CHƯƠNG
III
VẬT-CHẤT-LUẬN
1-SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA VẬT-CHẤT-QUAN ẤN ĐỘ VỚI QUAN-HỆ-LUẬN
CỦA CƠ QUAN TÂM LÝ.
Ngay
từ thời đại Phạm Thư, Ấn Độ đã bắt đầu khảo sát
về những yếu tố vật chất, và, như Ốc-lỗ-thái-ân-bái-lỗ-tỷ
(?) đã vạch rõ, ngay từ lúc ấy, Ấn Độ đã thuyết ngũ
đại (không, phong, hỏa, thủy, địa). Nhưng thật ra đến
thời đại U-ba-ni-sa-đàm, tức Áo-nghĩa-thư, nó mới được
xử lý một cách có ý thức, bắt đầu Chiên-đa-cách-da-u-ba-ni-sa-đàm
đề xướng thuyết thủy, hỏa, thực (địa), thứ đến Suy-đề-lị-da-u-ba-ni-sa-đàm
đề xuất thuyết không, phong, hỏa, thủy và địa để xác
lập quan niệm cơ bản về vũ trụ. Như vậy, thuyết tứ đại
địa, thủy, hỏa, phong và thêm không vào nữa là năm yếu
tố, ít ra, trên danh nghĩa, đã trở thành cơ sở của Vật-chất-quan
Ấn Độ từ lâu; cũng như tại Hy Lạp, đầu tiên Tấc-đặc-khố-lạp-tây
đề xướng thuyết địa, thủy, hỏa, phong, bốn yếu tố
và sau đã trở thành định thuyết (không hiểu giữa thuyết
Tứ đại của Tất-đặc-khố-lạp-tây, thuyết tử-kỳ-tuần-hoàn
và thuyết vật chất, thuyết-nghiệp báo, thuyết tứ kiếp
của Ấn Độ có quan hệ lịch sử nào không? Vấn đề này
cần phải được khảo cứu). Song, tại Ấn Độ, vấn đề
được đặt ra cho học giới là: bốn hoặc năm yếu tố chỉ
hạn cục ở địa, thủy, hỏa, phong, hay ngoài những yếu
tố hiện thực đó còn lập thêm những yếu tố vi tế nữa?
Lúc đầu dĩ nhiên đã chỉ xuất phát từ địa, thủy, hỏa,
phong làm bốn nguyên tố lớn thì không khỏi có điểm thô
tạp quá. Do vậy mà học giới Ấn Độ đã dần dần khai
triển nhiều vật-chất-quan, đại khái ngoài địa, thủy,
hỏa, phong hiện thực ra lại thêm môt lớp yếu tố nhỏ nhiệm
khác nữa, và cho rằng địa, thủy, hỏa, phong hiện thực
đã do yếu tố đệ nhất đó cấu thành. Về điểm này, tất
cả các phái đều nhất trí. Trong thuyết ba yếu tố của
Chiên-đa-cách-da-u-ba-ni-sát-đàm đã bao hàm nguyên nguyên tố
rồi, điểm này chúng tôi đã nói rõ trong cuốn “Ấn-Độ-triết-học-tôn-giáo-sử”
(trang 351). Đến khi các học phái đạt thì tuyết đó càng
trở nên rõ rệt. Tức như trong Số Luận, nguyên nguyên tố
của không, phong, hỏa, thủy, địa ngũ đại là thanh, xúc,
sắc, vị, hương, ngũ duy (về chi tiết xin xem Ấn-Độ-lục-phái-triết-học,trang
169-70). Thắng Luận thì cho rằng địa, thủy, hỏa, phong, không
là do một Cực vi phần tử cấu thành, rồi ngoài kinh nghiệm
thường nhật về địa, thủy, hỏa, phong, ra muốn đi tìm
cái nguyên tố đệ nhất đó. Nhất là đến phái Vệ-đàn-đa
của Bát-tha-nạp-á-na, căn cứ vào thuyết ngũ đại của Suy-đề-lị-da-u-ba-ni-sát-đàm,
theo thuận tự khai triển từ không đến phong, từ phong đến
hỏa, từ hỏa đến thủy, từ thủy đến địa, rồi sau ngũ
đại lại hổ tương hòa hợp để cấu tạo thành vật chất
giới, mà chủ trương một thuyết đặc hữu gọi là Phân-hóa-thuyết.
Về điểm này, đã từng có nhiều cách giải thuyết.
Trên
đây là vấn đề yếu tố vật chất. Còn một vấn đề trọng
đại nữa liên quan đến yếu tố vật chất cũng đã được
học giới Ấn Độ luận cứu đến. Đó là vấn đề giữa
yếu tố vật chất và những cơ quan sinh-lý-tâm-lý như thế
nào? Ban đầu sự khảo sát về yếu tố vật chất yếu tố
nhục thể và tâm lý hoạt động của người ta rồi từ đó
nêu rõ mối quan hệ của nó, đấy là vấn đề trọng đại
thuộc vật chất luận. Mà trung tâm của vấn đề là mối
quan hệ giữa sự cấu thành ngũ-cảm-quan với yếu tố vật
chất như thế nào? Rồi lại mối quan hệ của nhận thức
là ngũ cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc) với nguyên tố
ra sao? Vấn đề này giữa các học phái đều thừa nhận rằng
cảm quan là vật chất nhưng tác dụng của nó rất vi diệu,
khác với những hiện tượng vật chất thông thường, mà
cái thứ tự cấu thành đó cũng lại là một loại đặc biệt,
do đó, đã phát sinh ra quan-hệ-luận về căn và nguyên tố.
Rồi lại ngũ cảnh là sắc, thanh, hương, vị, xúc, đối với
cảm quan có một quan hệ nhất định, và về mặt vật chất
luận, cái căn cứ của mối quan hệ đó ở chỗ nào: đó
là phát sinh ra ngũ-cảnh-luận. chẳng hạn, Số-luận-phái
cho ngũ căn là cơ quan chấp ngã, do ngã mạn mà sinh rồi chủ
trương nó không phải là hiện tượng vật chất phổ thông,
nhưng cũng có phái lại bảo nó sinh ra từ những tế-nguyên-tố
ngũ duy, như vậy chẳng có thuyết nào nhất định (Ấn-độ-lục-phái-triết-học,
trang 111-113). Lại như Thắng-luận-phái chủ trương ngũ đại
sinh ngũ căn, và sắc, hương, vị, xúc đều có đủ trong thuộc
tính (guna) của địa, thủy, hỏa, phong, vì vậy, phái này
thành lập trong đó một quan hệ nhận thức nhất định (Ấn-Độ-lục-phái-triết-học
trang 326-330). Ngoài những chủ trương người ta còn thấy nhiều
thuyết minh khác nữa.
Vật-chất-quan
của Phật giáo thật ra cũng dựa vào bố cảnh trên đây để
luận cứu, đó là điều ta cần phải ghi nhận trước tiên.
2-
Ý NGHĨA CHỮ SẮC TRONG A-TỲ-ĐẠT-MA.
Sắc
uẩn trong ngũ uẩn và, ít ra, ngũ căn, ngũ cảnh trong thập-bát-giới
là những yếu tố vật chất, điều này tưởng không cần
phải nhắc lại. Song, ý nghĩ của thuật ngữ chỉ vật chất
là chữ Sắc như thế nào? Đặc tướng của sắc là gi? Về
điểm này, đức Phật bảo là vì biến hoại nên gọi là
sắc (Tạp-A-Hàm quyển 2, kinh 35, Đại chính, 2, trang 8, thượng;
Câu xá luận quyển 1, Quốc dịch trang 35), vì ngữ nguyên của
chữ Sắc là từ biến, hoại. Nhưng chỉ là biến hoại thôi
thì đem thế gian trả về cho ngữ căn của nó là v- lui, phá
hoại gọi là thế gian (xem Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng
Luận trang 283) thì đặc chất của vật chất không thể biểu
hiện, vì thế đến A-tỳ-đạt-ma lại thên ý nghĩa “chất
ngại” nữa để nói rằng hễ cái gì có ý nghĩa biến hoại
và chất ngại là đặc chất của vật chất (Câu xá luận
quyển 1, Quốc dịch trang 55; Pháp cứu: Ngũ-sự-tỳ-bà-sa-luận,
quyển thượng, Đại chính, 28, trang 989, hạ). Đến Thành-thật-luận:
“Những pháp hữu đối gọi là sắc, thanh, hương, v.v… đều
hữu đối cho nên cũng là sắc chứ không như tâm pháp. Hữu
hình nên gọi là sắc, thanh, hương, v.v… đều có hình nên
cũng là sắc. Làm chướng ngại xứ sở nên gọi là hình”
(Thành-thật-luận, quyển 3, sắc-danh-phẩm 37, Đại chính,
32, trang 261, thượng). Như vậy, định nghĩa về vật chất
của A-tỳ-đạt-ma là “những cái biến hóa hình thể và
chất ngại tính đều là vật chất”. Trong các kinh điển
có rất nhiều thuyết minh về các loại vật chất, nhưng dụng
ngữ phổ thông nhất để giải thích là: “Tứ đại chủng
cập tứ-đại-chủng sở tạo” và: “chư sở hữu sắc,
nhược quá khứ, nhược vị lai, nhược hiện tại, nhược
nội, nhược ngoại, nhược thô, nhược tế, nhược liệt,
nhược thắng, nhược viễn, nhược cận, như thị nhất thiết,
lược vi nhất tụ, thuyết danh sắc uẩn” (Tạp-a-hàm quyển
2, Đại chính, 2, trang 14, hạ). Tức những câu trên đây đã
thuyết minh một cách tổng quát về ý nghĩa của bốn yếu
tố lớn là đất, nước, lửa, gió và những hiện tượng
vật chất do bốn yếu tố đó cấu tạo thành. Luận Bà sa
quyển 74 (Đại chính, 27, trang 383, thượng) cũng đã dẫn dụng
những câu trên đây để thuyết minh về chữ Sắc.
Trong
kinh Phân-biệt-luật-giới (Trung-a-hàm quyển 42, Đại chính,
1, trang 690, trung), tuy có luật lập ra hư không nhưng không
xem nó như vật chất cùng trình độ như đất, nước, lửa,
gió, bởi lẽ “hư không phi đại chủng” (xin xem Bà sa trang
127, Đại chính, 27, trang 662, trung; và Ngũ sự tỳ Bà sa luận
quyển thượng, Đại chính, 28, trang 990, thượng), vì thế
chỉ thái dụng tứ đại và coi đó là những yếu tố tiêu
chuẩn mà thôi. Đương nhiên, vật-chất-quan của A-tỳ-đạt-ma
cũng đã lấy thuyết minh trên đây làm cơ sở và bối cảnh
để xuất phát.
3-
BẢN-CHấT-CủA Tứ ĐạI TRONG A-Tỳ-ĐạT-MA.
Trong
A-tỳ-đạt-ma Phật giáo, vấn đề đầu tiên được đặc
ra là: bản chất của tứ-đại-chủng như thế nào? Như đã
nói ở trên, đất, nước, lửa, gió bị coi là quá thô tạp,
khó cho người ta nột quan niệm về yếu tố rõ ràng. Chẳng
hạn, trong kinh Trường-a-hàm, quyển 20 có đoạn: “…có bốn
vị thiên thần lớn. Những gì là bốn? Một là thần đất,
hai là thần nước, ba là thần gió, bốn là thần lửa. Ngày
xưa, thần đất sinh ra ác kiến, cho rằng trong đất không
có nước, lửa, gió. Lúc đó ta (Phật) bảo: “Ông chớ nghĩ
như thế, chớ cho rằng trong đất không có nước, lửa, gió.
Vì sao? Vì rằng trong đất có nước, lửa, gió, nhưng vì đất
nhiều hơn nên mới kêu là đất” (Trường-a-hàm, quyển 20,
Đao-lợi-thiên-phẩm, Đại chính, I, trang 136, thượng).
Bây
giờ thử lấy nước làm tỷ dụ: nếu nước đông lại thành
đá thì sẽ cứng như đất, nếu bốc thành hơi thì sẽ như
gió, nếu đun sôi lên thì sẽ nóng như lửa. Như vậy, đất,
nước, lửa, gió, trong mỗi yếu tố đều bao hàm những yếu
tố khác: chân lý này, trong Trường-a-hàm, bản Hán dịch,
đã được nói đến rồi. Và cái đặc sắc độc hữu của
các luận sư của A-tỳ-đạt-ma là ở chổ cho bản chất
tứ đại như cứng, ướt, nóng và động là tứ đại thật,
còn đất, nước, lửa, gió hiện thực là tứ đại giả (Phẩm-loại-túc-luận
quyển 1, Đại chính, 26, trang 692, hạ); Bà sa quyển 127,
Đại chính, 27, trang 663, trung: Câu xá quyển 1, Quốc dịch
trang 31-33). Dĩ nhiên, quan điểm này vào thời kỳ đầu của
A-tỳ-đạt-ma đã chưa trổ thành định thuyết. Theo chỗ tôi
biết, trong sáu bộ luận bằng văn Ba li, hay trong các bộ luận
cổ dịch ra Hán văn đều chưa thấy có quan điểm đó; tuy
nhiên, sự phát triển về vật-chất-quan cuối cùng đã đạt
đến điểm đó.
Khởi
đầu từ Phẩm-loại-túc-luận đến các luận của Hữu Bộ,
ý kiến đó đều nhất trí; rồi đến các Luận Sự Nam phương,
ý kiến này cũng được ám thị (như K.V; VI, 8; XVI5), đặc
biệt là đến các nhà chú giải thì đã xác nhận ý kiến
đó một cách rõ ràng. Điểm này cứ xem sự giải thích trong
A-tỳ-đạt-ma-pháp-yếu-luận thì đủ rõ (Compendium of Ph. P.
155, ibib. pp. 268-271).
Song,
ở đây điều ta nên chú ý là: những chất cứng, ướt, nóng
và động là do tính chất của đất, nước, lửa, gió mà
ra, thế nhưng phần pháp tướng của A-tỳ-đạt-ma lại không
cho chúng là tinh chất mà coi chúng là những yếu tố thực
thể. Điểm này có thể nói rất gần với Số Luận, vì,
trong Số Luận cứng, ướt, nóng và động được gọi là
tế-vật-chất, vá cho sắc, thanh, hương, vị, xúc mỗi mỗi
đều là tính chất và gọi là ngũ duy. Cho nên, cái gọi là
thực tứ đại dĩ nhiên phải là đặc chất của vật chất
và có chất-ngại-tính của nó, nhưng cái đó không thể thấy
được. Trên vấn đề pháp tướng, khi phân biệt tứ đại,
A-tỳ-đạt-ma thường căn cứ vào sự có thể thấy hay kkhông
thể thấy làm tiêu chuẩn và thường cho nó là kkhông thể
thấy: đó là ý kiến nhất trí của cả luận bộ Nam va Bắc
(nhưng theo K. V, XVI, 8 Án-đạt-la phái cho địa giới là có
thể thấy. Tư tưởng này chủ yếu là lập luận của cái
gọi là “ giả tứ đại”), do đó cũng mệnh danh cho nó
là đại chủng. Nếu đem đối chiếu đại chủng này với
tế chủng thì cái tên gọi ấy không thích đáng. Nhưng các
luận sư của A-tỳ-đạt-ma đã thay đổi ý nghĩa của
chữ “đại”, cho rằng nó có công dụng lớn lao nhờ đó
mà hết thảy mọi vật mới đươc tạo thành cho nên gọi
nó là “đại” (Câu xá quyển 1, Quốc dịch trang 663, thượng;
Thành-Thật-Luận quyển 3, Tứ-đại-giả-danh phẩm 38, Đại
chính, 32, trang 261, trung).
Song,
nghiệp dụng của tứ đại như thế nào? Nghiệp dụng của
đất la nắm giữ, nghiệp dụng của nước là thu nhiếp, nghiệp
dụng của lửa là thành thục, nghiệp dụng của gió là trưởng
dưỡng. Đó cũng là ý kiến của cả luận bộ Nam và Bắc
phương (Bà sa quyển 127, Đại chính, 27, trang 663, trung;
Compendium of Ph. p. 269; Câu xá quyển 1, Quốc dịch trang 32).
Nghĩa là, xác lập cái tướng của hết thảy hiện tượng
vật chất và tác dụng của đất, thu nhiếp mọi hiện tượng
và tác dụng của nước, thành thục là tác dụng cúa lửa
và trưởng dưỡng là tác dụng của gió. Cho nên luận Bà
sa quyển 127 (Đại chính, 27, trang 663, trung) cho ý kiến trên
đây đã phát xuất từ sự thuyết minh trong kinh Nhập Thai
(Tỳ-nại-gia-tạp-sự quyển 2, Đại chính, 24, trang 254).
Như
vậy là đặc tướng của những yếu tố đất, nước, lửa,
gió, tuy đã trở nên rất rõ fàng, nhưng đây hoàn toàn là
kết quả của sự quan sát phân tích, chứ trên thực tế,
đối với các hiện tượng cụ thể, chưa có sự phát huy
nào về đặc tướng của chúng biệt hẳn với tứ đại.
Tất cả mọi hiện tượng đều lấy đặt chất cứng, ướt,
nóng, động, trì, nhiếp, thục, trưởng làm khả-năng-tính,
duy chỉ căn cứ vào những đặt chất hiển trứ ấy ma trở
thành những hiện tượng đặc thù. Để hiểu rõ chân lý
này một cách dễ dàng, ta hãy nước làm thí dụ: đặc tướng
của nước là ướt, nhưng, như nói trên kia, trong nước cũng
đều bao hàm cả cứng, nóng và động; đồng thời, tuy đặc
dụng của nước là nhiếp hợp, nhưng nó cũng gồm đủ cả
những tác dụng nắm giữ, thành thục và trưởng dưỡng.
Do đó, theo A-tỳ-đạt-ma, về phương diện pháp tướng, tứ
đại thực không phải tồn tại một cách đơn độc mà là
hỗ tương kết hợp, dựa vào đất, nước, lửa, gió hiện
thực mà thành muôn vàn hiện tượng vật chất và được
mệnh danh là “tứ đại cộng sinh bất ly”.
Song,
theo chỗ tôi tận lực nghiên cứu thì, trong Phật giáo, cái
quá trình của các yếu tố cấu thành hiện tượng tứ đại
duy chỉ căn cứ vào ưu thế của chúng mà biểu hiện thành
mọi tứ đại hiện thực bấtn luận tỷ lệ của các yếu
tố ấy ra sao. Nếu ta muốn biết cái lý do căn bản tại sao
lại như thế thì điều đó thật chưa được rõ. Lại nữa,
A-tỳ-đạt-ma chỉ thành lập tứ đại trên đây mà thôi chứ
không thành lập yếu tố thứ năm là hư không, như vậy, cái
nguyên tắc vận động ta phải tìm nó ở đâu? Điểm này
cũng vẫn còn là một nghi vấn, tuy nhiên, nó có thể được
giải quyết một cách dễ dàng: theo Phật giáo thì cái nguyên
tắc vận động không phải là hư không thuộc yếu tố thứ
năm mà là hư-không-vô-vi, tức là cái không bị chướng ngại
và mọi sắc pháp đều vận hành trong đó.
BỊ
KHẢO. Về yếu-tố-luận, ở đây cần phải lược thuật
thêm một vài điểm để tiện việc tham cứu, vì thế có
phần Bị Khảo này.
Cái
tính chất thực của tứ đại là cứng, ướt, nóng, và động:
đó là điểm nhất ban được A-tỳ-đạt-ma thừa nhận như
đã nói ở trên, nhưng ở đây còn có một trường hợp ngoại
lệ. Đó tức là yếu tổ của Ha-lê-bạt-ma cho rằng sắc,
hương, vị, xúc là những yếu tố vất chất, Ha-lê-bạt-ma
bảo: cứng, ướt, nóng, động đều là những đặc tính trọng
yếu của tứ đại, nhưng nếu lấy đó làm đối tượng của
cảm giác thì, bất luận là cứng, ướt, nóng hay động, đều
phải tiếp với xúc giác. Trên thực tế, đất, nước, lửa,
gió đã bao hàm các sắc, vị, hương rồi, như vậy không thể
chỉ đứng trên lập trường xúc giác mà định yếu tố của
chúng được. Nếu theo lập trường cảm giác mà quyết định
yếu tố vật chất thì, lại tiến thêm một bước nữa, lấy
toàn thể sắc, hương, vị, xúc (không cho thanh là một yếu
tố) làm yếu tố của chúng, có phải là rất xác đáng không?
Đó là căn cứ lập luận của Ha-lê-bạt-ma (xem Thành-thật-luận
quyển 3, Sắc-tướng-phẩm 36, cho đến Tứ-đại-tướng-phẩm
44, nhất là phải xem Tứ-đại-giả-danh-phẩm 38, Đại chính,
3, trang 260, hạ – 265, trung).
Như
vậy, Ha-lê-bạt-ma chủ trương hiện thực tứ đại (đất,
nước, lửa, gió) cùng những yếu tố cứng, ướt, nóng, động
do A-tỳ-đạt-ma thành lập, hết htảy cũng là những hiện
tượng vật chất (giả danh), còn thực tại thì tuy chỉ là
tứ trần sắc, hương, vị, xúc. Cái khuynh hướng cho tính
chất cảm giác vật chất là trừu tượng để mà tìm cầu
yếu tố có thể nói là một khuynh hướng ứng thú. Mà điểm
này lại phảng phất giống như thuyết của phái Số Luận:
từ sắc, thanh, hương, vị, xúc ngũ duy mà thành lập đất,
nước, lửa, gió, không ngũ đại, về điểm này có thể nói,
thuyết trên đã thoát hóa từ phái Số Luận. Nhưng ở đây
có điều cần chú ý là: nếu theo thuyết Ha-lê-bạt-ma thì
tứ đại không hẳn chỉ từ toàn bộ tứ trần mà thành.
Do toàn bộ tứ trần mà thành cũng có, do hai hoặc ba mà thành
cũng có, tất cả tổ hợp một cách lẫn lộn mà thành ra
có sự khu biệt đất, nước, lửa, gió khác nhau. Dĩ nhiên,
dù cho cùng là địa đại cũng có thể sản sinh ra thổ, kim,
mộc khác nhau: đó lá ý kiến của Ha-lê-bạt-ma (Thành-thật-luận
quyển 3, Tứ-đại-tướng-phẩm 14, Đại chính, 32, trang 264,
trung). Do đó, điểm này khác hẳn với chủ trương Số luận
cho rằng ngũ đại đều cho ngũ duy đặc định mà thành (về
quan hệ của ngũ đại của Số luận, xem Sáu Phái Triết học
Ấn Độ, trang 111-113, 170).
4-
SỰ QUAN HỆ GIỮA TỨ ĐẠI NĂNG TẠO VÀ SẮC SỞ TẠO.
Mặc
dầu Ha-lê-bạt-ma đã đưa ra một thuyết khác nhưng đại
thể thì tất cả các bộ phái đều nhận định rằng bản
tính của tứ đại là cứng, ướt, nóng và động. Các bộ
phái cũng thừa nhận rằng tất cả mọi hiện tượng vật
chất đều lấy tứ đại làm nền tảng.
Nhưng
chính vì thế mà vấn đề ở đây được đặt ra là: sự
quan hệ giữa tứ đại năng tạo và những hiện tượng vật
chất sở tạo đó như thế nào? Nói cách khác, các sắc pháp
sở tạo là sự biến hóa của tứ đại năng tạo, vậy ngoài
sự biến hóa đó nó không có độc lập tính hay sao? Song,
đứng về diện thường thức mà nói thì tứ đại năng tạo
là thật, còn tất cả những cái khác đều là giả. Thế
nhưng, nếu quyết định như vậy thì trong thập-nhị-xứ,
thập-bát-giới mà trong đó ngũ căn, ngũ cảnh chiếm phần
lớn, trừ chất cứng, ướt, nóng, động của phần xúc, còn
có thể nói đều là giả pháp, do đó, sự phân loại của
chúng trở thành khuyết điểm rất nhiều. Nhất là Hữu Bộ,
một học phái lấy sắc pháp làm đại biểu mà lập ngũ căn,
ngũ cảnh và coi pháp thể là hằng hữu, đã không thừa nhận
có sắc pháp có sắc pháp tồn tại độc lập ngoài tứ đại.
Điểm này, mới nhìn qua, tuy có vẽ như ngây ngô, nhưng chính
vì thế mà vấn đề quan hệ giữa năng tạo chủng và sở
tạo sắc đã trở thành cực kỳ trọng yếu mà tong luận
Bà sa nó đã được luận cứu một cách sôi nổi. Mà điều
thích thú nhất là về vấn đề này giữa các bậc luận sư
của Hữu Bộ có nhiều thuyết khác nhau.
Luận
Bà sa nói: “Tôn già Giác Thiên cho rằng hết thảy sắc pháp
đều là tứ đại năng tạo, ngoài ra, không có sắc pháp riêng
biệt”. Bà sa quyển 127, Đại chính, 27, trang 661, hạ. Thành-thật-luận
cũng thuộc chủ trương này, vì Thành-thật-luận cho ngũ căn
sở tạo là giả danh, cho thực chúng là tứ đại – Thành-thật-luận
quyển 4, Căn-giả-danh phẩm 45, Đại chính, 32, trang 265, trung).
Trái
lại, Pháp Cửu thì thừa nhận ngoài tứ-đại-chủng còn có
sắc pháp riêng biệt (căn), duy chỉ có những sắc pháp bị
thâu nhiếp vào trong xúc (cứng, ướt, nóng, động) và những
sắc pháp bị thâu nhiếp vào trong pháp xứ (chỉ vô biểu
sắc) là không thật có mà thôi (Bà sa quyển 127, trang 662,
trung).
Nhưng
đến các nhà phê bình luận Bà sa thì bảo cả hai thuyết
trên đều sai. Nói theo ý chính của Hữu Bộ thì có thể nói
toàn bộ sở-tạo-sắc biệt lập ngoài tứ-đại-chủng (Bà
sa như trên, trang 662, trung). Đây tuy là một giáo lý rất hiểu
và không triệt để, nhưng lúc đầu lấy ngũ căn, ngũ cảnh
làm yếu tố vạn hữu, cho chúng một ý nghĩa độc lập, rồi
trong quá trình tiến triển tự nhiên là đã đi sâu vào vật-chất-luận
và kết quả đã đi đến kết luận cho tứ đại là năng-tạo-chủng
vậy.
Nếu
như vậy, thì cái ý nghĩa của năng-tạo-chủng và sở-tạo-sắc
ở chỗ nào? Sự quan hệ giữa chúng ra sao? Đó là những vấn
đề mới cũng cần phải được nghiên cứu. Đối với những
vấn đề này, các bậc luận sư của Bà sa tuy đã đưa ra
nhiều giải pháp khác nhau, nhưng tóm lại có một thí dụ
đựơc dùng để diễn tả mối quan hệ giữa năng-tạo-chủng
và sở-tạo-sắc cũng giống như cái quan hệ giữa cha và con.
Nghĩa là do cha mới có con lại có sự tồn tại độc lập.
Như
vậy, đứng trên lập trường ngũ nhân, các vị Tỳ-bà-sa-sư
chủ trương tứ-đại-chủng là năng tạo của hết thảy vật
chất. Ngũ nhân là: sinh nhân, y nhân, tập nhân, trì nhan, và
dưỡng nhân (Bà sa quyển 127, Đại chính, 27, trang 663, thượng;
Câu xá quyển 1,Quốc dịch trang 30). Ý nghĩa của ngũ nhân
là nói sinh ra các sắc-sở-tạo và duy trì chúng (1- Tứ đại
chủng mà sinh nên gọi là nhân sinh; 2- Sinh rồi y vào đại
chủng mà xoay vần nên gọi là y nhân; 3- Đại chủng có thể
duy trì sở-tạo-sắc cũng như bức tường nâng đỡ lấy họa
phẩm nên gọi là lập nhân; 4- Nhân không bao giờ dứt nên
gọi là tri nhân; 5- Làm cho tăng trưởng nên gọi là dưỡng
nhân – Câu xá quyển 7, Quốc dịch, trang 452). Ngoài ra, theo
ý nghĩa này, còn có những thí dụ khác, như ví đại chủng
là vua, sở tạo sắc là bày tôi, hay đại chủng là thân cây,
sở tạo sắc là cành cây, v.v…(Bà sa quyển 127, Đại chính,
2727, trang 664, hạ). Mà tất cả những thành phần ấy đều
sống với nhau (Bà sa như trên, trang 663, hạ).
Theo
Hữu Bộ, cái gọi là sắc pháp, nếu lấy dục giới làm tiêu
chuẩn, thì tất cả cũng y vào tứ đại năng tạo và tứ
trần sở tạo mà tồn tại – dù chỉ tồn tại ở một mức
độ tối thiểu - chứ ngoài tuyệt đối không có một vật
nào khác. Câu xá luận gọi đó là “tám việc đều sinh,
không thiếu một việc (Câu xá quyển 4, Quốc dịch, trang 121)
để trở thành đơn vị (không phải là Cực vi) của hiện
tượng vật chất; ngũ căn còn y tồn bề mặt của đơn vị
này.
Như
vậy, lúc đầu đại khái là khảo sát cái quan hệ nhục thể
đối với ngũ căn. Nhục thể duy chỉ do tứ đại vật chất
tạo thành tuy dễ hiểu, nhưng còn đến các căn (cái gọi
là “thắng-nghĩa-căn”) thì có hơi khác với cái duy chỉ
là vật chất. Về điểm này, cách thuyết minh của Hữu Bộ
có điểm rất giống với thuyết “Căn đối vật chất”
của phái số luận. Thắng luận vì cho ngũ căn trực tiếp
do Cực vi của ngũ đại cấu thành nên không cho ngũ căn là
tồn tại một cách độc lập, nhưng Số luận thì cho rằng
bất luận là ngũ tri căn (và ngũ tác căn), hay ngũ duy hoặc
ngũ đại, mỗi mỗi đều chiếm địa vị trong hai mươi bốn
đế. Song, đồng thời với nhận định trên, Số luận cũng
thừa nhận căn là vật chất, hoặc cho nó đồng thời phát
sinh từ ngã mạn đến ngũ duy, hoặc từ ngũ duy sinh, trong
đó cũng có học phái cho là từ ngũa đại phát sinh, nhưng
bất luận từ đâu đi nữa thì cũng đã thừa nhận là căn
tử những yếu tố khác mà sinh, mà ở đây cho ngã mạn, ngũ
duy, ngũ đại là đồng nhất, như vậy có khác gì cái quan
hệ của tứ đại đối với sở-tạo-sắc do Hữu Bộ thuyết
minh? Chính vì lẽ đó mà người ta đã cho rằng trong vật-chất-quan
của Hữu Bộ có rất nhiều khí vị của Số luận: đó là
điểm chúng ta cần phải ghi nhận.
Đến
Hữu Bộ thì vấn đề quan hệ giữa tứ đại chũng và sở-tạo-sắc
đã trở nên cực kỳ phiền tạp, nhưng đây chỉ nói theo
giáo lý đặc hữu và rất khó khăn của Hữu Bộ mà thôi;
còn nếu đứng trên lập trường nhất ban mà nói thì tứ
đại, dù nói cách nào đi nữa, vẫn là căn nguyên của hết
thảy mọi hiện tượng vật chất, do đó, nếu đem tất cả
hiện tượng vật chất ấy rả về nguồn gốc của chúng,
thì có thể nói tất cả đều trở về với tứ đại, điều
này theo tôi rất là thỏa đáng.
Phật
giáo, vốn xuất phát từ lập trường nhận thức luận, nên
chi, khi khảo sát về ngũ căn, ngũ cảnh là đã bắt đầu
từ sự quan sát vật lý, tuy có sáng lập tứ-đại-luận ,
nhưng, như Số-Luận hay Thắng-Luận, giữa khoảng tính chất
của những yếu tố tứ đại và ngũ căn, ngũ cảnh, giả
định không thừa nhận một sự quan hệ cấu thành nhất định,
cho nên, có thể nói đây là nguyên nhân lớn nhất đã phát
sinh ra nhiều khó khăn. Do đấy, vật-chất-quan của Phật giáo,
bất luận nói cách nào đi nữa, so với Số Luận, Thắng Luận,
có thể nói không được triệt để lắm.
5-
CÁC LOẠI SỞ-TẠO-SẮC.
Con
số của các hiện tượng vật chất được thành lập là
bao nhiêu? Dĩ nhiên, nếu cứ nhất nhất kể đến con số của
từng hiện tượng thì sẽ có thiên sai vạn biệt, nhưng cái
đặc sắc của A-tỳ-đạt-ma luận thư là đã đem quy kết
hết thảy thành hơn mười loại. Theo chỗ tôi biết thì Sắc
Phẩm trong A-tỳ-đạt-ma yếu luận của A-nâu-lâu-đà đã
nói về các hiện tượng vật chất một cách rất tường
tế. Luận này đem thâu tóm tất cả những hiện tượng vật
chất thành mười một loại. Đó là:
1)
Tứ-đại-chủng-sắc - địa giới, thủy giới, hỏa giới,
phong giới; 2) Tịnh sắc – nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân; 3)
Cảnh sắc – sắc, thanh, hương, vị, xúc; 4) Hữu sắc - nữ
tính, nam tính; 5) Tâm sắc – tâm tạng; 6) Mệnh sắc - mệnh
căn; 7) Thực sắc -đoạn thực; 8) Đoạn sắc – không giới;
9) Biểu sắc – thân biểu, ngữ biểu; 10) Biến hóa sắc -
nhẹ nhàng, mềm mại; 11) Tướng sắc – sanh, trụ, lão, diệt,
v.v…
Nếu
được thừa nhận là vật chất thì có thể nói những thành
phần trên đây đã bao quát tất cả mọi hiện tượng. Nhưng
cái thông lệ của A-tỳ-đạt-ma vẫn là căncứ theo sự phân
loại Thập-nhị-xứ, Thập-bát-giới, lấy mười loại ngũ
căn, ngũ cảnh để bao quát hết thảy. Ngoài ra, tuy cũng có
chủ trương cho pháp xứ hoặc pháp-giới-sở-nhiếp-sắc vào
hiện-tượng-vật-chất, nhưng đây thuộc cái gọi là giáo-lý-đặc-thù,
chứ phổ thông thì vẫn lấy mười loại ngũ căn, ngũ cảnh
để làm đại biểu cho sở-tạo-sắc, đồng thời cũng lại
là cơ quan cảm giác (ngũ căn) và đối tượng của chúng (ngũ
cảnh) nữa. Chúng tôi sẽ trình bày rõ ràng về quan niệm
của chúng trong thiên thứ tư, mục cảm giác luận khi bàn
về tác dụng tâm lý (chương thứ ba).
6-
ĐẶC BIỆT VỀ CỰC-VI-LUẬN.
Sau
hết, cần phải khảo sát thêm một vấn đề trọng yếu nữa
liên quan đến vật-chất-quan. Đó là vấn đề phần tử Cực
vi của vật chất. Về cực-vi-luận, không phải tất cả các
bộ phái đều thừa nhận, không những thế, theo sự quy định
của chúng tôi vấn đề này hình như còn được khảo sát
đến một cách rất muộn nữa.
Tại
Hy Lạp, bắt đầu từ Tất-đặc-khố-lạp-tây khảo sát về
vật chất, cuối cùng đến Lộ-địch-kiệt-bồ-tư và đại-mục-khố-lợi-tư-đốc
phát sinh ra nguyên-tử-luận là đạt đến đỉnh điểm. Tại
Ấn Độ cũng bắt đầu từ thuyết tứ đại rồi lần lần
cũng tiến đến phần-tử-luận, tức khảo sát về Cực vi,
và sự khảo này dần dần đã đắc thế mà về sau các phái
có khuynh hướng thực-tại-luận đại khái đều khái dụng.
Song,
cực-vi-luận bắt nguồn như thế nào? Vấn đề này, giữa
các học giả có nhiều ý kiến khác nhau, trong đó cũng có
ý kiến cho rằng thuyết Cực vi là chịu ảnh hưởng Hy Lạp.
Dĩ nhiên là chúng ta không thể tán thành ý kiến đó, vì đây
chỉ là một sự tưởng tượng mà thôi (Sáu Phái Triết Học
Ấn Độ trang 305-306). Theo truyền thuyết thì Cực-vi-luận
đã phát xuất từ Thuận-thế-phái, nhưng điều đáng tiếc
là nhưng văn kiện chính xác về Cực-vi-luận do Thuận-thế
phái thành lập không còn lưu truyền tại Ấn Độ, cho nên
ta vẫn chưa thể chứng minh một cách xác thực được. Trên
văn hiến, Cực-vi-luận đã được biểu hiện rất sớm trong
Kỳ-na-giáo; Kỳ-na-giáo đem chia chẻ vật chất đến phần
cực nhỏ có thể được. Thế nhưng, Cực-vi-luận, bắt đầu
từ Kỳ-na, nghĩa là, từ tính chất học phái, cũng lại không
được thừa nhận. Tóm lại, về điểm này, tuy vẫn chưa
được rõ ràng, nhưng điều chắc chắn là tại Ấn Độ Cực-vi-luận
đã lưu hành rất sớm: đó là một sự thật hiển nhiên.
Nhưng,
giáo lý này đã được Phật giáo thái dụng vào thời kỳ
nào? Dĩ nhiên, đứng trên quang điểm của những nhà Cực-vi-luận
mà nói thì vấn đề này là căn cứ vào lời Phật dạy. Tức
là trong khi thuyết minh về các pháp, đức Phật đã dùng những
tiếng như “hoặc thô, hoặc tế), mà trong đó cái gọi là
“tế” thì không ngoài ý nghĩa “Cực vi” vậy. Lại như
trong Tỳ-nại-da có nói “Bảy Cực vi tập hợp lại gọi
là một vi, Cực vi là đầu, chỉ tiết là cuối” (Thuận-chính-lý-luận
quyển 32, Đại chính, 29, trang 521, hạ). Song, nói một cách
thực tế, theo chỗ tôi tận lực nghiên cứu, trong Phật giáo,
vấn đề Cực vi hiển nhiên là đã không được luận cứu
đến một cách rất sớm. Trong các bộ A Hàm, cả Hán dịch
lẫn Ba li, đều không có một ký tải nào liên quan đến Cực
vi. Còn trong A-tỳ-đạt-ma thì các bộ xuất hiện trước Bà
sa dĩ nhiên cũng đã không đặc biệt nói đến Cực vi, chỉ
đến từ Ba Sa trở về sau thì tuy có hữu bộ đã tận lực
luận cứu vấn đề này, nhưng có điều rất lạ lùng là
trong Phát-trí-luận và Phẩm-loại-túc-luận cũng không có
một ký tải nào liên quan đến vấn đề này. Tuy nhiên, điều
đó không có nghĩa là đến Bà sa thuyết Cực vi mới được
trực tiếp Phật giáo thu dụng. Trong Bà sa quyển 8, Lục-pháp-luận
được nhìn nhận là sách của Phật giáo, mà chính trong sách
này thuyết Cực vi đã được luận đến. Vấn đề là: duyên
một Cực vi có thể khởi được Tát-ca-da-kiến (thân kiến)
không? Khi luận về vấn đề này mà Lục-pháp-luận được
đề cập đến.
“Hỏi…như
luận đó (tức Lục pháp luận) nói: Cực vi là thường, tồn
tại riêng biệt. Vì tồn tại riêng biệt, không phải là nhân
vô thường, cho nên Cực vi quyết định phải là thường trụ…
Đáp: Luận đó nói không thuận với chính lý, không thể dẫn
chứng cái duyên Cực vi này. Trong luận đó còn có nhiều điều
không thuận với lý nhân, không thể coi đó là chứng cứ
được” (Bà sa quyển 8, Đại chính, 27, trang 38, trung, hạ).
Như
vậy, đối với thư tịch Phật giáo, nếu nhận xét theo cách
xử lý của luận Bà sa, thì ta có thể cho rằng Lục-pháp-luận
này nhất định phải có trước luận Bà sa. Duy có điểm
khó khăn là bộ luận đó đã xuất hiện vào thời kỳ nào
và do ai trứ tác? Vấn đề này cho đến nay, vẫn chưa được
giải đáp rõ ràng. Do đó, trong Phật giáo, Cực-vi-luận đã
được thái dụng từ thời kỳ nào thì hiện nay không ai được
rõ, và đây là một điều rất tiếc!
Nhưng,
nếu nói một cách đại thể thì ta vẫn có thể suy định
rằng Cực-vi-luận đã đi vào Phật giáo qua các thư tịch
được biên tập sớm hơn luận Bà sa một chút, nghĩa là vào
khoảng thế kỷ thứ nhất Tây lịch, như Tôn-bà-tu-mật-Bồ-tát-sở-tập-luận
chẳng hạn, còn trước đó Cực-vi-luận chưa được Phật
giáo tiêu hóa, điều này lấy Lục-pháp-luận trên kia
làm một thí dụ đại khái cũng đủ rõ. Trong tất cả các
vấn đề mà Phật giáo thời bấy giờ, đặc biệt là Hữu
Bộ đã luận cứu một cách rộng rãi không thể không có
vấn đề Cực-vi-luận vật-lý-học, và cuối cùng nó đã
được cải tạo và thái dụng như một hệ thống của Phật
giáo, và vì thế mà Phật giáo có Cực-vi-luận. Lúc đầu
Bà sa, rồi từ đó, trong Chính-lượng-bộ, Kinh-lượng-bộ,
tất cả đều có vẻ thảo luận về Cực vi một cách sôi
nổi mà trong đó tựa hồ có chỗ tương đồng với trào lưu
của Thắng luận. Điểm này cứ xem nhất ban tư tưởng của
Hữu Bộ tương tự với tư tưởng của Thắng luận như thế
nào cũng rõ (theo truyền thuyết Tây Tạng giữa các nhà biên
tập luận Bà sa và giáo đồ của Thắng luận cũng có nhiều
quan hệ).
Song,
cái đặc trưng của thuyết Cực vi trong Phật giáo như thế
nào? Thuyết Cực vi của Phật giáo, nói một cách tóm tắt,
là luận thuyết thành lập do kết quả của sự phân tích;
nghĩa là, hết thảy vật chất, nếu cứ chia chẻ chúng mãi
cho đến khi nào không còn chia chẻ được nữa thì cái phần
còn lại đó là Cực vi. Luận Câu xá 12 nói như thế này:
“Phân tích các sắc đến Cực vi, thì một Cực vi đó là
phần cực nhỏ của sắc” (Quốc dịch, trang 709; Thuận-chính-lý-luận
quyển 32, Đại chính, 29, trang 522, trung). Về điểm này thì
Cực vi của Phật giáo không khác gì với Cực vi của các
phái khác. Song, cái đặc trưng của Cực vi trong Phật giáo
ở chỗ: Thắng Luận chỉ khảo sát Cực vi trong tự thân bốn
yếu tố đất, nước, lửa, gió. Phật giáo thì khảo sát
Cực vi trong hết thảy mọi hiện tượng vật chất (nghĩa
là, không những chỉ có tứ đại chủng năng tạo mà tất
cả những hiện tượng vật chất sở tạo đều do Cực vi
mà thành. Xem lại thuyết “Bát-sự-câu-sinh-tùy-nhất-bất-giảm”
ở trên). Tức là, trong gỗ có Cực vi gỗ, trong tro có Cực
vi tro, cho đến nước, lửa, v.v… bất luận là loại nào,
đều có Cực vi tương đương (Bà sa quyển 60, Đại chính,
27, trang 63, thượng, trung). điểm này tương tự với Kỳ-na-giáo
cho Cực vi là yếu tố tối chung của các uẩn (địa, thủy,
ảnh, thanh, hương, vị, xúc, nghiệp sắc, phi nghiệp sắc?):
và khác với Thắng Luận cho Cực vi chỉ hạn trong những nguyên
tố tứ đại đất, nước, lửa, gió. Do đó, ta có thể nói
Cực vi của Thắng Luận là nguyên tử, còn Cực vi của Phật
giáo là phần tử của vật lý. Còn về tính chất của Cực
vi thì Thắng Luận nói rằng trong Cực vi của đất có sắc,
vị, xúc; trong Cực vi của lửa có sắc và xúc; trong Cực
vi của gió có xúc (Sáu phái Triết Học Ấn Độ, trang 323);
Kỳ-na-giáo thì nói rằng các phần tử đều lấy sắc, vị,
hương, xúc làm thuộc tính; Hữu Bộ thì nói tính chất của
Cực vi là tùy theo ở vật chất chứ không có nhất định.
Nghĩa là, tại Cực vi căn thì có tính chất căn, tại Cực
vi cảnh có tính chất cảnh, là bởi vì Cực vi đã là vật
chất được thành lập với một hạn độ tồn tại tối
thiếu rồi. Ở điểm này, có thể nói phần tử quan của
Hữu Bộ hoàn toàn tương phản với chủ trương của Đại-mục-khố-lợi-tư-đốc
cho rằng tính chất của A-đốn là đồng nhất. Chính vì thế
mà ở đây vấn đề được đặt ra là: nếu một Cực vi
là kết quả của “bát-sự-câu-sinh” (năng-tạo-tứ-đại
và sở-tạo-tứ-trần) thì khi tứ đại hòa hợp chỉ tạo
ra một Cực vi thôi hay tạo ra nhiều Cực vi? Về vấn đề
này, trong luận Đại-tỳ-bà-sa tuy có nhiều giải thích, nhưng
chung cục thì chỉ lấy nghĩa tứ đại hợp thành tạo ra một
Cực vi làm nghĩa chính (Bà sa quyển 127, Đại chính, 27, trang
663, hạ). Và ý nghĩa này có thể cho là khi tứ đại hòa hợp
thì sinh phát một phần tử vật lý. Song, còn mỗi Cực vi
của bốn chất cứng, ướt, nóng và động thì như thế nào?
Câu hỏi này không thành vấn đề, bởi vì đã là “bát-sự-câu-sinh”
thì trong đó không còn có chất cứng, ướt v.v… tồn tại
một cách đơn độc cho nên không thể nói là Cực vi.
Sau
nữa, cái hình trạng Cực vi như thế nào? Về vấn đề này,
dĩ nhiên, ngay trong Phật giáo cũng cho rằng Cực vi là một
cái tồn tại không thể thấy được (Bà sa quyển 132, Đại
chính, 27, trang 684, thượng), bởi thế, nếu căn cứ vào con
mắt nhìn thì không thể quyết định được Cực vi, nhưng
trên lý luận thì cần phải quyết định.
Đại-mục-khố-lợ-tư-đốc
cho A-đốn có nhiều hình trạng khác nhau; thắng Luận thì
bảo Cực vi là thể tròn. Về điểm này, trong Phật giáo tùy
theo các bộ phái nên cũng có những ý kiến bất đồng. Hữu
Bộ thì bảo Cực vi không có hình tướng, do đó, không thể
nói nó thể tròn. Ngược lại, Kinh-lượng-bộ thì bảo nó
có hình thể (Kinh-lượng-b65 xướng lên thuyết Hữu-phương-phận,
Duy-Thức-Thập-Nhị-Tụng cử cả cực-vi-hữu-phận, vô phận
để cùng luận phá. Từ-Ân-Thuật-Ký chỉ rõ: Thuyết-vô-phương-phận
là của Hữu Bộ; thuyết hữu-phương-phận của Kinh Bộ -
xem Duy-Thức-luận-Nhị-Thập-Tụng thuật ký quyển hạ, Đại
chính, 43, trang 995, hạ, và Liễu-nghĩa-đăng-nhị-bản, Đại
chính, 43, trang 691, hạ).
Song,
điều không may là lý do của Hữu Bộ không được sáng tỏ.
Nếu Cực vi không có hình tướng thì sắc pháp tụ tập lại
cũng không có hình tướng. Trái lại, như Kinh Bộ chủ trương
Cực vi có hình tướng, nếu thế thì, trên quan niệm, nó vẫn
còn có chỗ chia chẻ nữa. Như vậy thì bảo Cực vi có hình
tướng hay không có hình tướng đều không chính xác. Nhưng,
nếu thế thì Cực vi nương vào cái gì để mà trụ? Thắng
Luận bảo Cực vi là thể thường trụ, khi thế băng hoại
thì Cực vi dù là đơn độc cũng vẫn tồn tại; Lục-pháp-luận
nói trên cũng đã căn cứ vào thuyết này mà lập luận. Hữu
Bộ thì không thừa nhận có Cực vi độc trụ tuyệt đối.
Theo Hữu Bộ, Cực vi đơn độc duy chỉ có thể được trên
lý luận, hoặc giả duy chỉ có bậc Thánh là thấy được,
chứ trên thực tế thì không có Cực vi tồn tại một cách
đơn độc. Cực vi tồn tại trong thực tế là Cực vi do bảy
Cực vi tập hợp lại. Tức là lấy một Cực vi làm trung tâm,
rồi từ sáu phương bao quát trung tâm ấy mà tạo thành một
đoàn bảy Cực vi. Theo Thắng Luận thì khi thế giới băng
hoại vật chất sẽ phân tán đi các Cực vi; còn theo Hữu
Bộ thì khi thế băng hoại Cực vi cũng diệt, cho nên chung
cục không bao giờ có Cực vi độc trụ. Mà điểm này, Thắng
Luận bảo quá trình tập hợp của Cực vi là bắt đầu từ
phụ-mẫu-nhị-vi cũng lại khác hẳn với cách giải thích
của Hữu Bộ. Nhưng, theo các nhà chú giải Trung Quốc thì
ngay trong Phật giáo cũng có Chính-Lượng-Bộ thừa nhận Cực
vi đơn độc (Duy-Thức-Nhị-Thập-Luận-Thuật-Ký quyển hạ,
Đại chính, 43, trang 998, trung?). Nhưng đáng tiếc là vể chi
tiết không được thuyết minh một cách rõ ràng nên ta không
thể quyết định được là giữa Chính-Lượng-Bộ và Thắng
Luận có quan hệ nào không?
Do
vậy, vấn đề ở đây được nêu lên là: Cực vi này ít
ra là bảy tập hợp lại mà tồn tại, vậy cái tình hình
tập hợp đó ra sao? Nói cách khác, cái gọi là tập hợp là
cùng tiếp xúc nhau hay cách biệt nhau mà tập hợp? Vấn đề
này, trong luận Bà sa cũng đã có nhiều thuyết khác nhau, tuy
có đưa ra ba thuyết của Thế-Hữu, Đại-Đức và Hữu Bộ,
nhưng chủ yếu thì cho rằng nó không phải cùng tiếp xúc
trực tiếp mà chỉ tiếp xúc một cách tối cận mà thôi (Bà
sa quyển 73, Đại chính, 27, trang 380, thượng). Vì nếu thật
sự tiếp xúc thì chúng phải hợp làm một. Còn sở dĩ chúng
không phân tán được là vì trong tứ đại có thủy đại
vốn có tác dụng duy trì chúng, không để chúng tán loạn
(Tụng-Sớ-Tuệ-Huy-Sao-Đại-Hệ-Bản quyển nhất, p. 100). Tức
là cái mà chúng ta gọi là dẫn lực thì Hữu Bộ bảo là
tác dụng của thủy đại. Nhưng đến Chính-lý-luận thì thuyết
này hơi biến đổi, bảo rằng Cực vi của sắc, hương, vị,
xúc cũng có thể hỗ tương tiếp xúc, vì tính của chúng không
giống nhau (Tuệ Huy dẫn dụng như trên).
Sau
hết, thời gian tồn tại của Cực vi cũng phải được khảo
sát thêm. Bất luận là Đại-mục-khố-lợi-tư-đốc hay Thắng
Luận đều cho rằng Cực vi là thường hằng bất biến. Song,
Phật giáo đứng trên phương diện quy mô của giáo lý, không
cho nó là thường hằng bất biến, nghĩa là, Cực vi cũng thuộc
về hữu-vi-pháp. Về ý nghĩa này, luận Bà sa bảo mỗi một
Cực vi có ba thời kỳ khác nhau (Bà sa quyển 19, Đại chính,
27, trang 96, hạ). Nhưng đây chỉ bàn luận theo giáo lý tối
căn bản mà thôi, còn nói theo ý nghĩa phổ thông thì Hữu
Bộ vẫn có thể thừa nhận Cực vi, đến một trình độ
nào đó, là thường trụ. Tuy Cực vi cũng biến thiên trong
ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai) nhưng Cực vi trước
dẫn khởi Cực vi đồng tính chất sau, Cực vi đồng tính
chất hay phiên nặc khởi một cách liên tục bất tuyệt, sự
thường hằng của cùng một vật đó là tương đồng. Chính
trong ý nghĩa ấy mà Hữu Bộ thừa nhận Cực vi thường hằng
tồn tại.
Song,
như đã trình bày trên kia, theo Bà sa thì hết thảy vật chất
bất luận là loại nào, đều do Cực vi mà thành lập, vậy
thì tất cả vật chất kia cũng đều thường hằng tồn tại
sao? Về điểm này Bà sa tựa hồ vẫn chưa nói đến. nhưng,
theo đà tiến hóa của tư tưởng, đây cũng là vấn đề không
thể không được đề cập đến. Tức chẳng hạn nói theo
kinh nghiệm thì như than khi biến thành tro thì Cực vi của
than lẽ cũng biến thành Cực vi của tro. Do đó, đến tân
Chính-lý-luận của Tát-bà-đa Cực vi đã được chia thành
giả và thật.
“Cực
vi có hai loại: một là thật, hai là giả. Thật nghĩa là do
hòa hợp vị hiện lượng mà cấu thành tự tướng của các
sắc; giả là do phân tích tỷ lượng mà biết, tức là trong
tụ sắc dùng trí tuệ mà phân tích dần dần cho đến đơn
vị Cực vi”…
(Chính-lý-luận
quyển 32, Đại chính, 29, 522, thượng).
Tức
là khi tứ đại năng tạo và tứ trần sở tạo hợp thành
thực sắc (bát sự câu sinh, tùy nhất bất giảm) thì Cực
vi là thật (như sự quyết định của ngũ cảnh, ngũ căn),
còn khi dùng quan niệm mà phân tích ngũ căn, ngũ cảnh thì
Cực vi là giả. Do đó, ta có thể nói, ngụ ý ở đây là:
Cực vi thực thì thường hằng tồn tại, nhưng Cực vi giả
thì không thế.
Sau
hết, nếu đã như vậy thì Cực vi thường hằng tồn tại
cho đến bao giờ? Theo Phật giáo nó sẽ tồn tại cho đến
khi nào thế giới đại băng hoại. Thế giới đại băng hoại
tức là khi kiếp diệt thì lúc đó Cực vi cũng hoàn toàn bị
hủy diệt: đó là giáo tướng của Hữu Bộ. Bởi thế, Câu
xá luận quyển 12 nói:
“Sức
tam tai ấy phá hoại khí-thế-gian cho đến Cực vi cũng không
còn nữa”.
Thắng
Luận thì bảo khí thế giới băng hoại duy chỉ có Cực vi
là không bị hủy diệt mà tán tại; Hữu Bộ thì vì không
thừa nhận Cực vi đơn độc tồn tại, nên cho rằng khi vi-tụ
(anu) phá hoại thì Cực vi cũng thể duy trì sự tồn tục của
nó được. Đương nhiên, theo Hữu Bộ, vì pháp thể là hằng
hữu nên, đứng về phương diện hình-nhi-thượng mà nói,
những Cực vi đó tuy cùng tồn tại ở quá-khứ-diệt và vị-lai-tạp-loạn,
nhưng trong kiếp diệt thì vì không hiện-tại-hóa chúng nên,
đứng về phương diện các pháp không tồn tại trong hiện
tại, Cực vi cũng bị hủy diệt. Về điểm này, Câu xá luận
công kích phái Thắng Luận và cuối cùng quy kết hết thảy
cho tác dụng của nghiệp (như trên, Quốc dịch trang 746). Rồi
Duy-thức-phái lại đưa ra tư tưởng này đi xa hơn nữa, muốn
hoàn toàn phủ nhận thực tại của Cực vi, như Duy-thức-nhị-thập-luận
của Thế Thân là tác phẩm đặc biệt công kích và bác xích
một cách kịch liệt Cực vi luận.
BỊ
KHẢO. Vật-chất-quan của Hữu Bộ vẫn còn có những điểm
mâu thuẩn và thiếu sót sau đây mà cần phải được nghiên
cứu, đó là:
(1)
Sự bất điều hòa giữa Tứ đại luận và Thập xứ.
(2)
Thuyết ngoài năng tạo ra còn có sở tạo riêng biệt.
(3)
Mức độ quan hệ giữa Cực vi của Tứ-đại-chủng và Cực
vi của Sở-tạo-sắc như thế nào?
(4)
Cái lý do không thừa nhận Cực vi độc trụ ra sao?
(5)
Cái lý do khi kiếp diệt thì Cực vi cũng diệt như thế nào?