dịch,
trang 11), nhưng tự thể của nó vẫn ở trạng thái bất sinh,
bất diệt. Trong Phật giáo, thời gian vì bị coi là phận vị
biến hóa nên đã chỉ được xem như là một khái niệm, trái
lại, không gian thì không những Hữu Bộ mà, theo Luận-Sự,
cả đến Bắc-đạo-phái, Hóa-địa-bộ cũng thừa nhận nó
và chủ trương cho là vô vi. Song, điều cần chú y ở đây
là: cái tính không của địa, thủy, hỏa, phong, không, thức
không thể lẫn lộn với hư không vô vi được. Theo các học
phái khác, tính không củ địa, thủy, hỏa, v.v…tuy có thể
được coi là ether, nhưng trong Phật giáo (theo sự giải thích
của Hữu Bộ) thì nó chỉ nghĩa trống rỗng, lấy sáng, tối
là thể (Câu xá quyển 1, Quốc dịch trang 75), vì thế nó chỉ
là hữu-vi-pháp chứ không thể kể vào loại hư không vô vi
được.
Như
thế là ba loại vô vi kể trên, tuy cũng có học phái không
áp dụng, nhưng, trên đại thể, thuyết vô vi đã dần dần
tăng gia, nhất là trong Đại-chúng-bộ phái, con số đó đã
tăng gia một cách rõ rệt. Về vô vi thứ nhất là trạch diệt,
tức Niết bàn, nếu Niết bàn là bất sinh bất diệt,là vô
vi, thì cái cảnh giới rất tương tự với Niết bàn là Tứ-vô-sắc-định
và Diệt-thụ-tưởng-định cũng có thể cho là vô vi. Tại
sao vậy? Lý do là vì khi nhập cũng như khi xuất định tuy
là biến hóa, là hữu vi, nhưng thiền định tự thân vốn
lấy bất biến làm tính, cho nên nó phải là vô vi. Theo Luận-Sự
thì Án-đạt-la phái và Bắc-đạo-phái có đề xướng Diệt-định-vô-vi
luận. Lại theo Tôn-luân-luận thì Đại-chúng-bộ lấy không-vô-biên-xứ,
thức-vô-biên-xứ, vô-sở-hữu-xứ, phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ
làm bốn trong số chín vô vi. Lại như Hóa-địa-bộ dùng danh
từ “bất động vô vi” có lẽ là muốn tổng quát năm loại
trên đây. Hơn nữa, nếu lại tiến thêm một bậc nữa mà
nhận xét thì đứng đầu là Niết bàn rồi đến các loại
thiền định rốt ráo chỉ là mục tiêu hoặc quá trình tu
hành của các bậc Sa môn phải đạt đến, nếu vậy thì trong
mỗi một trong Tứ-sa-môn quả cũng có thể được coi là vô
vi. Đạo tu hành của Sa môn tuy là hữu vi, nhưng một khi đạt
đến cảnh giới đã tận diệt phiền não thì nó là bất
bất động. Căn cứ vào kiến giải này mà chủ trương “Sa-môn-quả”
là vô vi, theo Luận-Sự, 3, 19, là chủ trương của Đông-sơn-bộ.
Như
vậy, trong bộ phái Phật giáo tựa hồ đã dần dần đi đến
chỗ thừa nhận tính thường hằng của vô-vi-pháp; song, những
vô-vi-pháp kể trên chủ yếu mới là phương diện tiêu cực
mà thôi. Nói cách khác, vô vi là trạng thái sau khi tách khỏi
sự sinh diệt biến hóa của hữu vi, nghĩa là, trong vô vi có
vô vi và lấy sự cắt đứt mọi quan hệ trực tiếp với
hữu vi làm đặc chất. Do đó, nếu đứng vềê phương diện
thế-giới-quan mà nói thì vô-vi-pháp là tiềm xứ của thế
giới, theo một ý nghĩa nào đó, cùng tồn tại với thế gian,
nhưng không liên hệ trực tiếp với thế gian. Cũng vì thế
cũng có thể nói vô-vi-pháp hoàn toàn lấy vô tác dụng làm
đặc chất.
3-
ĐẶC BIỆT VỀ CHÂN NHƯ VÔ VI VÀ Ý NGHĨA HÌNH-NHI-THƯỢNG
CỦA NÓ.
Song,
nếu mở rộng phạm vi của vô vi ra thì nó sẽ không chỉ
hạn cục trong trạng thái ẩn tàng mà thôi, nghĩa là, lúc
đó người ta không thể tìm thấy cái thường-trụ-tướng
bất sinh bất diệt ở trong các pháp hữu vi bíên hóa sinh
diệt nữa. Đại-chúng-bộ đã dựa vào thuyết này mà mở
rộng cái phạm vi của vô vi, nhưng sự khoáng trương ấy thật
ra đã xuất phát từ pháp tắc thường-trụ-quan của Phật
giáo Nguyên thủy.
Trong
thường-hằng-tính pháp tắc, bất luận theo giáo lý của Phật,hay
theo tính chất của nó, cái phải để cập đến trước hết
là pháp-tắc-duyên-khởi. Như trên đã nói, đức Phật đã
tận lực thuyết minh cái tính chất bất biến của pháp tắc
duyên khởi và điều đó đã được Đại-chúng-bộ dẫn dụng
kinh văn để chứng minh về quá-vị-vô-thể-luận của mình
(mắt không thật mà sinh, sinh rồi diệt hết. Có nghiệp báo,
không người tạo tác. Ấm này diệt rồi, ấm khác kế tục)
(Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận trang 275). Theo Tôn-luân-luận
thì những phái lập pháp này thành một trong các loại vô-vi-pháp
là Đại-chúng-bộ, Nhất-thuyết-bộ, Thuyết-xuất-thế-bộ
và Kê-dận-bộ (riêng trong K. V. VI, 2 gọi là Đông-sơn-bộ);
đối với phía Thượng-tọa-bộ, điểm này, theo tôi, những
phái chịu ảnh hưởng của Đại-chúng-bộ như Hóa-đị-bộ
chẳng hạn – (Hữu Bộ cho duyên-khởi-chi-tính-vô-vi - Quốc
dịch Tôn-luân-luận trang 43), gọi là “duyên-khởi-chí-tính-vô-vi”
hay “duyên-khởi-chân-như”. Nếu cho bất biến là vô vi thì,
do cùng một lý do, ta cũng có thể cho cái nghịch với duyên
khởi là sự quan hệ giữa tu đạo và đắc quả là vô vi
được. Như chính đức Phật đã nói rõ: việc tu đạo đắc
quả không cần phải có Phật ra đời hay không (cũng có thể
thực hiện được) (Sư quan hệ giữa tu đạo và đắc quả
(Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận trang 98-99). Các nhà
phân biệt luận thì cho thể của thành đạo là vô vi; họ
nói: “ Duy chỉ có đạo Vô-thượng-chính-đẳng-bồ-đề
là thường trụ bất diệt, tùy theo các đức Phật ra đời,
phần năng chứng thì tuy có khác, nhưng phần sở chứng thì
không khác”. Để chứng minh, họ dẫn câu kinh “Vì ta đã
chứng Thánh đạo nên biết Thánh đạo là vô vi” (Bà sa quyển
93, Đại chính, 27, trang 497, hạ). Và các phái lập Thánh đạo
làm vô vi thì mệnh danh nó là Thánh-đạo-chí-tính-vô-vi, hay
là Đạo-chi chân-như (Quốc dịch Tôn-luân-luận trang 27 và
58).
Như
vậy, lại tiến thêm một bước nữa mà nói thì cái quá trình
duyên khởi chi phối hiện-tượng-giới và cái quá trình hoàn
diệt chi phối lý-tưởng-giới, nếu cho cái gì bất biến
là vô vi, thì chính lý pháp Tứ Đế kết hợp hai giới trên
cũng phải là vô vi. Tại sao vậy? Bởi vì lưu chuyển và hoàn
diệt phải diễn biến qua giáo pháp Tứ Đế là chân lý bất
biến. Huống nữa, chính đức Phật đã nói Tứ Đế là chân
như là tính không hư vọng (Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng
Luận, trang 103), vậy thì cho Tứ Đế là vô vi thiết tưởng
rất phù hợp với chân ý của đức Phật. Và theo Luận-Sự
63 thì Đông-sơn-bộ đã cho Tứ Đế là vô vi khi đề xướng
Tứ-thánh-đế-vô-vi.
Lấy
toàn thể Tứ Đế là vô vi rồi, lại tiến lên bậc nữa
đến tổ chức Tứ Đế thì cái pháp tắc hay quy định của
bộ phận Tứ Đế, hãy cứ giả định nó là thường hằng,
thì tất nhiên nó cũng là một loại vô vi. Nói một cách đơn
giản thì: cái lý pháp thiện nhân thiện quả, ác nhân ác
quả là sự kiện trọng đại trong quá trình duyên khởi, mà
lý pháp đó lại là bất biến cho nên không thể không là
vô vi. Y cứ vào kiến giải đó mà lập ra ba vô vi thiện-pháp-chân-như,
bất-thiện-pháp-chân-như, và vô-ký-pháp-chân-như, theo Tôn-luân-luận
(Quốc dịch trang 58) là chủ trương là Hóa-đị-bộ. Chủ
trương đó muốn nói thiện-nghiệp có thiện-quả, ác nghiệp
có ác quả và vô ký nghiệp có vô ký báo: đó là lý pháp
nhất định, là chân lý bất biến. Trong Luận-Sự tuy không
có tài liệu nào nói rõ về ba nghiệp trên có thể được
lập thành ba vô vi, nhưng, cũng theo Luận-Sự (XXI, 8) thì Án-đạt-la-phái
và Bắc-đạo-phái chủ trương “Tất cả việc đó đềucó
quả báo quyết định”. Tuy Án-đạt-la-phái không gọi là
đó vô vi, nhưng nếu suy tầm kỹ thì cuối cùng nó tất sẽ
thành một loại vô-vi-pháp.
Bây
giờ lại quay sang nhận xét nó qua pháp tắc thuộc lý-tưởng-giới,
thì đạo-chi-chân-như, giữa Thánh đạo và đắc quả có một
quan hệ bất biến: đó là pháp tắc nhất ban. Nếu lại phân
tích một cách tỉ mỉ hơn thì quá trình đắc quả cũng có
nhiều, nghĩa là, những sự kinh quá từ khoảng chính lý-ly-sinh
tiến đến La hán, trong đó có một quy định nhân quả nhất
định, mà quy định đặc thù đó cũng là bất biến; cho nên,
nói theo lập trường bất biến, quy định đó tất nhiên cũng
là vô vi. Theo ý nghĩa ấy, Án-đạt-lai-phái đã chủ trương
“nhập-quyết-định-vị” (về những nghị luận về niyàma,
có thể tham chiếu Points of Controversy p. 177, phần chú thích
1 của Phật-Âm) dù cho có quanh co chăng nữa thì cuối cùng
vẫn có thể nhập giải thoát bất biến, cho nên chính quyết-định-vi
cũng là vô-vi. Cũng như trên đã trình bày, Đông-sơn-bộ đã
chủ trương mỗi quả vị của Tứ-sa-môn-quả là một
vô vi vậy.
Cái
phạm vi của vô vi đã dần dần được mở rộng và nó không
còn chỉ giới hạn trong cái quy định hay quan hệ đặc định
nữa: hễ có quan hệ bất biến nào tất phải cho đó là vô-vi-pháp.
Thế nhưng, nói theo lập trường Phật giáo, trong thế này
không có cái gì là ngẫu nhiên cả, hết thảy đều được
quy định bởi một quy luật nhất định, cho nên, nếu nói
một cách chặt chẽ thì căn để hết thảy mọi vật đều
có vô-vi-pháp trong đó. Theo ý nghĩa ấy Án-đạt-la-phái và
Bắc-đạo-phái chủ trương hết thảy các pháp, về tính chất,
đều là quyết định, nhất định, nhất là Bắc-đạo-phái
đạt đến cái gọi là quan niệm chân như, cho rằng chân như
của các pháp là vô vi. Chân như này, theo các phái chú giải,
là Sabhavata, chỉ cái quan niệm tương đương với chủng hay
loại. Chẳng hạn như cây tùng là tùng, người là người,
như thế sẽ gọi chân như của tùng, chân như của người.
Học phái duy nhất trong các phái Tiểu thừa dùng chân như
với ý nghĩa trên là Bắc-đạo-phái. Và điều này đã có
quan hệ với cách dụng ngữ trong chân như tư tưởng về sau,
đó là điểm ta cần lưu ý. Đến đây, tư tưởng Phật giáo
và chủ trương của Văn-điển-phái có thể nói rất gần
với cái được gọi là Tư-bá-tha-quan. Theo Tư-bá-luận: căn
để của hết thảy hiện tượng đều có tư-bá-tha bất biến,
và cái bất biến đó lại bị gói ghém trong quan niệm về
Phạm. Chân như trên kia cũng hơi bao hàm ý nghĩa ấy. Duy có
điểm bất đồng là Tư-bá-tha-luận cho tư-bá-tha-bất-biến
ấy tồn tại ngoài cá vật, trái lại, Phật giáo thì lại
coi chân như tức là cá vật. Tuy nhiên, cách thuyết pháp của
cả hai bên thì rất tương tự nhau, đó là điều hiển nhiên.
Tóm
lại, đến đây bộ diện của vô-vi-pháp so với vô vi của
Hữu Bộ được trình bày ở trên đã đổi mới; đối với
hữu-vi-pháp, thay vì gọi là pháp tương đối thì lại nói
là căn để của các pháp hữu vi mà trong đó có bao hàm ý
nghĩa hình-nhi-thượng-học. Theo ý nghĩa đó, luận Đại-tỳ-bà-sa
nói rằng các nhà Phân-biệt-luận chủ trương cho rằng thế
của hữu-vi-tướng là vô vi (Bà sa quyển 38, Đại chính, 27,
trang 190, thượng). Về sau, Đại thừa Phật giáo bàn đế
thực tướng của các pháp, chân như của vạn hữu, rồi cuối
cùng đã tiến đến từ chân như nói đến vạn hữu, giả
sử có liên hệ với bộ phái Phật giáo thì ta có thể nói
tư tưởng này của Đại thừa chẳng qua cũng chỉ là sự
khai triển của tư tưởng bộ phái mà thôi.
4-
BỊ KHẢO.
Dưới
đây chúng tôi sẽ giải thích rõ về pháp số của vô vi được
thành lập của các bộ phái để tiện cho việc nghiên cứu.
a-
Nam-Phương Thượng-tọa-bộ (1) – Niết bàn pháp. Thành-thật-luận
cũng có thể được kể là 1 loại.
b-
Thuyết -nhất-thiêt-hữu (3) - Trạch-diệt, Phi-trạch-diệt,
Hư-không.
c-
Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm-luận (7) Trí-duyên-tận (trạch diệt),
Phi-trí-duyên-tận (Phi-trạch-diệt), Quyết-định-pháp-trụ-duyên
(Duyên-khởi-chi-tính), Không-xứ-trí, Thức-xứ-trí, Bất-dụng-xứ-trí,
Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ-trí (quyển 1, Đại chính, 28,
trang 526, hạ, trong thuyết Pháp-nhập).
d-
Đại-chúng-bộ, Nhất-thuyết-bộ, Thuyết-xuất-thế-bộ và
Kê-dận-bộ (9) - Trạch-diệt, Phi-trạch-diệt, Hư-không, Không-vô-biên-xứ,
Thức-vô-biên-xứ, vô-sở-hữu-xứ, Phi tưởng-phi-tưởng-xứ,
Duyên-khởi-chi-tính, Thánh-dạo-chi-tính (Tôn-luân-luận).
e-
Hóa-đị-bộ (9) - Trạch-diệt, Phi-trạch-diệt, Hư-không, Bất-động,
Thập-thiện-pháp-chân-như, Bất--thiện-pháp-chân-như, Vô-ký-pháp-chân-như,
Đạo-chi-chân-như, Duyên-khởi-chân-như (Tôn-luân-luận).
f-
Vô Trước Đại thừa A-Tỳ-Đạt-Ma tập luận (quyển 1 (8)
- Thiện-pháp, Bất-thiện-pháp, Vô-ký, Hư-không, Trạch-diệt,
Phi-trạch-diệt, Bất-động, Tưởng-thụ-diệt, (Đại chính,
31, trang 666, thượng. Phần giải thích thấy trong An-tuệ, Đại
thừa A-Tỳ-Đạt-Ma tập luận quyển 2, Đại chính, 31, trang
702, trung).
g-
Án-đạt-la-phái: - Diệt-định-vô-vi, Quyết-định-vô-vi, Nghiệp-quả-quyết-định,
Nhất-thiết-pháp-quyết-định.
h-
Bắc-đạo-phái: - Hư-không, Diệt-định-vô-vi, Nghiệp-quả-quyết-định,
Nhất-thiết-pháp-định.
i-
Đông-sơn-bộ: - Sa-môn-quả-vị-vô-vi, Đắc-vô-vi, duyên-khởi-vô-vi,
Tứ-vô-sắc-vô-vi, Tứ-đế-vô-vi.
j-
Phân-biệt-bộ: - Thể của tất cả của hữu-vi-tướng là
vô vi (Bà sa luận quyển 38, Đại chính, 27, trang 198, thượng).
Về
ba vô vi, các bộ phái giải thích như đồ biểu dưới đây:
Thể
của Hư-không-vô-vi là một hay nhiều? Bà sa-luận đã đề
cập trong quyển 10, (Đại chính, 27, trang 46, thượng), thể
của Trạch-diệt là một hay nhiều? Có thuyết nói là một,
có thuyết nói 89 (Bà sa quyển 31, Đại chính, 27, trang 161,
hạ).