CHƯƠNG
II
CÁC
YẾU TỐ VÀ SỰ PHÂN LOẠI CÁC PHÁP
1-
LỜI TỰA.
Trở
lên, chúng tôi đã trình bày ý kiến của các bộ phái đối
với bản chất tồn tại gồm có ba khuynh hướng là thực-tại-luận,
duy-tượng-luận và hình-nhi-thượng-học-thực-tại-luận.
Song đây là sự kiện liên quan đến vấn đề bản chất.
Đứng trên lập trường hiện tượng mà nói thì tất cả
các phái đều dễ thừa nhận sự tồn tại của vạn hữu.
Nguyên Thủy Phật Giáo cho rằng vạn hữu được cấu tạo
bởi nhiều yếu tố, và cái thông lệ đó cũng được mọi
phái thừa nhận. Nghĩa là, tất cả các pháp do nhân duyên
(quan hệ) hòa hợp mà có chứ tuyệt nhiên không có cái gọi
là đệ-nhất-nhân, hay đệ nhất nguyên lý nào cả: đó là
ý kến nhất trí của tất cả A-Tỳ-Đạt-Ma (Câu-xá quyển
26, Quốc dịch trang 749). Kết luận của thuyết Giả-danh-vô-thực-thể
của nhất-thuyết-bộ tuy không được rõ như thế nào, nhưng
nhận xét theo những A-Tỳ-Đạt-Ma-thư hiện còn thì các bộ
phái dù chủ trương chủ nghĩa nào đi nữa, khi thuyết minh
về hiện-tượng-luận cũng đều theo cái thông lệ là kể
đến các loại yếu tố.
Nhưng
cái số mục mà các bộ phái thành lập những yếu tố đó
cứu kích như thế nào? Và phân loại nó ra làm sao? Vấn đề
này, nếu nói một cách chặt chẽ thì trong mỗi phái đều
có đặc sắc riêng, nhưng nói một cách đại thể thì giữa
các bộ phái cũng có cách lập pháp cộng thông, bởi vì các
bộ phái đều thừa kế sự phân loại các yếu tố của Phật
giáo nguyên thủy rồi dần dần đem nó khoáng trương và phát
triển thêm mà thôi. Trước hết Chúng-tập-kinh trong bộ Trường-A-hàm
đưa ra số mục này, đến kinh Tăng Nhất A-Hàm đưa ra phương
pháp thuyết minh, A-Tỳ-Đạt-Ma rất ưa chuộng phương pháp
thuyết minh ấy và đem ứng dụng nó trong tất cả mọi phương
diện. Do đó, nếu nhất nhất đề cập đến mỗi phái thì
công việc sẽ hết sức phiền tạp, cho nên, ở đây chỉ
đề cập đến những điểm chủ yếu mà thôi, và, sau cùng,
tôi tưởng ta chỉ căn cứ vào phương pháp thuyết minh về
đặc chất của các yếu tố nào mà ta cho là thích đáng nhất.
2-
Ý NGHĨA SỰ PHÂN LOẠI CÁC PHÁP.
Vấn
đề tiên quyết phải được nêu lên ở đây là: những yếu
tố về mặt pháp tướng của A-Tỳ-Đạt-Ma là gì? Cái cơ
sở để phân loại các yếu tố ấy ra sao? Đó là vấn đề
căn bản của yếu-tố-luận.
Nói
một cách tóm tắt thì Phật giáo gọi tất cả những yếu
tố cầu tạo vạn hữu là “Pháp”. Do đó mà trong Phật
giáo vạn hữu được gọi là “nhất thiết pháp”. Song,
ý nghĩa của chữ “pháp” là gì? Theo thông lệ, các vị
luận sư của A-Tỳ-Đạt-Ma đều giải thích là “tự-tính-nhậm-trì”,
nghĩa là chữ “pháp” có một đặc chất nhất định, không
thay đổi. Các nhà chú thích Duy-thức-thuật-ký-nhất-bản
(Đại chính, 43, trang 239, hạ), Câu-xá-luận-ký quyển I (Đại
chính, 43, trang 8, hạ) lại thêm một điều kiện nhận-thức-luận
nữa bằng từ ngữ “quĩ-sinh-vật-giải” để định nghĩa
chữ “pháp”. Như vậy, hợp lại thì cái gì có một đặc
chất nhất định để phát khởi một nhận thức thích ứng
với cái đó thì gọi là “pháp”. Nói cách khác, cái gì
đó đặc chất nhất định và được nhận thức thì gọi
là “pháp”. Như vậy, cái mà Phật giáo gọi là yếu tố
là muốn nói: khi đem phân tích và giải phẩu cái tổ chức
và hoạt động của vạn hữu thì thấy có một đặc chất
nhất định do đó vạn hữu được nhận thức. Song đây mới
chỉ là luận về đại thể mà thôi. Tiến lên bước nữa,
làm thế nào để cụ thể hóa cái tướng đặc thù của các
pháp được nhận là có một đặc chất nhất định? Đây
thật là vấn đề cực khó khăn. Vì trong mọi hiện tượng,
bất luận là vật hay tâm, các yếu tố đều hỗ tương quan
liên, cho nên, nếu đem phân tích chung một cách rõ ràng là
một việc rất khó. Nói một cách đơn giản, nhu những màu
sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, đặc chất của mỗi màu tuy khác
nhau nhưng trên thực tế, cái giới hạn của chúng rất khó
phân biệt. Hoặc như cùng là một cảm tình, mừng, giận,
thương, vui.v.v..mỗi mỗi đều có đặc chất riêng, nhưng
giới hạn của chúng thì thật cũng khó phân biệt. Vấn đề
này lấy kinh nghiệm và phản tỉnh làm cơ sỏ, tất kính không
ngoài kết quả của sự quan sát. Nhưng cái xu thế ưa sự
phân tích nghiên cứu của thời đại Phật giáo nguyên thủy
càng tiến bộ thêm ở thời đại Bộ phái Phật giáo. Hơn
nữa, vì sự sản sinh ra pháp-thể-hằng-hữu-luận, nên, việc
thích ứng với luận thuyết đó cũng đã trở thành một vấn
đề rất trọng đại đối với Bộ phái Phật giáo. Về chủng
loại và số mục của các yếu tố, trên đại thể, các phái
tuy có chỗ cộng thông, nhưng đến chi tiết thì giữa các
phái cũng có nhiều điểm bất đồng. Chính do đó mà về
vấn đề định số của pháp-số cùng tính chất giả, thật
đã phát sinh ra những luận thuyết bất đồng.
Trở
lại vấn đề, chúng ta phải phân loại các pháp như thế
nào? Đây cũng là một vấn đề trọng đại, vì nếu cứ
thành lập vô số pháp một cách hỗn tạp thì đó không phải
là phương pháp rõ ràng để quan sát tính chất của các pháp,
cho nên cần phải căn cứ vào nguyên tắc nào để có thể
phân loại các pháp một cách tận cùng mà đơn giản. Vấn
để chính là ở đó (đương nhiên, vấn đề này cũng còn
do thái độ và mục đích quan sát như thế nào mà có điểm
bất đồng, vả lại, trên thực tế, từ Nguyên thủy Phật
giáo đến các vị A-Tỳ-Đạt-Ma Luận sư, tuy phần lớn căn
cứ và áp dụng phương pháp phân loại nào tiện lợi, song
cũng vẫn phải dựa vào một nguyên tắc để lập thành phương
pháp phân loại). Chính vì thế mà cái gọi là “Nhiếp Phẩm”
được biểu hiện trong các A-Tỳ-Đạt-Ma luận thư đã trở
thành đề mục cho mục đích đó. NHiếp Phẩm muốn đứng
trên nhiều lập trường khác nhau để thí nghiệm qua phưng
pháp “tương hổ tương nhiếp” (về Nhiếp phẩm tham chiếu
Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm luận quyển 21-24). Còn như cái tiêu
chuẩn thì giữa các bộ phái cũng có những nghị luận khác
nhau, Đại-tỳ-bà-sa luận quyển 59 (Đại chính, 27, trang 306,
trung) nói: Các nhà Phân-biệt-luận chủ trương rằng cái gọi
là “tương nhiếp” chỉ có nghĩa nhiếp tha tính chứ không
phải nhiếp tự tính. Nghĩa là, theo phái này thì cái gọi
là “phân loại” chỉ có nghĩa là đem thống nhiếp tất
cả những sự vật bất đồng lại thành một loại mà thôi,
bởi thế nên cái nguyên lý của nó có thể nói tất kính
cũng chỉ nhằm đến mục đích tiện lợi mà thôi. Thuyết
của các nhà Phân-biệt-luận, theo chỗ lập cước của một
loại duy-danh-luận, chỉ coi vật thể cá biệt như những đơn
vị tồn tại, rồi đem thống hợp tương nhiếp tất cả những
đơn vị đó trong những phạm trù khác nhau, thật ra không
ngoài sự chỉnh lý khái niệm của người ta mà thôi. Thuyết-giả-bộ
dùng cách phân loại “Tam khoa” cho rằng hết thảy đều
là giả đã hoàn toàn xuất phát từ thuyết trên này. Theo
Luận-Sự 7, 1 thì Vương-sơn-bộ, Nghĩa-thành-bộ cũng phát
biểu cùng một ý kiến. Trái lại, theo lập trường của Thực-tại-luận
tuy là đơn giản, nhưng có thể lập thành cái nguyên lý thỏa
đáng đó vẫn là Bà sa (quyển 59, Đại chính, 27, trang 306),
Câu xá (quyển 1, Quốc dịch, trang 46-48), bởi thế, ở đây
ta hãy lấy đó làm đại biểu để quan sát.
Theo
Bà sa, Câu xá thì cái tinh thần của phương pháp phân loại
ngụ trong câu: “nhiếp tự tính, ly tha tính”; nghĩa là cho
những sự vật cùng một tính chất vào một loại, những
sự vật không cùng tính chất vào một loại khác, chẳng hạn
như những hiện tượng của tâm (tâm sở) tuy có nhiều loại,
nhưng bất luận loại nào cũng đều lấy tự tâm làm chủ
thể; về mặt hoạt động của tâm, thống hợp tất cả những
yếu tố hoạt động đó lại mà gọi là “tâm sở”. Lại
như những hiện tượng vật tuy có nhiều loại nhưng vì đặc
chất của chúng là biến hoại và chấp ngại nên gọi chúng
là “sắc pháp”. Tức là một mặt nhiếp tự loại, nhưng
mặt khác, không hòa nhập với tha loại: đó là quy tắc căn
bản của sự phân loại này. Hữu Bộ có nhiều pháp, tức
đặc sắc “tự tính nhậm trì, quỹ sinh vật giải”, trong
các hiện tượng, dần dần đã nhiếp một khái niệm cao,
ước khoảng trăm pháp (Câu xá 75 pháp). Rồi lại đem tương
nhiếp phụ loại để trở thành phương pháp phân loại trong
Phẩm-loại-túc-luận trở về sau đến Bà sa, Câu xá, v.v…
Không những thế, theo Bà sa luận thì giáo đồ của Hữu Bộ
trở về sau không hẳn chỉ hạn định trong cách phân loại
“ngũ vị”, từ thời đại Phật giáo Nguyên thủy, cái mô
phạm phân loại vạn hữu như ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập
bát giới, tất cả đều theo quy tắc này. Có thể nói, cách
phân loại “Tam khoa” muốn đặt một nền tảng khoa học.
BỊ
KHẢO: - “Về tính chất giả, thực của Tam khoa, giữa
các bộ phái có nhiều nghị luận khác nhau. Chẳng hạn sự
phân loại uẩn, xứ, giới của Thuyết-giả-bộ, bất luận
loại nào, chẳng qua chỉ căn cứ vào sự tiện lợi mà thôi,
vì thế cho rằng hết thảy là giả. Kinh-lượng-bộ thì nói,
phân loạo ngũ uẩn và thập nhị xứ là phương tiện (giả),
còn phân loại thập bát giới là chân thực. Luận chủ Câu
xá là Thế Thân thì lại chủ trương: thập nhị xứ, thập
bát giới là chân thực, nhưng phân loại ngũ uẩn là giả.
Còn như lập trường cố hữu của Hữu Bộ thì dĩ nhiên chủ
trương tam khoa đều là thực cả”.
Như
vậy, tuy các bộ phái muốn nêu rõ cái tinh thần và nền tảng
của sự phân loại, nhưng, như trên đã nói, vì chỉ nhằm
vào tiện nghi nhất thời nên đã đưa ra nhiều cách phân loại,
và về quan hệ, thật tế mà nói, tất cả đều không hợp
lý. Song, A-Tỳ-Đạt-Ma Phật giáo, ở điểm lấy sự phân
loại, tương nhiếp, phân loại làm phương pháp nghiên cứu
chủ yếu, luận cứu về vấn đề này, có thể nói rất có
ý nghĩa học vấn.
3-
NHỮNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI.
Bây
giờ ta lại xét đến các loại pháp mà các bộ pháp áp dụng
hay đề xướng cùng với phương pháp tương nhiếp của chúng.
Về điểm này, Từ chỗ cực đơn giản tiến đến chỗ cực
phức tạp có rất nhiều phương thức.
Trước
hết hãy đề cập đến giai đoạn cực đơn giản đã. Lúc
ban đầu, vạn hữu được chia thành hai loại mà ai cũng
biết là: hữu-vi-pháp và vô-vi-pháp. Đây là cách phân loại
mà đức Phật - đặc biệt đứng trên lập trường giá trị
- đã đề xướng. Sau do sự phát triển của vô vi quan mà
cách phân loại đó đã trở nên rất phổ thông. Chẳng hạn
A-Tỳ-Đạt-Ma-pháp-yếu-luận cũng lấy cách phân loại này
làm một tiêu chuẩn. Đến luận Câu xá, khi giải thích về
vạn hữu, lúc đầu chia thành hữu lậu và vô lậu, nhưng
sau chia ra hữu vi và vô vi (Câu xá luận quyển 1) chính thật
đã phát xuất từ phương thức trên đây. Rồi lại có những
khuynh hướng muốn chia vạn hữu thành ba loại mà trong đó,
theo chỗ tôi biết, Câu xá luận vẫn trội hơn cả, Câu xá
thử chia vạn hữu thành nhất-uẩn, nhất-xứ, nhất-giới
ba khoa, muốn thu nhiếp hết thảy mọi yếu tố vạn hữu (Câu
xá luận quyển 1 (Quốc dịch trang 47): Tóm thâu hết thảy
pháp, do một uẩn-xứ-giới; nhiếp tự tính, xa lìa tha tính).
Nghĩa là, trong sắc uẩn bao gồm vật chất, trong ý xứ nhiếp
thâu hết thảy tinh thần, và trong pháp giới bao gồm tất
cả pháp bất-tương-ưng, các pháp vô vi và những hiện tượng
tương đương với tinh thần. Nói một cách đơn giản, vạn
hữu được chia thành ba loại: vật, tâm và vô vi. A-Tỳ-Đạt-Ma-pháp-yếu-luận
(8-13) đại khái cũng đề cập cách phân loại này, do đó
chia vạn hữu thành danh (tâm), sắc (vật) và thi thiết ba loại.
Rồi lại tiến thêm một bước nữa, cái phương thức chia
vạn hữu thành bốn yếu tố cũng đã phát xuất từ thời
đại Phật giáo Nguyên thủy: đó là thuyết Tứ thực. Thuyết
này chủ yếu chỉ muốn nói rõ những yếu tố cấu tạo các
loài hữu tình, nhưng nếu nói rộng ra, thì nó cũng có thể
bao hàm toàn thể các yếu tố vạn hữu. Tứ thực là: đoạn
thực, xúc thực, ý tư thực và thức thực. Đoạn thực chỉ
các yếu tố vật chất, còn ba thực kia chỉ những yếu tố
tinh thần hợp lại để cấu tạo và duy trì các loài hữu
tình, như thực vật nuôi dưỡng thân thể vậy. Chính vì theo
ý nghĩa ấy nên nói là “thực” (về Tứ thực, tham chiếu
Phật giáo Nguyên thủy tư tưởng luận, 340). Song, thuyết Tứ
thực mang rất nhiều ý nghĩa thí dụ, hơn nữa, nó không bao
hàm các pháp vô vi, cho nên A-Tỳ-Đạt-Ma tựa hồ không cho
đó là phương pháp phân loại phổ cập.
Một
thuyết khác nữa tuy cũng cùng một khuyết điểm như thuyết
Tứ thực là không bao hàm các pháp vô vi, nhưng từ thời đại
Phật giáo Nguyên thủy đến A-Tỳ-Đạt-Ma Phật giáo đã tở
thành một phân loại tiêu chuẩn rất quen thuộc: đó thuyết
Ngũ Uẩn. Thuyết này chia vạn hữu thành sắc (vật chất),
thụ (cảm giác, cảm tình), tư (biểu tượng), hành (ý chí)
và thức (ngộ tính, thống giác) năm loại, trong đó một loại
thuộc vật chất và bốn loại thuộc tinh thần. Lại một
cách phân loại nữa tuy không chiếm được ưu thế lắm, nhưng
theo một ý nghĩa nào đó, nhưng có thể ngang hàng với thuyết
Ngũ Uẩn. Đó là thuyết địa, thủy, hỏa, phong, không, thức
sáu loại, và, trái ngược với thuyết ngũ uẩn, trong đó
chỉ có một yếu tố tinh thần, còn tất cả là vật chất.
Cách phân loại này đã được nói đến trong A-Hàm bộ, Đa-giới-kinh
(Đại chính, 1, trang 723) và tiến lên nữa, trong thuyết Lục-đại-duyên-khởi
của Chân-ngôn-tông cũng đã bàn đến, nhưng trong A-Tỳ-Đạt-Ma
Phật giáo nó vẫn không được coi là trọng yếu lắm.
Thuyết
Ngũ uẩn, như đã thuật ở trên, tuy được coi là phân-loại-pháp
rất có ưu thế, nhưng trong đó lại không bao hàm vô vi và
như vậy không khỏi có chỗ khiếm khuyết, cho nên, giữa các
học phái cũng có phái chủ trương thêm các pháp vô vi vào
để bổ khuyết cho phân-loại-này này. Người được coi có
ý đồ đó là Ngộ Nhập, tôn sư của Thế Thân. Trong Nhập-A-Tỳ-Đạt-Ma-luận,
ngoài ngũ uẩn ra, Ngộ Nhập còn thêm vào ba pháp vô vi là
trạch diệt, phi-trạch-diệt và hư không, muốn chia vạn hữu
thành tám cú nghĩa (Thiện-thệ-chi-tông hữu Bát-cú-nghĩa:
I) sắc, 2) thụ, 3) tưởng, 4) hành, 5) thức, 6) hư không, 7)
trạch diệt, 8) phi-trạch-diệt, thử tổng nhiếp nhất thiết
nghĩa (Nhập-A-Tỳ-Đạt-Ma-luận quyển thượng, Đại chính,
28, trang 980, hạ).
Tuy
có nhiều cách phân loại như thế, nhưng, từ nguyên thủy
Phật giáo đến A-Tỳ-Đạt-Ma Phật giáo, cách phân loại được
coi là trọng yếu nhất mà tất cả đều áp dụng là phân
loại Thập-nhị-xứ và Thập-bát-giới.
Thuyết
thập-nhị-xứ, thập-bát-giới đều đứng trên căn bản nhận-thức-luận,
trong có thể thu nhiếp hết thảy mọi yếu tố. Hai thuyết
này cộng thêm với thuyết ngũ uẩn kể trên thành ra cái gọi
là “tam-khoa-phân-loại” và hầu như đã trở thành phương
thức tiêu chuẩn của tất cả A-Tỳ-Đạt-Ma.
Dưới
đây là đồ biểu về thập nhị xứ:
Sự
phân loại trên đây là căn cứ vào cái quan hệ giữa
lục cảm và đối tượng của chúng. Trong đồ biểu trên,
ý nghĩa của ngũ căn và ngũ cảnh đã rất rõ ràng, riêng
về ý nghĩa ý căn của căn thứ sáu và pháp xứ của cảnh
thứ sáu cần phải được giải thích thêm.
Về
mặt pháp tướng của A-Tỳ-Đạt-Ma, ý căn tuy có nhiều giải
thích khác nhau, nhưng ở đây nó đồng ngĩa với ý thức thứ
sáu và được gọi là căn, có ý nghĩa một cơ quan nhận thức
đối tượng. Còn về pháp xứ (1) thì không phải là đối
tượng của năm cảm quan trước mà chỉ là đối tượng ý
thức mà thôi, trong đó gồm có vô vi, bất-tương-ưng-hành-pháp
và những hiện tượng tinh thần và khách quan. Như vậy, về
mặt nhận-thức-luận nó có thể bao hàm hết thảy. Về điểm
này, đức Phật đã trực tiếp gọi nó là “nhất thiết”
(toàn vũ trụ) (tham chiếu Tạp-A-hàm quyển 13, Đại chính
2, trang 91, thượng; Nguyên Thủy Phật Giáo Tư-Tưởng-Luận
trang 153). Giữa các học giả, sự phân loại này được nhận
là hay nhất.
Thứ
đến Thập-bát-giới. Đem lục căn và lục cảnh kể trên
phối hợp với lục thức thành ra Thập-bát-giới, và điều
này đúng ra không ngoài việc khoáng đại tinh thần của Thập-nhị-xứ.
(1)
Thể của Thập-nhị-xứ đều là pháp cả, vậy tại sao chỉ
lập có một pháp xứ? Về điểm này, luận Bà sa quyển 73
(Đại chính, 27, trang 380, thượng) đưa ra 11 lý do như sau:
1) hữu-thí-dụ cố; 2) bất cộng danh vô cố; 3) sinh tướng;
4) tứ-hữu-vi-tướng; 5) danh, cú, văn, thân duy ư thử xứ
nhiếp cố; 6) thông sinh chư pháp cố; 7) không giải thoát môn;
8) trạch-diệt-niết-bàn; 9) như thực giải tuệ, diệt duy
nhiếp ư thử xứ cố; 10) nhiếp đa pháp cố; 11) đối ý xứ
cố.
Giản
ước hơn, luận Câu-xá quyển 1 (Quốc dịch trang 66) chỉ đưa
ra có ba lý do: “1) Vị sai biệt tối thắng; 2) nhiếp dụ;
3) tăng thượng pháp, cố nhất danh pháp xứ”.
Còn
về pháp giới thì luận Bà sa quyển 74 (Đại chính, 27, trang
370, hạ) giải thích: “Chư pháp vị ý dĩ chính đáng, thị
danh pháp giới”.
Dưới
đây là đồ biểu về Thập-bát-giới:
Khi
phối hợp như thế thì vấn đề được đặt ra là: sự sai
khác giữa ý-căn-giới và ý-thức-giới cứu cánh là như thế
nào? Vấn đề này giữa các bộ phái có nhiều giải thích
bất đồng. Đứng về phương diện pháp tướng của A-Tỳ-Đạt-Ma
mà nói, đây tuy là một vấn đề rất khó, nhưng ở đây
chúng tôi xin tạm giải thích như sau: ý-căn-giới chuyên chỉ
ở phương diện bị động, còn ý-thức-giới phán đoán, suy
lý, v.v…không nhiều thì ít, bao hàm phương diện của tâm.
Trong
những cách phân loại kể trên, như đã được trình bày,
Ngũ uẩn, Thập-nhị-xứ, Thập-bát-giới, được gọi là Tam
khoa, là những phân loại cơ bản của tất cả A-Tỳ-Đạt-Ma
(về tinh thần “Tam khoa phân loại”, xin xem Bà sa 71, (Đại
chính, 27, trang 366, hạ).
Ngoài
ra, còn một phương thức nữa cũng đã được tất cả A-Tỳ-Đạt-Ma
luận cứu một cách tận lực: đó là Nhị-thập-nhị-căn-luận.
Theo chỗ chúng tôi nghiên cứu thì trong Ni-ka-da tuy chưa biểu
hiện một cách thống hợp, nhưng đã được đề cập rải
rác ở nhiều chỗ. Đến luận bộ thì bắt đấu từ Tỳ-bà-băng-già
(chương 5) rồi lần lượt tất cả luận, kể cả các luận
bộ Bắc-Phương luận cứu đến, (Phát-trí-luận quyển 5 (Đại
chính, 26, trang 43, trung) lấy Nhị-thập-nhị-căn, thập-bát-giới,
thập-nhị-xứ, ngũ uẩn, ngũ-thủ-uẩn và lục-giới làm phương
thức phân loại chủ yếu của vạn hữu). chẳng hạn như
Căn luận trong các luận Vấn-phận-căn-phẩm trong Xá-lợi-phất
A-tỳ-đàm quyển 5 (Đại chính, 28, trang 560, thượng), Căn
phẩm trong Câu xá luận (quyển 33-7). Do đó, trong luận Bà
sa quyển 142 (Đại chính, 27, trang 729, thượng) tuy có trích
dẫn Khế kinh nói về Nhị-thập-nhị-căn, nhưng trong kinh A
Hàm hiện nay người ta không tìm ra.
Nhị-thập-nhị-căn
(đây chỉ căn cứ theo thuận tự tong Câu xá luận mà thôi)
là:
Nhãn
căn, nhĩ căn, tỵ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn, nữ căn,
nam căn, mệnh căn, lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, tín
căn, cần căn, niệm căn, đinh căn, tuệ căn, vị-tri-đương-căn,
dĩ-tri-căn, và cụ-tri-căn.
Lúc
đầu, cái gọi là căn chỉ dùng theo thông lệ trong các Kinh
với nghĩa tăng tượng mà thôi, chứ trong không có một liên
lạc nào; nhưng đến A-Tỳ-Đạt-Ma thì lại muốn cho nó có
một liên lạc. Theo Câu xá, Bà sa thì sáu căn đầu nói rõ
chỗ y chỉ của tâm, thứ đến, hai căn nam, nữ là chỉ rõ
sự khu biệt giữa các loài hữu tình, mệnh căn thuyết minh
căn bản của sinh mệnh; trở lên là bộ phận liên quan đến
những yếu tố cấu tạo các loài hữu tình; còm từ đó trở
xuống là bộ phận nói rõ cái đạo trình tu dưỡng phải
trải qua. Trước hết nói đến ngũ-thụ-căn để chỉ rõ
cái tướng tạp đa của sinh hoạt tình cảm, rồi dùng nó
làm phương tiện tịnh hóa mà thuyết minh năm tín, cần, niệm,
định, tuệ, và cuối cùng để hoàn thành mục đích tối
hậu mà nói rõ ba căn vô lậu: đó là cái nguyên lý thành
lập Nhị-thập-nhị-căn. Trong luận Câu xá quyển 3 (Quốc
dịch trang 168) có bài tụng như sau:
“Tâm
sở y, thử biệt, thử trụ, thử tạp nhiễm, thử tư lương,
thử tịnh: do thử lượng lập căn”.
Theo
Lân ký trong Tụng Sớ thì đây là luận thuyết của Pháp tạng
bộ (Phật-giáo-đại-hệ-bản-đệ-nhất, trang 224). Còn Câu
xá (quyển 3, Quốc dịch, trang 170) thì lại cho rằng vì muốn
do căn để kiến lập nguyên lý “lưu-chuyển-hoàn-diệt”
mà thuyết minh Nhị-thập-nhị-căn. Do nhưng ý kiến trên đây
ta thấy về căn cứ của thuyết Nhị-thập-nhị-căn có nhiều
thuyết khác nhau: đó là một sự thật hiển nhiên. Song, dù
thế nào đi nữa thì, như đã trình bày ở trên, vì nó là
một phương thức phân loại, cho nên, đứng trên lập trường
thế-giới-quan mà nói, nó vẫn có một giá trị riêng.
4-
ĐẶC BIỆT VỀ PHÂN LOẠI NGŨ VỊ.
Như
vậy là đã có nhiều phương thức phân loại vạn hữu và,
do đó, tính chất của các yếu tố cũng đã rõ ràng dần
dần đã tăng thêm và như thế vẫn còn có chỗ chưa được
thỏa mãn. Cho nên, khuynh hướng muốn thử đưa ra những phương
thức phân loại mới mà không câu chấp vào các kinh cũng đã
phát sinh. Theo chỗ người ta biết, cái phương thức xảo diệu
nhất được coi là do Thế Hữu của Hữu Bộ đề xướng
là thuyết Ngũ Vị. Bởi thế ở đây chúng tôi xin giới thiệu
qua những điểm chủ yếu của thuyết đó trước khi chấm
dứt chương này.
Thế
Hữu (ra đời vào khoảng 500 năm sau Phật nhật diệt) chia
những yếu tố cấu tạo vạn hữu thành năm loại: Sắc, tâm,
tâm sở, Tâm-bất-tương-ưng-hành và vô vi. Ở đầu phẩm
Biện-ngũ-sự trong Phẩm-loại-túc-luận, năm loại lớn trên
lại được chia thành những thành phần nhỏ một cách rất
đơn giản và rõ ràng, bởi thế, dưới đây chúng tôi xin
trích toàn văn của đoạn đó trong Biện-ngũ-sự-phẩm:
Có
năm pháp: 1- sắc, 2- tâm, 3- tâm sở, 4- tâm bất ưng hành,
5- vô-vi-pháp.
Sắc
là gì? Là tất cả những vật chất có hình sắc và do bốn
đại tạo thành. Bốn đại là: đất, nước, lửa, gió. những
sắc được hợp tạo là: nhãn căn, nhĩ căn, tỵ căn, thiệt
căn, thân căn, sắc, thanh, hương, vị xúc và biểu sắc.
Tâm
là gì? Là tâm, ý, thức. Tâm, ý, thức là gì? Là lục-thức-thân,
tức là nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân
thức, ý thức.
Tâm-sở-pháp
là gì? Là những pháp tương ứng với tâm. Pháp đó là gì?
Là: thụ, tưởng, tư xúc, tác ý, dục, thắng giải, niệm,
định, tuệ, tín, cần, tầm, tư, phóng dật, bất phóng dật,
thiện căn, bất thiện căn, vô ký căn, nhất-thiết-kết-phọc,
tùy miên, tùy-phiền-não, triền, chư-sở-hữu-trí, chư-sở-hữu-kiến,
chư-sở-hữu-niệm-quan. Ngoài ra, tất cả các pháp khác tương
ứng với tâm như thế thì đều gọi là Tâm-sở-pháp.
Tâm-bất-tương-hành
là gì? Là những pháp không tương ứng với tâm. Những pháp
đó là gì? Là đắc, vô-tưởng-định, diệt-định, vô-tưởng-sự,
mệnh-căn, chúng-đồng-phận, y đắc, sự đắc, xứ đắc,
sinh, lão, trụ, vô-thường-tính, danh thân, cá thân, văn thân.
Ngoài ra, tất cả các pháp không tương ứng với tâm đều
gọi là tâm-bất-tương-ứng.
“Vô
vi là gi? Là ba vô vi: hư không, phi trạch diệt, trạch diệt”
(Phẩm-loại-túc-luận quyển 1, Đại chính, 26, trang 692, trung).
Đoạn
văn trên đây tuy cực đơn giản nhưng rất đầy đủ, ta có
thể cho đó là mô phạm của sự phân loại cũng không phải
là quá đáng. Cách phân loại này, vế sau, không những đã
trở thành điển hình của Hữu Bộ, mà ngay cả đến phái
Duy thức của Đại thừa cũng lấy đó làm tiêu chuẩn cho
sự phân loại của mình. Hơn nữa, chiếu theo luận bộ Nam
phương, trong bảy bộ luận tuy chưa thấy có sự phân loại
đó, nhưng trong những sản phẩm thuộc thời kỳ sau, người
ta đã phát hiện cùng một loại phân loại ấy. Đó là cách
phân loại trong A-Tỳ-Đạt-Ma-Pháp-Yếu-Luận được coi là
trứ tác của a-nâu-lâu-đà khoảng từ thế kỷ thứ 8 đến
thế kỷ thứ 12. Mở đầu, quyển 1 nói: “Pháp có bốn loại:
1) tâm thức, 2) tâm sở, 3) thô sắc, tế sắc, 4) Niết bàn
(vô vi)”. Nếu chỉ có bốn pháp trên thì so với thuyết Ngũ
vị của Thế Hữu còn thiếu mất “tâm-bất-tương-hành”.
Nhưng, ở một nơi khác, luận này còn đến “thí thiết”,
“khái niệm”, “quan niệm”. Như vậy, Nếu đem các pháp
tâm-bất-tương-ưng-hành và nhân-duyên-pháp của Hữu Bộ thu
nhiếp vào những thi thiết, khái niệm và quan niệm A-tỳ-đạt-ma-pháp-yếu-luận
thì ta có thể nói, trên phương diện toàn thể, sự phân loại
trên đây hoàn toàn cùng một tinh thần với sự phânloại
của Thế Hữu. Đương nhiên, ta không thể nói một cách vô
đoán rằng A-nâu-lâu-đà đã chịu ảnh hưởng của Thế Hữu,
bởi lẽ, đứng về phương diện tính chất của các pháp
mà nói thì sự phân loại nào thì tất nhiên cũng phải như
thế. Tuy nhiên, cái công đầu trong việc đề xướng Ngũ-vị-phân-loại
vẫn là của Thế Hữu: đó là điều ta cần phải thừa nhận.
Thế
Hữu tuy đã thâu nhiếp các pháp vào năm loại (ngũ vị), nhưng
về pháp số thì vẫn chưa thành con số nhất định. Không
những Phẩm-loại-túc-luận như thế mà ngay cả Đại-tỳ-bà-sa-luận
cũng vẫn chưa quyết định thu nhiếp các pháp nào vào năm
vị và bỏ những pháp nào, vì định số chủ yếu về tâm
sở vẫn chưa được quyết định. Vế sau, Duy-thức-phái căn
cứ vào luận Bà sa mà liệt một trăm pháp vào ngũ vị, nhưng
trong Nhập-A-tỳ-đạt-ma-luận của Ngộ Nhập, bề ngoài tuy
không dựa vào cách phân loại ngũ vị, nhưng bên trong cũng
ngấm ngầm dự tưởng phương thức đó mà liệt kê bảy
mươi bảy pháp, song như thế cũng vẫn chưa có được
một con số thống nhất và quyết định. Để chính lý lại
điều này chính là con số năm vị bảy mươi lăm pháp của
luận Câu xá, bởi thế, tôi tưởng nên lấy con số đó làm
đại biểu cho toàn thể và đồ biểu như sau:
Chú:
Ngày nay ai cũng nhận là Câu-xá-luận liệt kê 75 pháp và căn
cứ vào đó để học tập hay nghiên cứu. Nhưng, nói một
cách chặt chẽ thì Câu-xá vẫn chưa xác định con số của
Bất-định- pháp trong tâm-sở-hữu-pháp. Đến Câu-xá-luận-ký
của Phổ Quang mới xác định số của Bất-định-pháp là
8 gồm ác tác, thụy miên, tầm từ, tham sân, mạn, si và căn
cứ vào đó mà nói là 75 pháp của Hữu Tôn.
5-
KẾT LUẬN
Như
trên đã trình bày về những yếu tố tụ, tán, ly, hợp, tức
thế giới, tiếp theo, chúng tôi sẽ nói về những tướng
của các yếu tố đó và, theo nguyên lý luận, trước hết
hãy thuyết minh cái đặc chất của chúng đã. Căn cứ theo
tinh thần của thuyết Ngũ Vị, ta sẽ lần lượt đề cập
đến: (i) Vật-chất-quan, (2) Tâm-lý-quan, (3) Tâm-bất-tương-ưng-hành-quan,
(4) Nhân-duyên-quan, (5) Chư-môn-phân-biệt-thế-giới-quan. Song,
về Vô-vi-luận, vì là một đề mục muốn được bàn đến
sau khi đề cập về hữu-tình-luận, cho nên, ở đây, chúng
tôi sẽ chỉ luận cứu về vật chất, bất-tương-ưng và
nhân-duyên mà thôi.