CHƯƠNG
V
KHÁI
NIỆM GIỮA VẬT VÀ TÂM
(Tâm-Bất-Tương-Ưng-Hành-Luận)
1-
NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG CỦA PHÁP TÂM-BẤT-TƯƠNG-HÀNH.
Tâm
và vật là hai yếu tố căn bản thành lập vạn hữu, do đó,
ta có thể nói ngoài tâm và vật ra không có một yếu tố
thứ ba. Song, nếu đứng trên lập trường hiện tượng mà
nói thì cũng có những hiện tượng không hẳn thuộc về tâm
cũng không hẳn thuộc về vật mà là ở khoảng giữa cả
hai, nghĩa là, do những phối hợp của cả tâm và vật mà
thành những hiện tượng tồn tại, đó là một sự thật
không còn hồ nghi gì nữa. Tức như quan hệ, trạng thái và
địa vị, v.v… là thuộc về loại này. Do đó, nếu muốn
khảo sát tận cùng những yếu tố thành lập hiện tượng,
thì ngoài tâm và vật ra, người ta không thể khảo sát đến
những quan niệm khác. Tức là người ta phải xử lý những
quan niệm đó như thế nào? Coi chúng như một hình thái tồn
tại của tâm và vật ư? Hay coi chúng như một thức dạng
giao thiệp ở khoảng giữa tâm và vật? Tuy đây có thể nói
là thuộc vấn đề khác, thế nhưng dù sao đi nữa, ta không
thể không khảo sát đến nó, nếu chỉ cho tâm và vật là
tài liệu duy nhất thì, ở một phương diện nào đó, cũng
có thuyết minh cho rõ ràng, tưởng đây cũng là một sự thật
hiển nhiên.
Trong
Phẩm-loại-túc-luận của Nam phương, về việc phân loại
vạn hữu theo Nhân-duyên-luận, ngoài tâm và vật còn thêm
cái gọi là “thi thiết” để thuyết minh. Đối với sự
kiện này, trong A-tỳ-đạt-ma, đại khái từ phương diện
ý thức mà bắt đầu luận cứu. thi thiết có nghĩa là “quan
niệm” hoặc là “khái niệm”, và chính là khái niệm liên
quan đến hình thức tồn tại. Bên Nam phương, thuyết này
đã dần dần phát đạt và đến A-tỳ-đạt-ma-yếu-luận
của A-nâu-lâu-đà thì nó đã được chia thành hai loại là
Nghĩa-thi-thiết và Danh-thi-thiết. Nghĩa-thi-thiết là đối
tượng của khái niệm; còn Danh-thi-thiết là chỉ đương thể
của khái niệm đó khi duy chuyển đến ngôn ngữ.
Theo
A-ô-ân-thị thì nghĩa thi thiết có 12 loại:
1-
Chân-như-thi-thiết – liên quan đến quan niệm tồn tại, tức
là đối với sự tồn tại của Đệ-nhất-nghĩa.
2-
Chấp-thi-thiết, là quan niệm dẫn xuất từ sự tồn tại
của Đệ-nhất-nghĩa, đại khái là quan niệm đi vào nhận
thức của người ta mà tồn tại.
3-
Tập-hợp-thi-thiết, là quan niệm thích ứng với sự tập
hợp của sự vật.
4-
Loại-thi-thiết, quan niệm về chủng hay loại.
5-
Hình-thi-thiết, quan niệm đối với hình thái của vật.
6-
Phương-thi-thiết, quan niệm về địa hay phương của vật.
7-
Thời-thi-thiết, quan niệm về thời gian.
8-
Không-thi-thiết, quan niệm về không gian.
9-
Tướng-thi-thiết, quan niệm đối với các hiện tượng.
10-
Phi-hữu-thi-thiết, quan niệm đối với sự tương tục của
vật.
11-
Tương-tục-thi-thiết, quan niệm đối với sự tương tục
của vật.
12-
Thế-tục-thi-thiết, quan niệm đối với sự biểu thị thông
tục (Compendium of Ph. phàm phu. 5-6).
Những
tư tưởng trên đây đã phát đạt theo thuận tự như thế
nào là một vấn đề mà cho đến nay vẫn chưa ai hiểu rõ,
thật là một điều không may. Nhưng sự thật hiển nhiên không
ai chối cãi được là: những tư tưởng ấy là kết quả
của sự khai triển lâu dài của các bậc luận sư Nam phương.
2-
SỰ PHÁT TRIỂN TÂM-BẤT-TƯƠNG-ƯNG-HÀNH-PHÁP-QUAN CỦA LUẬN
BỘ BẮC PHƯƠNG.
Đối
với tư tưởng Tâm-bất-tương-ưng-hành-này, Bắc phương luận
bộ đã triệt để chú ý. Lấy Hữu Bộ làm trung tâm, tư
tưởng này tựa hồ ngụ ngầm một ý nghĩa trọng yếu. Trong
Pháp-uẩn-túc-luận, Xá-lợi-phất-A-tỳ-đàm-luận, v.v… tư
tưởng đó đã được biểu hiện một cách rõ ràng; nhất
là đến Phát-trí-luận, Phẩm-loại-túc-luận thì tựa hồ
nó đã chiếm một vị trí quan trọng, và đặc biệt đến
Phẩm-loại-túc-luận, là một trong cái gọi là năm vị cùng
với các pháp tương đối khác là Sắc, Tâm, Tâm sở, và Vô
vi, nó ngầm chứa một ý nghĩa độc lập.
Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp
có nghĩa là các pháp không giống với những tác dụng tâm
lý của người ta và tính chất của tác dụng đó (đồng
thời, chúng cũng lại khác với những tác dụng vật chất),
nhưng chúng có ý nghĩa ở khoảng giữa tâm và vật. Về thuyết
Thực Hữu, tuy Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp-luận bị Kinh
Bộ phản đối, nhưng đứng về phương diện khảo sát vũ
trụ thì ít ra cũng được các bộ phái thuộc Duy-tâm-luận-hệ
thái dụng: điều này cứ xem cách thái dụng trong Thành-thật-luận
và Duy-thức-luận thì đủ rõ.
Song,
luận bộ Bắc phương dùng loại quan niệm nào làm Tâm- bất-tương-ưng-hành-pháp?
Vấn đề này, nói theo hình thức tồn tại thì tuy đồng cũng
đồng dạng với Thi thiết của Nam phương, nhưng về cách
lập pháp thì có điểm rất bất đồng, chẳng hạn như cách
biểu thị ngũ vị đã nói ở trên. Theo chỗ tôi hiểu, cái
khái niệm được thu dụng sớm hơn hết có lẽ là Sinh, Trụ,
Lão. Khái niệm này, trong A Hàm đã được đức Phật đề
thị như tưởng Tam hữu, không những thế, đến khi quyết
định địa vị của nó thì không thể quy định vào tâm hay
vật được. Từ đó, quan niệm mệnh, đắc có lẽ cũng đã
được thêm vào rồi cứ thế dần dần đã đi đến chỗ
phức tạp. Chiếu theo văn hiến, luận Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm,
trong mục “cộng-xứ-sở-nhiếp-pháp” cùng một lúc với
tâm sở và vô vi, tuy đã thu dụng sinh, lão, tử, mệnh, kết,
vô tưởng định, đắc quả, diệt tận định, v.v…(Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm
quyển 1, Đại chính, 28, trang 526, hạ; Nghiên-cứu-a-tỳ-đạt-ma-luận,
trang 129 dẫn dụng), nhưng vẫn chưa được rõ ràng, do đó
mới mệnh danh là “Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp”. Rồi
lại trong Pháp-uẩn-túc-luận, cũng ở mục Pháp xứ, đã thu
dụng và thuyết minh những quan niệm trên, nhưng so với Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm-luận
thì đã tiến bộ khá nhiều. Nghĩa là, cùng một lúc với
các loại tâm sở và ba vô vi, đã kể đến đắc, vô-tưởng-định,
diệt-tận-định, vô-tưởng-sự, mệnh căn, chúng-đồng-phận,
y đắc, sự đắc, xứ đắc, sinh, lão, trụ, vô thường, danh
thân, cú thân và văn thân (Pháp-uẩn-túc-luận quyển 10, Đại
chính, 26, trang 500, hạ). Rồi trong Phẩm-loại-túc-luận cũng
có đoạn văn đại lược cũng giống như đoạn văn trên đây:
Đắc, Vô-tưởng-định, diệt định, vô tưởng sự, mệnh
căn, chúng đồng phận, y đắc, xứ, sự đắc, sinh, lão, trụ,
vô thường tính, danh thân, cú thân, văn thân; lại có những
loại pháp khác như thế, không tương ưng với tâm, thì tóm
lại đều gọi là Tâm-bất-tương-ưng-hành (Phẩm-loại-túc-luận
quyển 1, Đại chính, 26, trang 692 hạ). Trong luận Phát trí
quyển 17 (Đại chính, 26, trang 1008, trung), tuy có ghi bốn tướng
và đắc nhưng đã không kết hợp lại và cũng không bảo
là “bất-tương-ưng-hành”. Luận Đại-tỳ-bà-sa lại còn
bàn đến các pháp trên đây một cách tường tế hơn; và
ngộ nhập trong Nhập-A-tỳ-đạt-ma-luận (quyển hạ, Đại
chính, 28, 986, thượng – 988, thượng), Ha-lê-bạt-ma trong Thành-thật-luận
(quyển 7, Bất-tương-ưng-hành-phẩm 194, Đại chính, 32, trang
289, thượng) đã chỉnh lý các pháp đó và quy định thành
mười lăm. Tức là: Đắc, phi đắc, vô tưởng định, điệt
tận định, vô tưởng sự, hay, vô tưởng quả, mệnh căn,
chúng đồng phận, dị sinh tính, sinh, trụ, dị, diệt, danh
thân, cú thân và văn thân. Trong số này, luận Câu xá cắt
bỏ dị sinh tính đi chỉ để giữ lại mười bốn Bất-tương-ưng-hành
mà thôi, và các nhà học giả Câu xá của Trung Quốc, Nhật
Bản đều tính theo con số Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp này.
Nhưng,
trong Phẩm-loại-túc-luận cũng đã nói: “… Ngoài ra, nếu
có những loại pháp như thế, không tương ưng với tâm, thì
tóm lại đều gọi là Tâm-bất-tương-ưng-hành”, như vậy
thì Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp quyết không phải chỉ hạn
định ở con số mười lăm hay mười bốn kể trên. Do đó,
theo quan điểm này, Đại-thừa-duy-thức phái lại tăng thêm
con số đó lên. Trong Đại thừa A-tỳ-đạt-ma-tập-luận của
Vô Trước (quyển 1, Đại chính, 31, trang 665, trung), Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp
được liệt kê như sau: đắc, vô-tưởng-định, diệt-tận-định,
vô-tưởng-dị-thục, mệnh căn, chúng-đồng-phận, sinh, lão,
trụ, vô thường, danh thân, cú thân, văn thân, dị sinh tính,
lưu chuyển, định dị, tương ưng, thế tốc, thứ đệ, thời,
phương, số, và hòa hợp, tất cả là hai mươi ba (về cách
giải thích pháp này, xem Đại thừa A-tỳ-đạt-ma-tập-luận
của An Tuệ (quyển 2, Đại chính, 31,trang 700, thượng) ).
Cái
phương pháp lập thành tuy có khác nhau, nhưng điểm chủ yếu
thì các pháp Bất-tương-ưng-hành, bất luận pháp nào, đều
là kết quả rút tỉa từ quan niệm trừu tượng về sự tồn
tại và sự hoạt động của vạn hữu. Nhất là Hữu Bộ
cho các pháp đó cũng tồn tại hệt như tâm và vật, và, theo
nhiều phương thức, coi tâm và vật là nguyên lý thúc đẩy
hoạt động. Chẳng hạn, khi một hiện tượng nào đó phát
sinh, dĩ nhiên là trong đó có thêm nhân duyên, nhưng, sở dĩ
phải quan niệm đến sự tồn tại của Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp
là để hoàn thành cái nguyên nhân của sự vật đó. Cũng
thế, vạn hữu sở dĩ có trụ có diệt là do ở cái nguyên
lý trụ diệt, nếu người ta gạt bỏ nguyên lý trụ diệt
đi thì không sẽ thuyết minh được cái nguyên nhân căn bản
của sự trụ diệt của vạn hữu. Về điểm này, giữa cách
giải thuyết của Hữu Bộ và thuyết của phái Thắng Luận
cho rằng những nguyên lý thực, đức, nghiệp đồng, dị hòa
hợp lại mà phát khởi, những hiện tượng cụ thể, có chỗ
bất tương đồng. Do đó, theo ý nghĩa ấy, thuyết Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp-thực-hữu
là giáo lý đã biểu thị rõ rệt nhất cái đặc trưng của
Hữu Bộ; đồng thời, cũng lại là cái mốc để kiểm tra
lại dấu vết phát triển của tư tưởng Hữu Bộ. Mà phái
phản đối thuyết này, như đã nói ở trên là Kinh Bộ, rồi
đến Thành thật luận, Duy thức luận (1), v.v…, cho đó là
giả lập để lại công kích thuyết thực hữu hơn nữa.
Song,
nói tóm lại, thuyết Bất-tương-ưng-hành này chính do Hữu
Bộ đã đề xướng, và dù nó đã được tán thành hay bị
phản đối chăng nữa người ta cũng không thể phủ nhận
được sự thật là: nhờ thuyết đó mà sự khảo sát vạn
hữu đã trở nên tinh mật hơn.
(1)
Phái Duy Thức cho nó là giả lập – Đại thừa A-tỳ-đạt-ma-tập-luận
quyển 1, Đại chính, 31, trang 665, hạ - nhưng trong Thành-thật-luận
quyển 5, Pháp tụ, thiên 18, Đại chính, 32, trang 252, trung,
hạ, lại định nghĩa cho nó là “vô tác nghiệp”.
3-
TƯỚNG TRẠNG CỦA CÁC PHÁP TÂM-BẤT-TƯƠNG-ƯNG-HÀNH.
Ý
nghĩa mỗi pháp Tâm-bất-tương-ưng-hành như thế nào, nếu
giải thích một cách tường tế thì cực kỳ khó khăn, nên,
ở đây, tôi chỉ nói qua một cách đơn giản mà thôi.
Trước
hết, hãy bắt đầu từ “đắc”. Đắc là một khái niệm
đặc sắc nhất trong Tâm-bất-tương-ưng-hành. Đắc nghĩa
là “được”, tức là chỉ trạng thái đã đạt đến cảnh
giới nhất định nào đó. Chẳng hạn, lúc đầu chỉ mới
nói là “được” diệt tận định, “được” vô tưởng
định, v.v… nhưng dần dần về sau chính cái “được”
ấy đã trở thành một trong những pháp Tâm-bất-tương-ưng-hành,
tức là do nơi tâm mà được một tập quán nhất định, vậy
khái niệm trừu tượng “được” là từ trạng thái “không
mất” mà có. Lý do tại sao phải thành lập “đắc” là
vì khi giải phẩu hiện tượng, cắt bỏ các yếu tố thì
những yếu tố đó sẽ trở thành những vật độc lập, rồi
khi phải kết hợp những yếu tố đó lại thì cần phải
có khái niệm “đắc”.
Theo
sự thuyết minh của luận Đại-tỳ-bà-sa thì thánh nhân và
phàm phu tuy là hai nhưng trong một lúc còn trụ ở tâm vô ký.
Nếu chỉ xét về phương diện tạm thời và cùng ở tâm vô
ký này thì dù thánh nhân hay phàm phu, có thể nói không có
gì sai khác. Nhưng điểm bất đồng là trong tâm thánh nhân
đã thành tựu được trí vô lậu “không mất”, còn phàm
phu thì có phiền não, cho nên, một lúc nào đó, nếu bỏ tâm
vô ký đi tâm phàm phu sẽ hoạt động mà khiến cho thành nhân
và phàm phu khác nhau. Sự cần thiết của khái niệm “đắc”
chính là ở điểm đó, cho nên, dù ngay trong lúc tụ ở vô
ký tâm, nhưng trong thánh nhân thì có trí vô lậu, trong phàm
phu có phiền não, ở đây, muốn kết hợp cả hai, không thể
không có “đắc”, đó là lý do tại sao “đắc” được
coi là một nguyên lý độc lập vậy.
Trên
đây chỉ mới thuyết minh sơ lược về “đắc” mà thôi,
khi vấn đề này được bàn luận một cách tường tế thì
người ta còn chia ra “hoặch” (chưa được, nay được) và
“thành tựu” (được rồi, không mất); hoặc có khi chia
nó thành ba loại là: “Pháp-tiền-đắc”, “pháp-câu-đắc”
và “pháp-hậu-đắc”, và đến đây giáo lý “đắc” đã
khai triển một cách cực phức tạp. Muốn biềt tường tận,
xin xem luận Bà sa, quyển 158 (Đại chính, 27, trang 801, hạ)
và luận Câu xá, quyển 4. Một điểm nữa nên chú là: tác
dụng của “đắc” chỉ áp dụng cho những tâm lý mà thôi,
bởi thế, nó không bao giờ được dùng trong những trường
hợp “được” gạo, “được” tiền.
Thứ
đến, “phi đắc”. Phi đắc là tác dụng hoạt động ngược
lại với đắc, là pháp khiến “được rồi mà mất”. Trước
luận Bà sa nó vẫn chưa được lập thành trong những pháp
Bất-tương-ưng-hành, nhưng, đến luận Bà sa, vì “đắc”
được phát triển mạnh, nên phi đắc cũng được biệt lập
thành một.
Thứ
ba vô-tưởng-định, thứ tư diệt-tận-định và thứ năm
vô-tưởng-quả là trạng thái tuyệt diệu của tâm. Song đó
không phải là cảnh giới tuyệt nhiên không có, nhưng không
thể là tâm hay vật được, vì thế mà kêu là Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp.
Tuy Đại-chúng-bộ và Hóa-địa-bộ bảo là vô vi, nhưng ở
đây nó là Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp.
Thứ
sáu là mệnh căn. Mệnh căn có nghĩa là thọ mệnh, là cái
nguyên lý làm cho ta sống còn. Theo ý nghĩa ấy, mệnh căn ở
đây có vẻ giống như cái gọi là “Cùng-sinh-tử-uẩn”
của Hóa-địa-bộ, hay, “Phi-tức-phi-ly-uẩn-ngã” của Độc-tử-bộ;
nhưng, nếu theo Hữu Bộ thì cái đó không phải vật, mà cũng
không phải tâm, nó hoàn toàn là trạng thái do tâm, thân tương
tục mà thành một nguyên lý trừu tượng, và tuyệt nhiên
không có một ý nghĩa linh ồn nào cả (Nam phương cho nó là
một của vật chất).
Thứ
bảy: chúng-đồng-phận, nguyên-lý-hóa khái niệm về chủng
hoặc loại, là quy định các pháp đồng loại với nhau. Có
hai loại: vô-sai-biệt và hữu-sai-biệt. Vô-sai-biệt thì như
người chẳng hạn, bất luận là đàn ông, đàn bà, già hay
trẻ, đứng về phương diện người mà nói, là đồng nhất;
còn hữu-sai-biệt thì như giữa loài người có đàn ông, đàn
bà khác nhau, đó chính là cái niệm khu biệt tương đương
về chủng hay loại. Cách thuyết minh này có thể nói cũng
tương tự của thuyết phái Thắng Luận chia đồng phận thành
cao-đẳng-đồng và liệt-đẳng-đồng.
Thứ
tám dị-sinh-tình – là nói về địa vị trừu tượng của
phàm phu. Khái niệm này được Hữu Bộ thành lập, nhưng Câu
xá luận không thừa nhận.
Từ
thứ chín đến thứ mười hai sinh, trụ, dị, diệt, là bốn
tướng của các pháp hữu vi, từ Bà sa trở về sau đã thành
một vấn đề được thảo luận một cách rất sôi nổi.
Chẳng hạn, lúc đầu, Phát-trí-luận hoặc Phẩm-loại-túc-luận
coi bốn tướng sinh, trụ, dị diệt là nguyên lý của vạn
hữu và xử lý chúng một cách đơn thuần, nhưng đến luận
Bà sa (quyển 39, Đại chính, 27, trang 200, hạ) thì ngoài tứ
tướng còn tìm đến nguyên lý của sinh, trụ, diệt là gì?
Một khi vấn đề đó được nêu ra thì nghiễm nhiên nó trở
thành rất phức tạp. Như vậy là luận Bà sa, ngoài, sinh,
trụ, dị, diệt ra còn muốn biến sinh, trụ, dị, diệt thành
nguyên lý của chính sinh, trụ, dị, diệt, và để vượt qua
nỗi khó khăn đó, bèn đề xướng thuyết gọi là “Tiểu-tứ-tướng”
hay “Tùy-tướng”. Nhưng thật ra điều đó chỉ làm cho vấn
đề trở nên rắc rối thêm chứ không đạt đến một giải
quyết triệt để chân chính nào cả.
Thứ
mười ba đến thứ mười lăm: danh, cú, văn (các nhà Thí-Dụ
cho danh, cú, văn thân không thật có; các nhà Thanh luận thì
bảo danh, cú, văn lấy tiếng (thanh) làm tự tính, tông này
cũng xếp chúng vào loại Bất-tương-ưng-hành-pháp, Bà sa quyển
14, Đại chính, 27, trang 70, thượng). đây là chia ngôn ngữ
và nội dung của nó thành ba loại nguyên lý. Danh có nghĩa
là danh từ (danh thuyên tự tính); cú, như núi cao, nước chảy,
v.v… là giải bày nghĩa lý (cú thuyên sai biệt); tự là tự
mẫu và tự vận như a, I, u, b, c, k,… người ta nhờ chữ
mà phát thành tiếng, nhờ danh mà nói lên đối tượng và
nhờ cú mà phát biểu nghĩa lý. Cách giải thích những nguyên
lý đặc thù này cũng tương đương như cách giải thích của
Văn-điển-phái, đó là điểm ta cần ghi nhận.
Tất
cả mười lăm loại trên đây đều được Hữu Bộ thái dụng;
còn những thành phần sẽ được liệt kê sau đây chủ yếu
là do Duy-thức-phái thành lập, nhưng về uyên nguyên của chúng
thì vẫn bắt nguồn từ sự thuyết minh trong luận Bà sa.
Thứ
mười sáu: lưu-chuyển – là nói sự liện tục bất đoạn
của nhân quả.
Thứ
mười bảy: định-dị - là nói nhân quả có nhiều sai biệt.
Thứ
mười tám: tương-ưng – là nói sự quan hệ nhất định bất-tương-ly
của nhân quả.
Thứ
mười chín: thế tốc – là nói sự lưu chuyển nhanh chóng
của nhân quả.
Thứ
hai mươi: thứ đệ - là nói tuy nhân quả lưu chuyển rất
có thứ tự.
Thứ
hai mốt: thời – là nói nhân quả tương tục trong ba đời.
Thứ
hai mươi hai: phương – là nói nhân quả chuyển khắp đông,
tây, nam, bắc.
Thứ
hai ba: số - là nói về số mục, như một, hai, ba, v.v…
Thứ
hai mươi bốn: hoà hợp – là nói nhân quả do nhiều duyên
hòa hợp mà thành (Đại thừa A-tỳ-đạt-ma- tạp-tập-luận
quyển 2, Đại chính, 31, trang 700-701).
4-
SỰ QUAN HỆ GIỮA TÂM-BẤT-TƯƠNG-ƯNG-HÀNH-PHÁP, VÔ-VI-PHÁP
VÀ NHÂN-DUYÊN-QUAN.
Sau
hết, trong chưong này, vẫn còn một điểm nữa cần phải
được chú ý, đó là sự quan hệ giữa Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp
và Vô-vi-pháp, đã trình bày ở trên, cùng nhân-duyên-quan,
sẽ được trình bày sau, như thế nào? Vô vi dĩ nhiên đã
được thành lập theo tiêu chuẩn bất biến bất động; Nhân-duyên-quan
thì, trái lại, được thành lập để thuyết minh cái quy định
“động” của vạn hữu, do đó, có thể nói hai quan niệm
trên hoàn toàn đối lập nhau. Vậy, giữa hai quan niệm đó,
Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp đứng trên cương vị nào? Nếu
nói một cách đại thể thì nó đứng ở địa vị trung gian.
Đứng trên quan niệm hoạt động của vạn hữu mà nói thì
Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp tuy giống như nhân duyên do hoạt
động vạn hữu quy định, nhưng lại không “động” như
nhân duyên; đồng thời, đứng về phương diện bất biến
mà nói thì tuy giống như vô vi nhưng lại không có cái tính
bất biến cố định của vô vi, cho nên, có thể nóiTâm-bất-tương-ưng-hành-pháp
là quan niệm đứng khoảng giữa vô vi và nhân duyên. Vì đứng
ở khoảng giữa nên Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp được coi
là có liên lạc mật thiết với nhân duyên và vô vi, điều
này cứ xem Đại-chúng-bộ coi pháp tắc của nhân duyên cũng
như vô vi thì đủ rõ. Hơn nữa, vì là ở khoảng giữa nên,
tùy theo cách nhận xét, Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp rất
dễ biến thành vô vi hoặc nhân duyên, điều đó tưởng không
có gì là lạ cả. Chẳng hạn như Đông-Sơn-Bộ chủ trương
rằng đắc là vô vi. Lại nữa, như Đại-chúng-bộ và Hóa-địa-bộ
thừa nhận Tứ-vô-sắc là vô vi, thì, về điểm này, dĩ nhiên
là Vô-tưởng-định, diệt-tận-định và vô-tưởng-sư, v.v…
rất có thể cũng có thể xếp vào loại vô vi. Đồng thời,
những Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp khác đều có thể được
thu nhiếp vào nhân duyên theo nghĩa rộng; nói một cách đơn
giản, chẳng hạn như A-tỳ-đạt-ma-pháp-yếu-luận của Nam
phương đã xếp toàn bộ Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp vào
bộ Nhân-duyên-luận. Như vậy, nếu quan niệm về Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp
này được khoáng đại ra thì trong đó có thể thu nhiếp cả
vô vi lẫn nhân duyên, đồng thời ở phương diện tương phản,
nếu vô vi hoặc nhân duyên được mở rộng thì, theo tôi,
dù không thiết lập Tâm-bất-tương-ưng-hành-pháp riêng biệt
đi nữa cũng có thể bao gồm tất cả các loại pháp rồi.
Tóm
lại, ba quan niệm về vô vi, Tâm-bất-tương-ưng-hành và nhân
duyên rất có liên hệ mật thiết về mặt tâm lý: đó là
điểm ta không thể quên khi nghiên cứu vấn đề này.