THIÊN
THỨ TƯ
TÂM-LÝ-LUẬN
LỜI
TỰA
1-
Thế giới quan được trình bày ở thiên trước, đối với
giáo lý của A-tỳ-đạt-ma Phật giáo, tuy là đề mục trọng
đại, nhưng thật thì nó không phải là đặc trưng của Phật
giáo. Đó chẳng qua là thế giới quan lưu hành ở đương thời
được thu dụng rồi dần dần Phật giáo hóa mà thôi. Hơn
nữa, nó còn có rất nhiều điểm tương tự như thế giới
quan của Bá-lạp-na: đó là một sự thật không thể phủ
nhận. Trái lại tâm-lý-luận mà chúng tôi muốn trình bày
sau đây, đối với giáo lý của A-tỳ-đạt-ma Phật giáo,
mới thật là sản vật đặc hữu của Phật giáo, cũng tức
là cái đặc trưng đã phát huy nền học vấn của A-tỳ-đạt-ma
Phật giáo đến cực điểm.
Tại
Ấn Độ có nhiều học phái, tuy đều đề cập đến tâm
lý luận, nhưng có thể nói không có một học phái nào mà
luận cứu vấn đề này một cách tinh tế như Phật giáo.
Tâm-lý-luận này ở nhiều điểm, là một vấn đề có tính
cách khoa học, nó không những có chỗ tương thông với tâm-lý-học
hiện đại, mà nếu đứng trên lập trường học vấn tự
thân để khảo sát, nó cũng rất có hứng vị. Có người
nói tâm-lý-luận của Phật giáo, đứng về mặt khoa học,
có thể nói không khác gì tâm-lý-luận của Á-lợi-tư-đa-đức
(?). Theo một ý nghĩa nào đó, sự nhận xét này có thể được
chấp nhận. Nhưng người nói như thế là mới chỉ đọc qua
các kinh, luận bằng văn Ba-li mà thôi, chứ tuyệt chưa biết
gì về những bộ luận Hán dịch, cho nên vẫn chưa đạt đến
cái diệu vị đích thực của tâm-lý-học của Phật giáo.
Dù nói cách nào đi nữa, người ta cũng không thể phủ nhận
được rằng, sự phát đạt đến cao độ của nền tâm lý
học Phật giáo là ở trong các bộ luận tiến bộ được
dịch ra Hán văn, cho nên không phải tự phụ, đi sâu vào tâm
lý luận Phật giáo để nghiên cứu cho triệt để là nghĩa
vụ dành riêng cho chúng ta (người Nhật - chú của dịch giả).
2-
Điểm thứ nhất, đứng về phương diện cổ đại mà nhận
xét, tâm-lý-luận của Phật giáo tuy rất tiến bộ, nhưng
quyết không phải nó đã phát xuất từ hứng vị khoa học.
Nói cách khác, mục đích của tâm-lý-luận Phật giáo không
phải muốn biết rõ tổ chức tâm lý và tình hình hoạt động
của nó, mà chỉ chuẩn bị nó cho mục đích thực dụng mà
thôi. Đức Phật, theo một ý nghĩa nào đó, trước sau vẫn
là một nhà thực dụng chủ nghĩa. Bất luận cái gì, đứng
về mặt thực dụng, nếu mà vô dụng thì đều không có hứng
thú. Thái độ của Phật đã được kế thừa mãi đến đến
đời sau. thực dụng chủ nghĩa ở đây, nếu nói một cách
thiển cận, có nghĩa là ức chế tâm ác và bồi dưỡng tâm
thiện của chúng ta, còn nếu nói một cách thâm thúy, là ức
chế phiền não, phát huy chân trí để cuối cùng đạt đến
giải thoát. Theo Phật giáo thì cái gọi là thiện, ác, mê,
ngộ rốt ráo không ngoài những hoạt động tâm lý của chúng
ta, cho nên nếu muốn tiến tu, trước hết cần phải biết
rõ những hoạt động tâm lý một cách như thực: đó là nguồn
gốc phát sinh tâm lý luận. Do đó, trong thái độ muốn biết
một cách như thực những hoạt động tâm lý, tuy có tích
cách thuần túy khoa học, nhưng mục đích đã định là thực
dụng, cho nên để thích hợp vớp mục đích đó, sự quan
sát có khi phải linh động chứ không cố định, đó cũng
là lẽ tự nhiên. Theo ý nghĩa ấy, tâm-lý-luận Phật giáo
có một nghĩa rộng, có thể nói là tâm-lý-học ứng dụng,
hoặc là tâm-lý-học luân lý. Đó là điểm chúng ta cần phải
hiểu trước nhất, nếu không, chúng ta sẽ không thể lý giải
được cái tinh thần có nhiều đặc trưng được biểu hiện
trong tâm-lý-học Phật-giáo. Chẳng hạn như tâm-sở-luận,
tức tương đương với tác-dụng của tâm, thiện tâm, phiền-não-tâm,
thanh-tịnh-tâm v.v… toàn lấy thiện ác làm tiêu chuẩn để
nói rõ tác-dụng của tâm-lý, cho nên đây chỉ là một thủ-đoạn
suy tiến đức hạnh của người ta.
Mới
nhìn, ta thấy tâm-lý-luận của Phật giáo có vẻ như bất-khả-tư-nghị,
vì nó không những chỉ muốn thuyết minh hoạt-động tâm-lý
ở nhân-gian, mà còn muốn thuyết minh cả hoạt-động tâm-lý
ở thượng giới tức Sắc-giới và Vô-sắc-giới nữa. Nhưng,
nếu truy nguyên đến tinh thần của nó, thì cái gọi là thượng-giới
tất kinh không ngoài cảnh-giới tinh-thần hướng-thượng của
chúng ta. Cho nên, nghiên cứu tâm-lý ở hai cõi trên tức là
biến cái quá trình tinh-thần hướng thượng của chúng ta
thành một thủ đoạn thuyết minh tâm-lý. Ngoài ra, trong tâm-lý-luận
của Phật-giáo tuy còn nhiều cách thuyết minh, nhưng tất cả
đều dựa trên quan điểm này để xử-lý: đó là điều chúng
ta cần ghi nhận. Chính vì thế mà tâm-lý-luận của Phật
giáo cuối cùng không trút bỏ được sắc thái của luân lý-luận
và tôn-giáo-luận. Tuy nhiên, nếu chỉ giới hạn nó trong phạm-vi
tâm-lý-luận để quan sát thì rất có nhiều điểm cần nghiên
cứu. Đó chính là lí do tại sao ở đây chúng tôi tách rời
luân-lý mà chỉ đứng riêng trên lập trường tâm-lý-luận
để khảo sát.
Điểm
thứ hai cần nói là tài liệu và phương pháp nghiên cứu như
thế nào? Về vấn đề này, chúng tôi đã nói qua trong Nguyên
Thủy Phật giáo Tư Tưởng Luận. Cách thuyết pháp Phật giáo
ngay từ thời kỳ đầu đã rất có tình cách tâm lý, cho nên
thuyết tâm lý của Phật giáo đã cực tiến bộ. Do đó, cũng
như tất cả vấn đề khác, khi nghiên cứu tâm-lý-luận của
Phật giáo, trước hết cũng phải bắt đầu từ thánh điển
A-Hàm. Thật vậy, trong kinh A-Hàm chỗ nào cũng thấy rải rác
giáo thuyết liên quan nhận-thức-luận hay tâm-lý-thuyết. Nếu
thu tập tất cả những giáo thuyết đó rồi lại chỉnh lý
một cách thích đáng cũng có thể cấu tạo thành tâm-lý-luận
(tham chiếu Trung-A-Hàm, quyển 58, kinh Đại-câu-hi-la thứ 211;
Trung-A-Hàm quyển 58, kinh Pháp-lạc-tỷ-khưu-ni thứ 210). Tuy
không hoàn toàn, nhưng chúng tôi đã dựa vào tất cả những
tài liệu đó nói về tâm-lý-luận trong Nguyên Thủy Phật
Giáo Tư Tưởng Luận. tuy nhiên, nếu dựa vào những tài liệu
của Phật giáo nguyên thủy không thôi thì tâm-lý-luận Phật
giáo vẫn chưa được hoàn toàn. Về tâm sở, trong bộ A-Hàm
Thánh Điển vẫn chưa được thuyết minh tường tế. Nếu
dõi theo niên đại, thì mãi đến A-tỳ-đạt-ma luận thư Tâm
sở luận mới dần dần phát triển và được thuyết minh
một cách rõ ràng. Lúc đầu, khuynh hướng phát đạt của
A-tỳ-đạt-ma luận thư chỉ chuyên xứ xử lý những vấn
đề tu dưỡng thực tế, nhưng dần dần tiến đến thuyết
minh sự thực, thì tâm-lý-luận đã là một đề mục rất
trọng đại đối với việc thuyết minh sự thực đó. Muốn
biết đầy đủ về sự phát đạt của tâm-lý-luận Phật
giáo, cần phải chia các loại A-tỳ-đạt-ma luận thư làm
hai giai đoạn để dõi theo cái dấu vết phát triển của nó.
Do đó, tuy hơi phiền phức nhưng cũng phải chia ra như thế
để khảo sát mới dễ hiểu.
Giai
đoạn thứ nhất, tâm sở vẫn chưa đạt đến thuyết minh
về phân loại, như trong bảy bộ luận văn ba-li chẳng hạn.
Trong các A-tỳ-đàm văn Ba-li, tâm-lý-luận tuycũng đã phát
đạt rõ rệt, như Pháp-tập-luận mà có người dịch là:
“Buddhist Psychological Ethics” (1), nhưng vẫn chưa đặt ra số
mục của Tâm-sở, cho nên trên tính chất, vẫn chưa tính đến
sự thuyết minh về phân loại. Đứng về phương diện Hán
dịch mà nhận xét, thì như Xá-lợi-phất-A-tỳ-đàm-luận
và bảy bộ luận của Hữu-Bộ, trong đó trừ hai bộ Phẩm-loại-túc-luận
và Giới-thân-túc-luận của Thế-Hữu – khai triển về tâm
sở một cách phức tạp – ra, còn tất cả, trên đại thể,
tôi cho vẫn thuộc giai đoạn thứ nhất này.
Giai
đoạn thứ hai là giai đoạn sau khi tâm-sở-luận đã tiến
đến chỗ trở thành một đề mục độc lập thật sự. Đứng
về phương diện văn Ba-li mà nhận xét, thì như A-nâu-lâu-đà-A-tỳ-đạt-ma-pháp-yếu-luận
chính là giai đoạn này. Về phương diện Hán dịch thì từ
Phẩm-loại-túc-luận đến các luận thư như Đại-tỳ-bà-sa-luận,
Tạp-a-tỳ-đàm-tâm-luận, Câu-xá-luận, Chính-lý-luận và
Hiển-tôn-luận, v.v… cũng thuộc giai đoạn này. Nếu nói
một cách đơn giản và khái quát thì lấy Đại-tỳ-bà-sa-luận
(trong đó Phẩm loại và Giới thân) làm cơ sở, rồi lại
cần phải chia ra giai đoạn trước, giai đoạn sau để quan
sát. Song, có điều nên chú ý là, cái phương pháp tiện lợi
hơn cả là dựa theo sự nghiên cứu lịch sử phát đạt của
cách phân loại, vậy không nên cố chấp thái quá. Tại sao?
Vì số luận thư còn lưu truyền đến nay quyết phông thể
đại biểu cho tư tưởng của tất cả bộ phái. Ngoài ra cũng
có nhiều luận thư không cón truyền lại, nhưng trong đó cũng
khai triển nhiều đặc sắc về tâm-lý-luận và đại biểu
cho nhiều phái (như Thượng-tọa-bộ-chánh-thống, Đại-chúng-bộ,
Kinh-bộ và Độc-tử-bộ, v.v…). Tựu trung, sau khi các bộ
phái hưng khởi đã phát sinh nhiều ý kiến liên quan đến
tác dụng của tâm, tức bản chất của tâm và tâm sở.
(1)
Mrs. Rhys david; A Buddhist Manual of Paychological Ethics, Lodon, 1900.
Trên
bề mặt, tuy nói là vô ngã nhưng thật thì đã ngầm khai triển
một loại tư tưởng hữu ngã: đây là một sự thật rất
là trong tâm-lý-luận và cần đặt biệt lưu ý. Cái tướng
đặc trưng của sự phát triển tâm-lý-học bên Tây phương
là từ tư tưởng hữu ngã chuyển hướng tới tư tưởng vô
ngã, Như trong Phật giáo – ít ra là Đại Thừa Duy-Thức-Luận
làm tiêu chuẩn – tình hình lại khác, tức là di chuyển về
khuynh hướng hữu ngã được coi như một bước tiến triển.
Nhưng tu tưởng này chỉ được lưu truyền một cách rải
rác, ngoài những luận thư thuộc Đại thừa luận hệ, còn
trong luận thư của Tiểu thừa A-tỳ-đạt-ma, tuyệt nhiên
nó không được lưu truyền một cách có hệ thống. Do đó,
nếu chỉ căn cứ vào những luận thư của Nam-Bắc-Thượng-Tọa-Hệ
còn truyền lại mà tìmhiểu sự phát triển của tâm-lý-luận
của Phật giáo, thì không thể hiểu rõ toàn thể tâm-lý-học
sử của Phật giáo. Bởi thế, muốn hiểu rõ tâm lý sử Phật
giáo, dĩ nhiên căn cứ vào các luận thư còn lại hiện nay
là trọng yếu, nhưng cũng cần phải tham khảo tư tưởng của
các bộ phái nữa. Về phương diện này, trước hết lấy
A-Hàm làm điểm xuất phát, rồi tiến đến các bộ phái thì
bắt đầu căn bản Thượng-Tọa-Bộ được truyền ở Tích
Lan; thứ đến, một mặt nghiên cứu tư tưởng của Đại-chúng-bộ,
mặt khác, kiểm thảo tư tưởng của Hữu-Bộ, tiếp theo là
tìm hiểu tam luận của Độc-tử-bộ, Kinh-bộ và cuối cùng
tiến đến Duy-thức Phật giáo. Về tài liệu phương pháp
trên đây thì có Luận Sự của Nam phương, còn Bắc phương
thì không ngoài các tài liệu rải rác trong Thành-thật-luận,
Tam-di-để-bộ-luận, Bà-sa-luận, Câu-xá-luận, Chính-lý-luận,
Hiển-tôn-luận, Tôn-luân-luận, Du-dà-sư-địa-luận và cuối
cùng là Duy-thức-luận.
Như
vậy, căn cứ vào những luận thư, tư tưởng của các bộ
phái, thu tập những đặc trưng của cả hai – như sự bất
đồng về số mục của tâm sở, về phương pháp phân loại,
về phương pháp thuyết minh, cho đến về phương pháp tâm
thể - để hiểu rõ sự khai triển của tam lý luận: đó là
phương pháp nghiên cứu về lịch sử tâm lý của Phật giáo.
4-
Thứ đến vấn đề được nêu lên ở đây là: Tâm-lý-luận
của Phật giáo như thế nào? Đó là nguyên nhân đã phát sinh
nhiều nghị luận giữa các bộ phái. Thứ nhất, về bản
chất của tâm, các bộ phái đều cùng bài xích linh hồn cố
định của tự ngã, về điểm này tuy nhất trí, nhưng về
cái trạng thái luân hồi chủ thể thì nên thừa nhận nghiệp
lực chỉ trì hay không thừa nhận? Đó là vấn đề giữa
các bộ phái có rất nhiều ý kiến bất đồng. Lại nữa,
về thức, tức chủ thể của nhận thức, hoặc là cơ quan
chủ yếu, tuy lập thành sáu thức, nhưng trong sáu thức đó
mỗi mỗi đều riêng biệt, tức độc lập, hay chỉ là những
tác dụng khác nhau của một thức duy nhất? Đây là vấn đề
đã nảy sinh ra nhiều biện luận về sáu thức là một hay
khác nhau. Lại nữa, đặc trưng của tâm-lý-luận Phật giáo
là tâm sở (những tác dụng của tâm), vậy tâm sở và thức
tâm vương là tác dụng riêng biệt hay là những tác dụng
của chính tâm vương? Đó cũng là nguyên nhân đã đưa đến
nhiều nghị luận giữa học phái và học giả. Thứ hai, về
căn kiến, thức kiến, hoặc về sự quan hệ giữa căn, cảnh,
thức hòa hợp với xúc, cũng có nhiều tranh luận, nếu phải
nêu ra con số thì ta thấy rất nhiều vấn đề. Do những ý
kiến bất đồng với sự tiến bộ về tư tưởng, cho nên
về tâm-lý-luận cũng phát sinh nhiều ý kiến mới, khiến
cho tâm-lý-luận Phật giáo biểu hiện một cách rất rực
rỡ.
5-
Sau hết, nếu nghiên cứu một cách thật tinh tế thì tâm-lý-luận
của Phật giáo sẽ tiến thành một đề mục luận cứu cực
kỳ phức tạp, cho nên, nếu tổ chức nó một cách hoàn chỉnh
sẽ là một việc vô cùng rất khó khăn. Như đã nói ở trên,
dõi theo dấu vết khai triển về lịch sử dĩ nhiên là đề
mục trọng đại, nhưng khốn nỗi cái thứ tự đó không được
rõ ràng, cho nên, nếu quá thiên trọng về kết quà lịch sử
thì e rằng khó mà đạt được tổ chức thống nhất về
tâm-lý-luận. Có người cho rằng, tâm-lý-luận của A-Hàm
bộ và tâm-lý-luận của A-tỳ-đạt-ma cũng giống như tâm-lý-luận
trong Dị-lan-đà-vương-vấn kinh. Nói thế tuy không sai, nhưng
thật thì xét đó do kết quả của sự thiếu thốn về tài
liệu Hán dịch, vả lại, cái thứ tự triển khai của nó
cũng không mấy rõ ràng. Người Tây phương coi trọng Di-lan-đà-vương-vấn-kính,
muốn cho đó là một giai đoạn triển khai về giáo lý Phật
giáo; có người đặt triết học trong Di-lan-đà-vương-vấn-kinh
ở giai đoạn sau cùng chính đã xuất phát từ nhận xét trên
đây, nhưng làm như thế không được xác đáng. Dĩ nhiên,
Di-lan-đà-vương-vấn-kinh là một bộ luận thư trác việt,
nhưng tư tưởng trong đó chẳng qua là phu diễn cái tư tưởng
của Thượng-Tọa-Bộ-Hệ được truyền ở Tích Lan chứ không
bao hàm một triết học đặc thù nào.
Tóm
lại, đứng về phương diện lịch sử tuy là một việc tất
yếu, nhưng nếu chỉ căn cứ vào một bột luận thư nhất
định nào làm cơ sở để khảo sát, thì kết quả của sự
khảo sát ấy kém phần thú vị: điều này cứ xem những thể
thức được trình bày ở các đoạn trên cũng đủ rõ. Bởi
thế, ở đây dĩ nhiên lấy A-tỳ-đạt-ma luận thư làm tài
liệu trung tâm – chúng tôi sẽ đem chia những tư tưởng tiến
bộ nhất thành nhiều đề mục, rồi trong mỗi đề mục,
một mặt thuyết minh quá trình phát đạt của nó đến đâu,
một mặt đề ra một quy mô kết luận tối hậu. Nhờ thế,
về phương diện động, có thể tìm ra cái dấu vết khai triển
lịch sử, đồng thời, về phương diện tĩnh, có thể nhận
ra cái tư tưởng thống hợp.
Song,
nên chia tâm-lý-luận của Phật giáo những tiết mục như
thế nào? Về vấn đề này, tuy có nhiều phương pháp phân
loại, nhưng ở đây chúng tôi tưởng chỉ nênchia thành ba
chương đưới đây để luận cứu: đó là Tâm-thể-luận,
Các vấn đề tướng trạng của tâm và Nhất-ban-tâm-lý-tác-dụng-luận.
Những
sách tham khảo:
a)
Mrs. Rhys Davids; Buddhist Psychology (An Inquiry into The Analysis and
Theory of Mind in Pali Literature) London 1914.
b)
Dr. Wolfgang: Die Pschology und Ethik des Buddismus Bohn (Muichon 1921)
c)
Quốc-Huệ-Thăng; Nghiên Cứu Tâm Lý Phật Giáo (Đại-chính
năm thứ 5, Đông Kinh, Bính Ngọ). Bộ sách này tuy không có
gì đặc sắc, nhưng về phương diện tài liệu,nó cũng có
chút giá trị tham khảo.
d)
Mộc-Thôn-Thái-Hiền; Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận,
thiên thứ 2, từ chương 2 đến chương 4, nhất là phần tâm-lý-luận
ở chương 3.
e)
Chại-mõ-tư; Pschology, và U-án-đóc; Grudriss de Pschologie.
Hai bộ sách này đã được coi là cần thiết cho sự nghiên
cứu tâm lý học. Chính chúng tôi cùng đã tham khào qua.
Chú
ý:
Từ
đây trở đi, phần chú thích được ghi ở cuối mỗi mục
hoặc ở cuối mỗi tiết (lời người dịch).
CHƯƠNG
I
TÂM-THẾ-LUẬN
Tiết
thứ nhất.
TỔNG
THUYẾT
Ở
đây nói tâm-thể-luận là muốn tạm coi cái tâm như một
thể thống nhất hay một cơ quan thống nhất, từ đó mà tất
cả tác dụng tâm lý của chúng ta phát khởi, để tìm hiều
xem tất kính nó là cái gì. Đặc chất của tâm lý Phật giáo,
trước sau tuy vẫn coi tâm là quá trình của những tác dụng,
nhưng đến A-tỳ-đạt-ma thì không những đã phát sinh một
loại thuyết minh về chủ thể mà trong đó còn chứa đựng
cả một loại khảo sát có tính cách hình-nhi-thượng-học
khi luận về bản tính của tâm là tịnh hay bất tịnh nữa.
Vậy, ở đây nói tâm-thể-luận là muốn lấy những điểm
đó để nói rõ cái quan niệm về tâm.
Tiết
thứ hai.
TÂM-THỂ-LUẬN.
1-
TÂM-THỂ-LUẬN CỦA CÁC HỌC-PHÁI Ở THỜI ĐẠI DỨC PHẬT.
Nhìn
vào sự khảo sát ở thời đại đức Phật về vấn đề
này trên đại thể, tựa hồ chia làm hai đường: 1) Cho tâm
thể là một linh hồn thường còn bất biến, đó là chủ
trương của những nhà được mệnh danh là “Ngã-luận-giả”.
Tức cũng như U-ân-đốc gọi là Tâm-lý-học-duy-tâm. 2) Cho
tác dụng của tâm rốt cục do vật chất hòa hợp mà có,
ngoài tác dụng vật chất không có cái gì tồn tại cả. Đó
là tâm lý học duy vật do các nhà duy vật luận đương thời
chủ trương. Đối với hai chủ trương đó tâm-lý-quan của
đức Phật như thế nào? Nói một cách đại thể thì tâm
lý quan của Phật theo thuyết trung đạo. Thái độ của đức
Phật là: một mặt bài xích linh hồn luận và duy vật luận,
đồng thời mặt khác lại muốn điều hòa cả hai. Nếu bảo
chủ thể của con người là thường còn bất biến, rồi lập
nên một linh hồn cố định là một loại nê tín, không phù
hợp với cách quan sát như thực-tri-kiến. Tại sao vậy? Vì
tự xét tâm người ta cứ niệm niệm sinh diệt, không một
khắc nào dừng nghỉ, trong đó ta không thể tìm thấy một
cái gì là yếu tố cố định cả. Đó là một đặc chất
về vô ngã luận của Phật giáo, và là một sự phản kháng
đối với triết học Áo-nghĩa-thư-hệ, hay triết học vũ-trụ-linh-thần-chủ-nghĩa
của đương thời. Song đồng thời, đối với duy vật luận,
có lẽ đức Phật còn công kích mạnh mẽ hơn cả đối với
hữu ngã luận. Theo chỗ tôi tận lực nghiên cứu thì đức
Phật không phải chỉ đứng trên lập trường thuần túy tâm
lý luận mà bài xích, nhưng trong đó còn có bao hàm cả luân-lý-luận
để nói rõ sự phi lý của thuyết đó. nếu phải trưng ra
những thí dụ thì thật không thể kể hết. Đứng trên lập
trường tâm lý luận mà nói thì những nhà duy vật là phi
lý, bởi lẽ muốn từ cái không (vật vô tâm) mà đưa ra cái
có (ý thức), cho nên phải lấy thuyết nhân duyên làm căn
cứ để công kích. Như vậy, đồng thời với sự bài xích
“lưỡng biên” (hai cực đoan), theo một ý nghĩa nào đó,
đức Phật lại điều hòa cả hai mà chủ trương thuyết trung
đạo. Theo Phật thì hoạt động tâm lý của người ta được
thành lập nhiều yếu tố, và bởi những quan hệ giữa các
yếu tố chằng chịt đó, chứ quyết không phải chỉ y tồn
vào vật chất hoặc dựa vào tâm thể. Nếu bao quát lại thì
hoặc gọi là “thức” nhưng thức đó quyết không phải
phát xuất từ một yếu tố. Trong các yếu tố ấy, nếu đứng
trên lập trường hoạt động hiện thực mà nhận xét, thì
cả yếu tố tâm và yếu tố vật, và được xây dựng trên
mối quan hệ hỗ tương bất ly. Đối với sự dị, đồng
giữa tâm và vật, đức Phật không gỉi đáp. Nếu phải nói
rõ tình hình đó thì đại khái yếu tố tâm và vật có thể
nói đứng trên quan hệ “không phải một cũng không phải
khác” (tức quan hệ nhất như) để trình hiện những hoạt
động tâm lý. Theo Phật thì những yếu tố đó không phải
cố định, do sự bất đồng về quan hệ mà có nhiều biến
hóa. Cho nên, cái gọi là tâm chẳng qua chỉ cái quá trình
hoạt động của tâm mà thôi.
2-
TÂM-THỂ-LUẬN CỦA PHẬT-GIÁO NGUYÊN THỦY.
Như
thế là đối với tâm-lý-quan, đức Phật đại ước đã
có mấy điểm chủ yếu sau đây: 1) bài xích quan niệm cố
định từ trước; 2) cho hoạt động của tâm là tác dụng
phức hợp; 3) cho tác dụng sinh lý không phải một cũng không
phải khác (tâm vật bình-đẳng-luận); 4) coi tâm là quá trình
lưu động. Nhìn vào mấy điểm trên đây, ta nhận thấy tâm-lý-quan
của đức Phật vô cùng phù hợp với tâm-lý-học tiến bộ
nhất cận đại (Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Trang
144).
Do
đó, nếu phân tích yếu tố tâm để hiểu rõ tình hình hoạt
động của nó, thì trong tâm-lý-học Phật giáo lẽ ra không
có vấn đề hình-nhi-thượng-học đối với bản chất của
tâm. Thế nhưng, trên đại thể, tâm-lý-học Phật giáo lại
nghiêng về phương hướng ấy và rất tiến bộ nữa, vì thế
mà phát sinh cái gọi là Tâm-sở-luận. Duy có điều cần lưu
ý là sự khảo sát về tâm lý của Phật giáo không phải
chỉ ngừng ở hoạt động của tâm lý trong hiện tại, mà
trên quan hệ với luân-hồi-luận, còn tiến tới cả quá khứ
và vị lai nữa. Đồng thời, nên quan hệ thế-giới-quan, không
phải giới hạn ở nhân gian mà còn khảo sát cả hoạt động
tâm lý ở hai cõi trên là Sắc giới và Vô sắc giới.
Phật
giáo tuy chủ trương vô ngã luận nhưng lại nói đến luân
hồi, cho nên, chủ thể của luân hồi là gì cũng đã trở
thành một luận để tất nhiên phải được thuyết minh. Nếu
chiếu theo kinh điển nguyên thủy thì những câu như: “có
nghiệp báo không có tác giả, ấm này (ngũ ấm) diệt rồi,
ấm khác tương tục” (Tạp-Hàm quyển 13, Kinh 335, Đại-chính,
2, trang 92, hạ) chính là giải thích vấn đề này. Đương
nhiên, lời giải thích ấy cực sâu xa, cho nên ý nghĩa thật
của nó thế nào không dễ gì người thường hiểu được.
Ngay từ thời đại đức Phật điều này là đã là trung tâm
của tâm, cho nên mới có ý đồ tìm cầu chủ thể của luân
hồi. Chẳng hạn như con của một ông già đánh cá là Chà-đế
tỷ khưu, chủ trương rằng sau khi chết, thức vẫn tương
tục không biến hóa (Trung-A-Hàm, quyển 45, Kinh 201, Chà-đế-kinh),
chính là cái đó. Đứng trên lập trường của Phật mà nói
thì nhận xét đó rất sai lầm, cho nên Phật đã đặc biệt
giải thích cho Chà-đế hiểu rõ thức cũng là duyên sinh (sản
vật quan hệ) để ông này khỏi ngộ nhận. Nhưng trong hàng
ngũ đệ tử Phật, kiến giải này cũng ngầm ngầm lưu hành:
điểu đó ta có thể dể tưởng thấy. Thêm vào đấy, đức
Phật theo một ý nghĩa nào đó, thừa nhận vô ý thức là
một yếu tố của tâm. Đó là quan niệm về vô minh và nghiệp
mà không ai là không biết, và bất đối với tâm lý quan hay
sinh mệnh quan của Phật giáo, đều là những yếu tố rất
trọng yếu. Vô minh, như người ta giải thích, gần giống
như cái mà Tiêu-bái-ân-hào-uy-nhĩ gọi là “ý chí mù quáng”.
Còn nghiệp có thể nói là tính cách (hay khí chất) của vô
ý thức. Phật giáo cho đó là căn cứ tồn tại và luân hồi
của người ta, điều này tưởng không cần lập lại.
Như
vậy, tâm-lý-quan của Phật chỉ nhận quá trình hoạt động
tâm lý kinh nghiệm, chứ không thừa nhận có cái gì làm căn
để cho nó cả.
3-
TỪ VÔ-NGÃ-LUẬN ĐẾN HỮU-NGÃ-LUẬN.
Như
vậy, dựa vào bối cảnh của tâm lý học trên đây trong Phật
giáo nguyên thủy để khai triển và tổ chức nó, nên phải
giải thích như thế nào cho được xác định? Đây là đề
mục tâm lý của thời đại bộ phái Phật giáo (A-tỳ-đạt-ma).
Nhìn vào các bộ phái chủ yếu thì phái tích Lan thuộc Thượng-Tọa-Bộ
chính thống, hay Thuyết-nhất-thiết-hữu-bộ, v.v… thủy chung
vẫn chủ trương vô-ngã-luận. Tuy muốn duy trì chủ trương
quán thông ấy, nhưng trong đám mạt-lưu - những người chủ
trương một thứ Hữu-ngã-luận, hơn thế nữa, có thê nó
là sinh cơ chủ nghĩa – cũng đã nảy sinh nhiều ý kiến.
Thượng-Tọa-Bộ, đối kháng lại Quan-niệm-luận của Đại-chúng-bộ
là một học phái trước sau vẫn tôn trọng sự thực. Nhưng
vì nhấn mạnh sự giải quyết vấn đề luân hồi, cũng đã
dần dần có ý kiến khuynh hướng hữu-ngã-luận. Đó là lẽ
tự nhiên. Còn về phía Đại-chúng-bộ thì học phong của
bộ này là quan niện luận. Nếu đúng thì chủ trương của
Đại-chúng-bộ là đề cao tư tưởng “không”, cho nên dĩ
nhiên là tiến tới khuynh hướng phản đối hữu-ngã-luận.
Nhưng trong khi tiến hành theo hướng ấy, cũng lại đã
phát sinh một sinh cơ chủ nghĩa tương tự như thuyết hữu
ngã.
Thế
là, do sự phát triển không ngừng trong giáo học của Tiểu
thừa Phật giáo, vấn đề bản chất của tâm, tức vấn đề
sinh mệnh, đã dần dần trở thành sôi nổi, và về giáo lý
sử là vấn đề rất hiển trứ: đó là một sự thật không
thể chối cãi.
Xem
trong bộ tam-di-để-bộ-luận (thất dịch, phụ tần lục)
do Chính-lượng-bộ lưu truyền, thì giữa các phái (?) thời
bấy giờ có những ý kiến bất đồng sau đây: 1) Dĩ nhiên
là vô ngã luận; 2) không thể nói hữu ngã; 3) cũng không thể
bảo vô ngã luận; 4) Tức ngũ uẩn luận; 5) người và năm
uẩn khác nhau; 6) thuyết cho người là thường; 7) thuyết cho
người là vô thường (Tam-di-để-bộ-luận, quyể thượng,
Đại-chính, 32, trang 462, trung – 464, thượng). Tựu trung, thuyết
thứ 3 là lập luận ngã, có hay không; thứ 6 và 7 là lập
luận tâm, là thường hay vô thường, do đó tuy nói là bảy
loại, nhưng chưa hẳn đã là bảy lập luận khác nhau.
Tóm
lại, về chủ thể của tâm thì “ý kiến của các bậc thầy
ngày trước (tiên sư) cũng trái ngược nhau” (Đại-chính,
32, trang 462, trung). Điểm này rất tương tự như điều được
giới thiệu trong Phá-ngã-phẩm của Câu-xá-luận và sự quan
hệ giữa chúng cần được nghiên cứu (1).
Như
vậy, lập trường của Phật giáo, dù nói cách nào đi nữa
cũng là vô-ngã-luận mà nội dung của nó được chia thành
hai loại hữu-ngã-luận và vô-ngã-luận như trên, nhưng bất
luận loại nào, đều được coi là đúng với chân lý của
Phật.
CHÚ
THÍCH:
(1)
Ngoài ra, trong thánh-duy-thức-luận, quyển 1 (Đại-chính, 31,trang
1, trung, hạ) nêu lên những thuyết hữu ngã sau đây để bài
xích:
1-Thuyết
coingã là biền tại; 2-Thuyết coi ngã là co, răn; 3-Thuyết
cho ngã là nhỏ nhiệm.
Lại
bác bỏ cả ba thuyết hữu ngã sau đây:
1-Tức-uẩn-ngã;
2-Ly-uẩn-ngã; 3-Phi-tức-phi-ly-uẩn-ngã.
4-
VÔ-NGÃ-LUẬN-CƠ-GIỚI.
Theo
lập trường vô-ngã-luận cơ giới thì các luận sư A-tỳ-đạt-ma
giải thích tâm như thế nào? Vấn đề này cũng không ngoài
việc thừa kế lập trường biểu hiện của Phật giáo nguyên
thủy, tức là dùng lý nhân duyên để luận chứng. Nghĩa là
cái tâm của chúng ta rốt cục cũng chỉ là xây dựng trên
những mối quan hệ hiện tượng tâm. Các luận sư của A-tỳ-đạt-ma,
khi muốn chứng minh điều này, đã tận lực dựa vào giáo
chứng, tức là trích dẫn những lời Phật dạy để chứng
minh rằng chủ trương vô ngã mới là chân lý của Phật. Đức
Phật căn cứ vào tâm lý để nói lý vô ngã, có khi giải
phẩu những yếu tố cấu thành tâm nói là tĩnh, có khi nói
về tình hình hoạt động của tâm mà nói là động. Mà những
yếu tố cấu thành tâm đó tức là năm uẩn sắc, thụ, tưởng,
hành và thức. Sự hoạt động tâm lý của người ta không
ngoài sự kết hợp của năm yếu tố này. Theo ý nghĩa ấy,
nói tâm hay ngã, khi những yếu tố tụ tập thì thành cỗ
xe, nhưng khi chúng li tán thì rốt cuộc cỗ xe cũng không còn,
đây là một thí dụ nổi tiếng của Thi-la-tỉ-khưu-mi (1)
mà các luận sư A-tỳ-đạt-ma cũng thường trích dẫn để
thuyết minh.
Quá
trình hoạt động là do cảm giác chuyển di sang quá trình hiện
tượng tâm lý phức tạp. Sau đây xin trích dẫn mấy câu kinh
làm đại biểu.
“NHãn
sắc duyên sinh nhãn thức, ba sự hòa hợp sinh xúc, xúc sinh
thụ, tưởng, tư bốn vô sắc ấm. Những pháp nhãn (căn) sắc
ấy gọi là người. Dựa vào những pháp ấy mà tưởng có
người, chúng sinh, na la, ma nâu xà (ý sinh), ma-na-bà (nho đồng),
sĩ-phu-thúc-già-la (dưỡng giả?), kỳ-bà (mệnh), thiền-đầu
(sinh giả)…” (Tạp-A-Hàm quyển 13. Đại-chính, trang 287,
hạ; Câu-xá, quyển 29).
Như
vậy, về phương diện vô-ngã-luận trước sau coi tâm là hiện
tượng, là vì muốn thấy rõ chân tướng của tâm đó nên
đặc biệt thuyết minh những yếu tố cấu thành hiện tượng
của nó và mối quan hệ giữa các yếu tố ấy. Chẳng hạn
như sự phân tích rất phức tạp về tâm sở, những nhân
duyên (điều kiện) luận quy định sự sinh khởi của tâm,
cho đến tương ưng luận nói rõ sự câu khởi hay kế khởi
của những tác dụng tâm, tất cả đều đã do kết quả đó
mà phát sinh. Nhiệm vụ của vị A-tỳ-đạt-ma luận sư đối
với tâm lý học chính là đem phân tích những tác dụng của
tâm một cách nhỏ nhiệm, rồi lại thuyết minh những mối
tương quan chằng chịt đó một cách máy móc, và do đó đã
sản sinh ra tâm-lý-luận phức tạp của Hữu-Bộ, hay Thượng-tọa-Bộ
thuộc Tích Lan hệ.
Ngoài
ra cũng có nhiều kinh thuyết chứng minh vô ngã luận, và đó
là căn cứ của chủ trương vô ngã của các A-tỳ-đạt-ma
luận sư. Các luận sư chủ trương vô ngã chỉ đứng về
phương diện tiêu cực để tận lực đả phá hữu-ngã-luận,
chứ đối với luận vô ngã thì trái lại không thấy sốt
sắng. Như Thượng-Tọa-Bộ ở Tích Lan, trong Luận Sự, tuy
bài xích thuyết hữu ngã của Độc-tử-bộ và Kinh-lượng-bộ
nhưng phần thuyết minh tích cực thì không được tường tận.
Thế Thân trong luận Câu Xá, phẩm Phá-ngã, tuy cực lực đả
phá hữu-ngã-luận của Độc-tử-bộ, nhưng về phương diện
lý luận, lại không đưa ra căn cứ chủ trương của chính
mình, đại khái cũng thuộc về loại này.
Tóm
lại, vô-ngã-luận là chỗ lập cước căn bản của Phật
giáo, chỉ cần có tư tưởng đả phá khuynh hướng hữu ngã
là tự nhiên đều phù hợp với chân ý của Phật. Song, đồng
thời, đối với vô-ngã-luận mà nạn vấn – có lẽ là văn
hiến của hậu thế - cũng không phải ít. Cho nên, cái nhiệm
vụ của các bậc A-tỳ-đạt-ma luận sư là cần phải giải
đáp điều đó để phát huy chân ý của nó: đó là điểm
chúng ta không thể bỏ qua. Mà cái gọi là lý chứng của vô-ngã-luận,
chủ yếu phần lớn được biểu hiện ở giai đoạn này,
ở đây, chúng tôi tưởng nên nói một cách nhất ban về điểm
này - sẽ dựa vào tài liệu phong phú nhất là phẩm phá-ngã
trong Câu-xá-luận để nhận xét của Hữu-Bộ ra sao.
Cái
đối tượng chủ yếu để đả phá trong Phá-ngã-phẩm là
luận của Độc-tử-bộ trong Phật giáo, ngã luận của Văn-điển-phái
và Thắng-luận-phái của ngoại đạo. Đồng thời, từ vô-ngã-luận
tất nhiên cũng phát sinh nhiều vấn đề nan giải (nạn vấn)
mà chủ yếu là: nếu không có ta (ngã) thì: (1) thì ai lưu
chuyển trong vòng sinh tử? (2) Ký-ức-sinh-khởi cách nào (đây
là nghi vấn của Độc-tử-bộ (2)? (3) Chủ-thế của nhận
thức ra sao? (4) Làm thế nào để trì tục tự ngã (đây là
vấn đề chủ yếu của Văn-điển-phái)? (5) Tại sao con người
tạo nghiệp? Ai tạo nghiệp, ai chịu báo (đây là nghi vấn
của Thắng-luận-phái)? Luận chủ Thế Thân tuy chia ra ba phái
để giải đáp các nghi vấn của họ, nhưng bất luận thuộc
phái nào, các nghi vấn đó cũng đại đồng tiểu dị, nhờ
lý do nhất quán ấy mà có thể giải đáp được tất cả.
Theo
luận chủ, mặc dầu nhận thức của người ta lấy phương
pháp “biết” giả định tự ngã nhưng cũng có thể thuyết
minh sự cấu tạo của nó. Vì cái gọi là nhận thức rốt
cục không ngoài những tác dụng nhân duyên, khi căn cảnh hòa
hợp thì một ý nghĩ về cảnh tưởng (biểu tượng) đó nổi
dậy ấy là nhận thức mà trong đó không cần phải lập một
phương pháp biết cố định (tức tác dụng nhận thức hoàn
toàn là một quá trình tâm lý). Bởi thế, dĩ nhiên nhận thức
cũng niệm niệm sinh diệt, tương tự tương tục từng sát
na, cũng gọi là tâm, cũng gọi là thức. Sự trì trì tục
của nó, dầu có nhận thấy ở ý thức chăng nữa cũng không
ngoài sự tương tục này. Mà trong sự tương tục ấy, niệm
trước, niệm sau chưa hẳn là đồng nhất. Nói một cách nhất
ban, tác dụng của tướng hữu vi tuy có dị tướng, nhưng
đặc biệt tướng tâm khởi tác dụng, tức tác dụng liên
tưởng, khởi liên tục từ A đến B, từ B đến C (Phá-ngã-phẩm,
171-175, trả lời các nhà Ngữ-điển-phái). Thế là luận chủ
đã giải đáp xong nạn vấn của Ngữ-điển-phái.
Lý
do trên đây cũng có thể ứng dụng đề thuyết minh về phương
pháp ký ức (3). Các nhà hữu-ngã-luận nói: “Nếu không có
cái “ta” thì chủ thể của ký ức, nhất là ý thức, nếu
niệm niệm sinh diệt thì làm thế nào có thể ghi nhớ hay
nhận thức lại những sự việc đã kinh nghiệm?” Vấn đề
phi nan không đáng kể! Trong quá trình tâm lý của ta, ký ức
là tác dụng nhớ nghĩ, khi có khuynh hướng chú ý đến kinh
nghiệm từ trước, hoặc khi gặp sự việc có liên lạc với
kinh nghiệm quá khứ, nhờ ở tác dụng tương sinh mà biểu
tượng gần như tương đồng với kinh nghiệm trước lại
hiện ra trong ý thức. Cái gọi là ký ức không ngoài ý nghĩa
trên đây (4). Tâm tuy niệm niệm sinh diệt nhưng giữa kinh
nghiệm ở niệm trước và kinh nghiệm ở niệm sau có sự
liên lạc nhất định, cho nên, trong sự sinh diệt ấy có mối
liên tục bất tuyệt, niệm trước quy định niệm sau, niệm
sau lấy niệm trước làm duyên để sinh khởi, cứ thế tương
tục bất tuyệt (5) (Câu-xá-luận quyển 30).
Sau
hết, nếu lại ứng dụng lý do này vào ba đời (quá khứ,
hiện tại, vị lai), thì đối với các nghi vấn như chủ thể
của luân hồi là gì? Tại sao nghiệp và sự quan hệ giữa
người tạo nghiệp và ngưới chịu báo ra sao? Cũng có thể
giải quyết được. Theo luận chủ thì cái gọi là luân hồi,
mà đó chẳng qua là sự tương tục biến thiên của hoạt
động sinh mệnh. “Như ngọn lửa cháy tuy sinh diệt trong sát
na, nhưng do sự tương tục mà nói có lưu chuyển. Cũng thế,
do sự tu tập của các uẩn mà giả nói có hữu tình, ái thủ
làm duyên cho sinh tử lưu chuyển”. Đó là sự giải thích
chính xác của chính luận chủ (Câu-xá-luận, quyển 30).
Như
vậy, nếu đứng về phương diện phân tích những hiện tượng
tâm giống như sự quan sát của cơ giới luận mà nói thì
cách thuyết minh trên đây không cống hiến gì nhiều, đó
là một sự thật hiển nhiên. Theo một ý nghĩa nào đó có
thể nói tâm-lý-luận của Phật giáo thật đã do sự quan
sát này mà phát triển mạnh. Phân tích và quan sát sự thật
là một đặc trưng của Phật giáo nguyên thủy. Cách thuyết
minh của luận chủ trên đây, có thể nói, cũng gần với
học phong của Phật giáo nguyên thủy. Song nó cũng có điểm
tệ là muốn chạy theo hướng cớ giới giải phẩu khác để
thuyết minh, bởi lẽ đem ví cái thể tập hợp của tâm như
có một cổ xe. Đây là một thí dụ tầm thường, vì nếu
nói một cách nghiêm khắc và triệt để thì thí dụ đó không
thỏa đáng. Tại sao? Vì xe là một kết hợp vô cơ; phải
có bộ phận trước rồi sau mới cấu thành toàn thể; còn
trái lại tâm người ta là một kết hợp hữu cơ, bộ phận
và toàn thể không những không thể rời nhau, mà toàn thể
lại ở trước, bộ phận sau mới thích hợp với phương pháp
này. Thí dụ cỗ xe được các nhà chủ trương cơ giới vô
ngã luận ứng dụng rộng rãi, muốn đem cái tâm của người
ta giải thích như một sự kết hợp có tinh hợp với chân
tướng của sự thật. Hơn nữa, các nhà cơ giới vô ngã luận
đã không nói rõ cái nguyên động lực kết hợp bộ phận
thành toàn thể như thế nào? Rồi tiếp đến luân hồi luận,
sự thuyết minh của họ e vẫn có chỗ rất không triệt để.
Các nhà cơ giới vô ngã luận tuy bảo nghiệp là chất liệu,
là động lực; nhưng nghiệp chẳng qua chỉ là một bộ phận
trong năm uẩn; tức là “hành”, không thể kết hợp toàn
thể năm uẩn được. Như vậy, thuyết “ Ngũ uẩn giả hợp”
tuy được thừa nhận, nhưng về nghiệp thì tất lại phải
cho nó một ý nghĩa thật chất sâu xa hơn để không những
chỉ có ý nghĩa hiện tượng tâm lý ý thức mà phải bao hàm
một ý nghĩa sinh mệnh vô ý thức nữa mới mong thuyết minh
được vấn đề này. Chính vì thế mà trong Phật giáo giới
đã phát khởi một cuộc vận động đối chọi với các nhà
cơ giới vô-ngã-luận. Trong Tam-di-để-bộ-luận có nói đến
thuyết hữu ngã, và bất-khả-thuyết-hữu-ngã-vô-ngã-luận
chính là ý kiến do khuynh hướng trên đây mà phát sinh. Và
để tóm lại, ta tưởng ta có thể gọi là trào lưu sinh cơ
chủ nghĩa.
CHÚ
THÍCH:
(1)
Trong Tạp-A-Hàm quyển 45, Kinh 122 (Đại-chính, 2, trang 227, trung)
có Thi-la-tỷ-khưu-ni: trong luận Câu Xá, phẩm Phá Ngã có dẫn
tên Thế-la, bởi thế mà thí dụ cổ xe có trong Milindapànha.
(2)
Trong luận đại-tỳ-bà-sa, quyển 11, có chỗ đề cập đến
thuyết hữu ngã của Độc-tử-bộ. Tức: nếu không có Bổ-đặc-dà-la
(người), lại không có tâm trước nối tâm sau thì cái gì
nhớ lại những việc đã làm? Còn nói rộng hơn nữa. Hỏi:
tại sao luận này? Và muốn ngăn tô chỉ của kẻ khác để
làm sáng tỏ nghĩa lý của mình. Nghĩa là có kẻ chấp Bổ-đặc-dà-la
là thật có tự thể như Độc-tử-bộ chẳng hạn. Bô-do nói:
ta cho là có ngã, có thể nhớ những việc đã làm, tự mình
lĩnh nạp trước rồi tự nhớ lại. Nếu không có ta thì làm
sao nhớ được các việc đã làm? – Đại-chính, 27, trang
55, thượng.
(3)
Về ký ức, xin tham khảo Đại-tỳ-bà-sa-luận, quyển 11, 12
(Đại-chính, 27, trang 55, thượng, trong đó nói rất rõ ràng).
(4)
Câu-Xá quyển 13, phẩm Phá Ngã, nói: “Duyên tác ý tương
tự thuộc, tưởng không phải ý chí vào sai biệt, nhưng vì
các duyên lo âu, tán loạn làm tổn hoại công năng (đức)
nên khởitâm sai biệt”. Có thể thamchiếu ký-ức-luận của
Bergson.
(5)
Câu Xá quyển 30 nói: “Nhưng từ nghiệp tương tục, chuyển
biến mà sinh (các quả) sai biệt”. Thế nào là tương tục,
chuyển biến và sai biệt? Nghiệpvì sắc tâm nối nhau sinh
khởi, không có gián đoạn nên gọi là tương tục; tức sự
tương tục ấy cứ mỗi sát na sau khác với sát na trước
nên gọi là chuyển biến cuối cùng có công năng hơn sinh quả
không gián đoạn, hơn cả chuyển biến nên gọi sai biệt”.
Thuyết này luận chủ thu dụng và nói đó là ý kiến của
Kinh Bộ. Câu Xá quyển 20 cũng nói: “Kinh-bộ-sư nói như thế
này: quá khứ nghiệp có thể sinh quả hiện tại. Song nghiệp
trước dẫn tương tục, chuyển biến sai biệt khiến sinh quả
hiện tại. điểm này trong phần Phá Ngã sẽ nói rộng cho
rõ ràng thêm”.
5.
SINH CƠ HỮU NGÃ LUẬN
Trong
mười tám hoặc hai mươi bộ phái Tiểu thừa dĩ nhiên phần
lớn đều chủ trương vô ngã luận. Nhưng xét qua các ký tải,
trong số đó trên thực chất, những học phái chủ trương
gần như một thứ hữu ngã cũng không phải ít. Trong Thức-thân-túc-luận
của Đề-bà-thiết-ma có phẩm Bổ-đặc-già-la (quyển 2-3)
nêu ra những tranh luận của các Bổ-đặc-già-la luận sư
và Tính-không luận sư (1), Bổ-đặc-già-la luận sư tuy danh
phái không được rõ nhưng điều chắc chắn họ là những
Phật giáo đồ. Lại như trong Luận Sự của Nam phương, chương
mở đầu có bác Bổ-đặc-già-la-luận, và theo người chú
giải luận này thì đó là bác chủ trương của hai phái Độc-tử-bộ
(Vajjiput, Vatsiputiiya) và Chính-lượng-bộ. Lại nữa, taba căn
cứ theo Di-bộ-tôn-luân-luận thì Đại-chúng-bộ tuy có khuynh
hướng “không”, nhưng trong đám mạt-lưu lại bảo “tâm
biến khắp thân, tâm tùy y cảnh có thể được”, ý kiến
này hơi giống với ý kiến của Kỳ-na-giáo (và gọi đó là
căn bản thức được nói rõ trong Nhiết-đại-thừa-luận
và Thành-nghiệp-luận của Thế Thân) (2). Nhất là trong Thượng-Tọa-Bộ,
Độc-tử-bộ bảo đó là “Phi-tức-phi-ly-uẩn-ngã”; Kinh-lượng-bộ
(3) chia uẩn thành hai loại, gọi năm uẩn phổ thông là “Căn-biên-uẩn”,
lấy bốn uẩn làm thuộc tính gọi là “nhất-vị-uẩn”
(cũng gọi là tế-ý-thức), muốn lấy nhất-vị-uẩn làm chủ
thể của tâm. Lại chiếu theo Đại-thừa-thành-nghiệp-luận
của Thế Thân (Huyền Trang dịch, Đại-chính, 31, trang 785,
thượng; Nhiệp thành tựu luận, tỳ-mục-trí-tiên dịch, đời
Nguyên Ngụy, Đại-chính, 31 trang 780, thượng), thì trong các
kinh của Xích-đồng-diệp-bộ (Đồng-Diệp-Bộ) (4) bảo đó
là “Hữu-phận-thức”; trong các kinh của Đại-chúng-bộ
thì nói là “Căn bản thức; Hóa-địa-bộ (5) thì bảo là
“Cùng-sinh-tử-uẩn”. Thế là dù trong Tiểu thừa, chủ trương
thuyết A-lại-da-thức cũng đã ngấm ngầm được thừa nhận.
Tổng hợp tất cả những ký tải này lại (6) thì trong các
bộ phái, những bộ phái sau đây thuộc một loại hữu-ngã-phái:
1-Độc-tử-bộ, 2-Đại-chúng-bộ-mạt-lưu, 3-Chính-lượng-bộ,
4-Hóa-địa-bộ, 5-Kinh-lượng-bộ, 6-Xích-đồng-diệp-bộ)
một phái nhỏ ở Tích Lan), 7-Pháp-thượng-bộ, 8-Hiền-trụ-bộ,
9-Mật-lâm-sơn. Ở đây nếu kể cả Đại thừa thì Du-dà-phái,
tức Duy-thức-phái cũng được gia nhập. Có thể nói trong
Phật giáo đã hình thành một trào lưu rất lớn và rất mạnh.
Song,
những tư trào trên đây trở thành hiển trứ vào thời nào?
Phái nào là tiên phong? Đây là vấn đề không dễ gì hiểu
rõ được. Theo truyền thuyết thì Đề-bà-thiết-na là nhân
vật ra đời khoảng một trăm năm sau Phật nhập diệt, nếu
truyền thuyết đó đó thì sau Pháp diệt khoảng một trăm
năm đã có cái gọi là Bổ-đặc-già-la luận sư rồi. Nhưng
cho Bà-đề-thiết-ma, hay ít ra thức-thân-túc-luận, là nhân
hoặc sản phẩm khoảng trăm năm sau Phật nhập diệt thì không
thể thừa nhận được. Lại trong Luận Sư có bác hữu-ngã-luận
của Độc-tử-bộ và Chính-lượng-bộ, nếu cho Luận-sự
là sản phẩm thuộc thời đại A-dục-vương thì vào thời
đại đó (thế kỷ thứ ba trước Tây-lịch) thuyết hữu ngã
đã trở thành một trào lưu lớn rồi. Nhưng cũng có nghi vấn
là cao lẽ Luận-sự đã được chế tác theo thời đại A-Dục
(nếu nói theo những văn hiến chính xác nhất thì trong luận
Đại-tỳ-bà-sa đã có rất nhiều kỹ sư về hữu-ngã-luận,
mà Thức-thân-túc-luận cũng đã trích dẫn để giới thiệu
thuyết hữu ngã. Các bộ phái chủ trương hữu-ngã-luận như
Độc-tử-bộ, hoặc hủ trương cực vi, đồng thời. Lục-pháp-luận
chủ trương hữu đều bị phê bình.
Như
vậy, hiện nay người ta vẫn chưa được rõ niên đại đích
xác của thành lập thuyết hữu ngã, đây tuy là điều đáng
tiếc, nhưng bât luận thế nào, trên đại quan, tôi cho rằng
thời gian hai trăm năm sau Phật nhập diệt tựa hồ đã tập
thành nhiểu trào lưu lớn: tưởng điều này không sai lầm
mấy. Vì đến thời kỳ này, giáo đoàn Phật giáo đã chia
thành nhiều bộ phái, mỗi bộ phái đều chủ trương chủ
nghĩa giáo điều khác nhau, cho nên đối với vấn đề này,
không nhiều thì ít, tất nhiên là đã chú ý đến (nhưng cái
mầmmống của trào lưu tư tưởng này đã có ngay trong thời
đại đức Phật, đó là điểm chúng ta cần ghi nhận).
Song,
trong các bộ phái, bộ phái nào xưa nhất chủ trương sinh
cơ chủ nghĩa? Vấn đề này tuy không được rõ lắm, nhưng
trên đại thể, tôi thiết nghĩ cho đó là Độc-tử-bộ vì
hữu-ngã-luận của Độc-tử-bộ rất nổi tiếng trong các
phái, cho nên có thể coi sinh mệnh quan sinh cơ chủ nghĩa là
chủ trương hiển trứ của phái này.
Trong
Luận-sự bác bỏ thuyết Bổ-đặc-già-la, mà theo người chú
thích, chủ yếu cũng nhận vào phái này; rồi Đại-tỳ-bà-sa
luận trước sau vẫn bác thuyết hữu ngã của phái này, trong
Câu-xá-luận, phá-ngã-phẩm phái này cũng cái đích chủ yếu;
rồi đến Thức-thân-túc-luận nóiđến các nhà chủ trương
thuyết Bổ-đặc-già-la, tôi cho rằng cũng là ám chỉ phái
này. Do những sự công kích kịch liệt ấy, nên trong Phật
giáo, hễ nói đến thuyết hữu ngã thì trước hết thì người
ta cho ngay phái này là đại biểu. Mà phái này, theo lịch sử,
phân phái của Phật giáo, Dị-bộ-tôn-luân-luận xếp nó sau
Hữu-bộ, sự phân phái đầu tiên trong Thượng-Tọa-Bộ. Ngay
trong Nam phương cũng nói thế này:
Hóa-địa-bộ - Thuyết nhất-thiết-hữu-bộ
Thượng-Tọa-Bộ
Độc-tử-bộ
Xếp
Độc-tử-bộ ngang với Hóa-địa-bộ, như vậy, phái này thuộc
hàng xưa nhất. Lại truyện thứ hai trong Ba-ô-á thì truyền
thế này:
Thuyết-nhất-thiết-hữu-bộ
Thượng-Tọa-Bộ
Độc-tử-bộ
Tóm
lại, ngang hàng với Hữu-bộ thì Độc-tử-bộ hiển nhiên
là một phái được thành lập vào thời kỳ đầu, cho nên
trong các thuyết hữu ngã, tôi tưởng thuyết hữu ngã của
phái này cũng có thể coi là xưa nhất. Lại Hóa-địa-bộ,
vì lập “Cùng-sinh-tử-uẩn”, có địa vị ngang với Độc-tử-bộ,
nên cũng thành một phái chủ trương thuyết hữu ngã thuộc
thời kỳ đầu. Nhưng, theo Dị-bộ-tôn-luân-luận thì trong
Bản-tôn-đồng-nghĩa của Hóa-địa-bộ nói: “Quyết định
không một pháp nhỏ nào có thể từ đời trước chuyển đến
đời sau”, ngoài Thành-Nghiệp-Luận của Thế Thân ra không
đâu nói đến việc này, cho nên có lẽ thuyết “Cùng-sinh-tử-uẩn”
đã xuất hiện trong Hóa-địa-bộ muộn hơn nhiều. Còn những
thuyết hữu ngã của các bộ như Chính-lượng-bộ, Hiền-trụ-bộ,
Pháp-thượng-bộ, và Mật-lâm-sơn-bộ, v.v… chẳng qua cũng
là những thuyết được lập ra sau, bởi vì các bộ phái trên
đây đều là một phái của Độc-tử-bộ (thuyết hữu ngã
của Chính-lượng-bộ không những được người chú thích
Luận-sự truyền tụng, mà ngay trong Tam-di-để-bộ-luận cũng
có những câu tán thành thuyết hữu ngã, cứ xem thế cũng
hiểu rõ). Lại theo Thành-nghiệp-luận thì trong các kinh Đại-chúng-bộ
có danh từ “căn bản thức”. Xích-đồng-diệp-bộ lập
“Hữu phân thức”. Theo Tôn-luân-luận thì căn bản thức
của Đại-chúng-bộ vì thuộc hàng mạt-kế cho nên rất có
thể chịu ảnh hưởng hữu-ngã-luận của Thượng-Tọa-Bộ-hệ.
Theo truyện thứ hai (7) trong Ba-ô-á thì Xích-đồng-diệp-bộ
thuộc Phân-biệt-bộ, hữu-phân-thức của bộ này có lẻ
là một thuyết chiết-trung, bởi thế tôi cho rằng thuyết
đó cũng thuộc hàng thứ hai.
Như
vậy, đúc kết lại, ta có thể nói rằng, trong Phật giáo,
người đầu tiên chủ trương thuyết hữu ngã là Độc-tử-bộ.
Ngoài ra, còn một bộ nữa, mặc dầu được thành lập hơi
muộn, nhưng theo một ý nghĩa nào đó, trong lịch sử giáo
lý, so với Độc-tử-bộ vẫn có một ý nghĩa trong đại không
kém, đó là Kinh-lượng-bộ. Không còn nghi ngờ gì nữa, Kinh-lượng-bộ
do sự phân phái của Hữu-bộ mà ra. “Căn-bản-uẩn” của
bộ này là giáo lý được lập ra do kết quả của sự bất
mãn đối với vô ngã luận cơ giới của Hữu-bộ và cũng
là thuyết A-lại-da-thức sau này làm điểm khế cơ. Do đó
mà mãi đến Đại-tỳ-bà-sa luận trở về sau, trong các văn
kiện – tuy rải rác - thuyết của phái này mới được phê
bình, nhất là Câu-xá-luận, không những chỉ lấy tư tưởng
của Kinh-bộ để bổ cứu cho tôn nghĩa của Hữu-bộ mà còn
phê bình tôn nghĩa của Hữu-bộ cho nên tài liệu về phái
này rất dồi dào.
Trong
các học phái của Tiểu thừa, tuy có nhiều thuyết hữu ngã,
nhưng như vư vừa được trình bày trên kia, những phái chủ
trương thuyết này rõ rệt nhất là Độc-tử-bộ và Kinh-lượng-bộ.
Bởi vậy, ở đây tôi tưởng nên lấy hai phái này để làm
đại biểu để trình bày một học thuyết đơn giản của
họ.
(xin
xem chú thích trang 138).
CHÚ
THÍCH:
(1)
các nhà chủ trương Bổ-đặc-già-la luận nói: “Hữu-ngã,
hữu-tình, mệnh-giả, sinh-gia-dưỡng-dục, si-phu, Bổ-đặc-già-la.
Nhờ có Bổ-đặc-già-la mà có thể tạo các nghiệp. Hoặc
thuận cảm thụ vui, hoặc thuận cảm thụ khổ, hoặc thuận
cảm thụ không khổ không vui. Nó tạo nghiệp thuận vui rồi
lãnh nhận thú vui; tạo nghiệp rồi chịu khổ; tạo nghiệp
không khổ không vui thì lãnh nhận không khổ không vui (Thức-thân-túc-luận,
quyể 2, Đại-chính, 26, trang 542, trung).
Các
nhà chủ trương Bổ-đặc-già-la luận nói như thế này:…nhờ
có Bổ-đặc-già-la mà trong các pháp thấy, nghe, hay, biết
đã được, đã cầu tùy ý tìm kiếm và xét nét (như trên,
trang 542, trung).
(2)
Thế-Thân-Nhiếp-Đại-Thừa-Luận-Thích, quyển 9, (Chân-đế
dịch) nói: Tên “Căn-bản-thức” là Do-ma-ha-tăng-kỳ-bộ,
đặt “Cùng-sinh-tử-uẩn” do Di-sa-tắc-bộ lập. Chính-lượng-bộ
đặt tên là “Quả-báo-thức”; Thượng-Tọa-Bộ gọi “Hữu-phân-thức”
(Đại-chính, 21, trang 160, hạ).
Ngoài
ra Nhiếp-đại-thừa-luận-thích của Vô Tính, trong quyển 2
có nói: “Các thánh trong Thượng-Tọa-Bộ lấy “hữu-phân-thanh”
cùng nói thức này…Phân-biệt-thuyết-bộ cũng thức này là
“Hữu phận thức” và nói cả đến Quá-báo-thức của Chính-lượng-bộ
(Đại-chính, 31, trang 386, trung).
(3)
Đại-tỳ-bà-sa luận có nói đến thuyết Nhị-uẩn của Kinh-lượng-bộ:
“Hoặc lại có người chấp rằng uẩn có hai loại, một
là căn-bản-uẩn, hai là tác-dụng-uẩn. Uẩn trước là thường,
uẩn sau chẳng phải thường. Họ nói rằng hai uẩn căn bản
và tác dụng tuy riêng biệt mà hòa hợp thành hữu tình, như
mới có thể nhờ được những việc đã làm, vì tác dụng
uẩn làm, căn bản uẩn nhớ” – Bà-sa quyển 11. Đại-chính,
27, trang 55, trung.
(4)
Phẩm-phá-ngã dẫn lời trong kinh ra để trách Độc-tử-bộ
là: “Những kẻ chấp ngã có năm điều lỗi: tức khởi ngã
kiến, và hữu tình kiến sa đọa vào cõi ác kiến; cũng đồng
với các ngoại đạo…”. Độc-tử-bộ thừa nhận kinh này
nhưng luận chủ thì cho các bộ đềuthừa nhận kinh này, ở
đây nói “các bộ” theo sự giải thích của Xưng-Hữu, là
Tamraparniya. Song Đồng-diệp-bộ thì thuần như các nhà chủ
trương vô-ngã-luận. Ngoài ra có thể tham khảo Câu-xá-luận
quyển 29.
(5)
Trong Bản-tôn-đồng-nghĩa của Hóa-địa-bộ trong Tôn-luân-luận,
nói “Định vô thiểu pháp nang tông tiển thế chuyể chí
hậu thế” nói “Định vô trung hữu” nên nói quan hệ với
“cùng sinh tử uẩn”.
(6)
Những ký tải về hữu-ngã-luận trong Đại-tỳ-bà-sa có chép
những thuyết như sau:
1-Thuyết
của Độc-tử-bộ là “Thể của Bổ-đặc-già-la là thật
có” (Đại-tỳ-bà-sa quyển 2, Đại-chính, 27, trang 8, trung.
2-Lập
ngã kiến thứ sáu, chấp rằng “ngoài năm uẩn có ngã”
– như trên, quyển 8, Đại-chính, 27, trang 28, thượng).
3-Thuyết
của Độc-tử-bộ “Bổ-đặc-già-la có thể biết, không
phải trí” – như trên quyển 9, Đại-chính, 27, trang 42, hạ).
4-Thuyết
của Độc-tử-bộ “Ta cho là có ngã, có thể nhớ nghĩ những
việc mình làm” (như trên, quyển 11, Đại-chính, 27, trang
55, trung).
5-Có
thuyết chấp rằng: “Uẩn có hai loại: 1) là căn bản uẩn,
2) tác dụng uẩn” – (như trên).
Lại
trong Tứ-ân-đại-thừa-pháp-uyển-nghĩa-lâm-chương, quyển
1 nói: “Hợp cả tôn nghĩa của năm bộ Độc tử, Pháp thượng,
Hiền-trụ, Chính-lượng và Mật-lâm-sơn; lại mà nói, thì:
“Bổ-đặc-già-la không phải uẩn cũng không phải lìa uẩn,
năm thức không nhiểm cũng không lìa nhiễm. Vào chính tính
lìa sinh, khoảng 21 tâm gọi là hành hướng, tâm thứ 13 gọi
là trụ quả” (Đại-chính, 45, trang 250, hạ).
(7)
Tham chiếu “Kết tập phân phát sử khảo” của Mộc-thôn-can-tả,
trang 46, chú thích 64.
6-
THUYẾT HỮU-NGÃ CỦA ĐỘC-TỬ-BỘ.
Ở
đây, trước hết phải đề cập đến Độc-tử-bộ. Như
trên kia đã nói qua, điểm xuất phát chủ trương hữu-ngã-luận
của Độc-tử-bộ là vô-ngã-luận cơ-giới là trung tâm hoạt
tâm lý hay hoạt động sinh mệnh. Tức chủ thể của luân
hồi là gi? Chủ thể của ký ức là gi? Trung tâm nhận thức
là gi? Những vấn đề này hiển nhiên là rất khó thuyết
minh. Bởi thế, dưới một hình thái nào đó, nếu không lấy
trung tâm của năm yếu tố (ngũ uẩn) lập thành nguyên lý
sinh cơ chủ nghĩa thì không thể giải quyết được, do đó
nảy sinh ra chủ trương hữu ngã. Và căn cứ chủ yếu của
chủ trương hữu ngã là các nhà Bổ-đặc-già-la luận: 1-Vì
chủ thể của sự tạo nghiệp và cảm thụ kết quả khổ,
vui, và, 2-Vì chủ thể của phân đoán đối với những sự
thấy, nghe, hay, biết mà nói có Bổ-đặc-già-la (Thức-thân-túc-luận,
quyển 3, Đại-chính, 26, trang 542, trung – 543 trung). Đại-tỳ-bà-sa
luận, quyển 9 thì nói: đứng trên lập trường chủ thể
để nhận thức cho nên Độc-tử-bộ bảo có ngã (Đại-chính,
27, trang 42, hạ). Lại trong quyển 11 thì nói: đứng trên lập
trường chủ thể của ký ức nên nói có ngã (Đại-chính,
27, trang 55, thượng). Trong Câu-xá-luận, quyển 3, Phá-ngã-phẩm
lại bảo vì chủ thể của luân hồi và chủ thể của ký
ức mà chủ trương hữu-ngã-luận. Rồi tiến Tam-di-để-bộ-luận
thì lại cho lý do chủ trương của hữu ngã là vì trác nhiệm
đối với thiện, ác, vì thế mà nói có chủ thể luân hồi
chịu báo. Nhưng Tam-di-để-bộ-luận không nói là chủ trương
của Độc-tử-bộ (Tam-di-để-bộ-luận, quyển thượng, Đại-chính,
32, trang 463, trung). Lại trong Bản-tôn-đồng-nghĩa của Độc-tử-bộ
trong Dị-bộ-tôn-luân-luận thì bảo chỉ chuyên đứng trên
lập trường luân hồi mà chủ trương có ngã.
Nhưng,
vô-ngã-luận là đặc sắc của Phật giáo, sinh mệnh hay tâm
lý của người ta là một hợp thể của ngũ uẩn, ngoài ra
không có tự ngã cố định: đó là chủ trương minh bạch
và chỗ lập cước căn bản của đức Phật. Bởi vậy, ngoài
ngũ uẩn, bây giờ nếu lập ra ngã thể riêng biệt và đi
ngược lại chủ trương của Phật mà chuyển theo ngoại đạo
thì điều đó không thể chấp nhận được. Do đó, làm thế
nào một mặt vẫn giữ được thuyết ngũ uẩn hòa hợp, mặt
khác thuyết minh được những vấn đề nan giải trên đây?
Đó là thật là điểm rất khổ tâm của Độc-tử-bộ. Chính
vì thế mà cuối cùng đã nảy sinh một thuyết rất nổi tiếng,
đó là: “Phi-tức-phi-ly-uẩn-ngã”. Ngoài năm uẩn ra không
có cái gì đã đành, nhưng ngay trong hòa hợp của năm uẩn
cũng chẳng có cái gì cả, do đó mà trung tâm sinh hoạt thể
của ta trờ thành một cái gì bất khả thuyểt.
Theo
Độc-tử-bộ, sự quan hệ giữa uẩn và ngã cũng như sự
quan hệ giữa lửa và nhiên liệu. Ngoài nhiên liệu không có
lửa, cũng thế ngoài lửa nhiên liệu không còn ý nghĩa: sự
quan hệ giữa uẩn và ngã cũng vậy, bất nhất, bất dị,
bất tức, bất ly. Có xa lìa được hai cái thấy thường,
đoạn đó mới thật có thể thuyết minh được bản chất
của sinh mệnh (Câu-xá quyển 29). Theo ý nghĩa này thì Bổ-đặc-già-la
của Độc-tử-bộ không phải thật có, mà cũng phải giả
có (1). Tức là, Bổ-đặc-già-la không phải biệt lập, cũng
không phải chỉ là giả danh của sự hòa hợp, mà chỉ cái
hiện ở trong thân tâm, dựa vào yếu tố cảm giác làm trung
tâm của nó (Câu-xá quyển 9). Song, lại tiến lên bậc nữa
thì cái đương thể của cái “Phi-tức-phi-ly-uẩn-ngã” ấy
như thế nào? Vấn đề ngay cả Độc-tử-bộ cũng cảm thấy
rất khó giải đáp, mà chỉ bảo đó là cái bất khả thuyết,
Độc-tử-bộ chia những đối tượng có thể biết (jneya)
của người ta thành năm loại, ngoài tam thế và vô vi ra lập
thêm một tạng thứ năm nên mới thành ra cái gọi là “Ngũ-pháp-tạng-thuyết”
của bộ này (2).
Như
vậy, mới nhìn qua thuyết minh của Độc-tử-bộ có vẻ như
cùng cực, nhưng thật thì chưa phải là cùng. Bởi vì cái
Phi-tức-phi-ly-uẩn-ngã của Độc-tử-bộ rốt cuộc vô minh
hay nghiệp là trung tâm của ngũ uẩn, mà Hữu-bộ thì muốn
xem ngũ uẩn như cơ-giới, nghĩa là muốn coi chúng như một
thể hồn nhiên. Nhưvậy, có thể nói đây là sự bất đồng
về phương diện nhận xét mà thôi. Đã là một thể hồn
nhiên thì, nếu giải phẩu ra, tuy là ngũ uẩn nhưng không phải
ngũ uẩn kết tụ một cách máy móc, cho nên không thể bảo
ngũ uẩn tức là ngã; đồng thời, nếu giải phẫu những
yếu tố của thể hồn nhiên ấy thì vẫn không ngoài ngũ
uẩn. Ý nghĩa “Phi-tức-phi-ly” hoàn toàn ở đó, đây là
điểm ta cần phải ghi nhận. Bởi thế Bổ-đặc-già-la (pudgala
= ngã) của Độc-tử-bộ dù có bị các địch thủ đả phá
thật, song quyết như cái ngã cố định mà các phái ngoại
đạo chủ trương. Bổ-đặc-già-la tuy là một thể hồn nhiên,
tiền hậu nhất quán nhưng luôn luôn lưu động, bất tuyệt.
Độc-tử-bộ cho rằng có thừa nhận Bổ-đặc-già-la mới
có thể xa lìa được hai cực đoan đoạn, thường (Câu-xá
quyển 29). Nếu đem nó đối chiếu với thuyết A-lại-da-thức
sau này, ta có thể nói Bổ-đặc-già-la là tư tưởng tiền
phong của thuyết A-lại-da-thức. Không những thế, Độc-tử-bộ
tuy bị các phái công kích kịch liệt cho rằng ngoại đạo
lén vào Phật pháp, trong số đó có cả Thế Thân, người
đã nhiễm tư tưởng của Kinh-bộ, thậm chí cả Duy-thức-phái
đặt Phi-tức-phi-ly-uẩn-ngã vào thứ ba sau tức-uẩn-ngã,
Ly-uẩn-ngã để kích bác (Thành-duy-thức-luận, quyển 1, Đại-chính,
31, trang 1, hạ), nhưng, ở phương diện khác, dần dần các
phái theo hình thái ấy mà chịu ảnh hưởng của Độc-tử-bộ
để rồi sản sinh ra nhiều lý luận về sinh cơ chủ nghĩa.
Như vậy, ta thấy thuyết mà Độc-tử-bộ chủ trương đại
khái rất mới mẻ.
Song,
đứng trên lập trường Phật giáo mà nói, thì thuyết hữu
ngã nhưng nhiên bị coi là dị luận, cho nên trên quan hệ lịch
sử, Độc-tử-bộ đã bị coi như kẻ địch vì tư tưởng
của họ thật đã tiến gần đến dị luận, nhưng bởi cố
chấp nên vẫn tự cho mình là đúng. Chính vì thế mà mãi
về sau phái này vẫn bị đã kích.
Nhưng,
trên thực tế, tôicho rằng thuyết Độc-tử-bộ đã phát
xuất từ sinh mệnh quan của Phật giáo nguyên thủy rồi trong
đó đã phát hiệu một ý nghĩa có tính cách hình-nhi-thượng-học
chứ không phải chỉ thâu nhập thuyết của ngoại đạo mà
thôi.
CHÚ
THÍCH:
(1)
Theo Luận-sự, Độc-tử-bộ (Chính-lượng-bộ cũng vậy) nói
về tínhchất của Bổ-đặc-già-la chủ ý như sau:
“Thân
và Bổ-đặc-già-la khác nhau. Bổ-đặc-già-la và mệnh đồng
nhau”. 1.1 (No 156) Chủ thể của luân hồi và ngã là đồng
nhất, nếu không thế thì không thể giải thuyết được (No
158) Ngã và thụ, tưởng, hành, thức luân hồi một lượct
hay sao? Điều đó không nhất định (No 167) Ngã từ ngũ uẩn
mà ra, nhưng ngũ uẩn không là cái gì cả (No 172-176). Trong
tất cả tâm, bao gồm quan niệm ngã (No 193). Người làm và
người chịu không phải giống và cũng không phải dị. ai
bảo là giống nhau? (No 212).
(2)
Về thuyết Ngũ-pháp-tạng, tham chiếu Câu-xá quyển 29, phẩm
Phá-ngã; Thành-thật-luận quyển 3 (Đại-chính, 32, trang 260,
hạ). Thập-trụ-tỳ-bà-sa-luận quyển 9 (Đại-chính, 25, trang
69, trung). Trí-độ-luận quyển 1, “Đại-chính, 25, trang 60,
thượng) và Duy-thức-thuật-ký, cuối quyển 1 (Đại-chính,
43, trang 247, hạ).
7-
THUYẾT HỮU-NGÃ CỦA KINH-LƯỢNG-BỘ.
Thứ
đến là thuyết hữu ngã của Kinh-lượng-bộ. Sự phát đạt
của Kinh-bộ tuy có mấy giai đoạn, nhưng ngoài Bà-sa thường
hay trích dẫn và phê bình các Thí-dụ-sư ra, tân của Kinh-bộ
còn thấy ở hai ba chỗ nữa. Thí-dụ-sư là Thất-lợi-la-đa
của cổ Kinh-bộ. Kinh-bộ là từ Cưu-ma-la-đa của tân Kinh-bộ
đều là phân phái của Hữu-bộ mà ra. Bộ này vì bất mãn
với thuyết Hữu-bộ, muốn trực tiếp tìm cầu tinh thần
của chính khế kinh nên thành lập riêng. Nhưng giáo lý của
bộ này thu dụng nhiều tư tưởng rất tiến bộ, đặc biệt
là trong sinh mệnh quan (tâm-lý-quan), có lẽ đã chịu ảnh
hưởng của Độc-tử-bộ, đó là một dự thật hiển nhiên.
Dị-bộ-tôn-luân-luận trình bày tư tưởng của bộ này như
sau:
“Cho
rằng các uẩn có từ đời trước chuyển đến đời sau bèn
lập ra thuyết chuyển. Có căn-biên-uẩn, có Nhất-vị-uẩn…
chấp có thắng nghĩa Bổ-đặc-già-la”.
Lại
trong Từ-ân-đại-thừa-pháp-uyển-nghĩa-lâm-chương, quyển
1, nói: “Kinh-lượng-bộ-tôn nói có thắng nghĩa Bổ-đặc-già-la;
trong vị dị sinh cũng có Thành-pháp; có Căn-biên-uẩn có nhất-vị-uẩn.
Nhất-vị-uẩn tức là tế-ý-thức. Còn những chỗ chấp khác,
phần nhiều giống với Thuyết-nhất-thiết-hữu-bộ - (Đại-chính,
45, trang 250, hạ).
Tức
thuyết của Hữu-bộ là: “sát na tương tục, không một thiển
pháp từ đời này chuyển đến đời sau”; còn thuyết của
Kinh-bộ thì: “Các uẩn tuy đến đời sau, nhưng cũng có thật
chất tương tục”, chính vì thế cũng được mệnh danh là
Thuyết-chuyển-bộ. Nhất là theo Nam phương thì Sạm-bà-untiba,
tức thuyết-chuyển-bộ, không cùng một loại với Kinh-bộ,
tựa hồ như đã biến thành cái mẫu của Kinh-bộ gốc: điểm
này cho ta thấy có lẽ Kinh-bộ đã phát đạt theo hai giai đoạn
tiền và hậu. Nhưng dù thế nào đi nữa, trên đại quan, tôi
cho rằng Thuyết-chuyển-bộ cũng có thể được coi là lập
trường của Kinh-bộ (Thuyết-chuyển-bộ cũng có khi được
gọi là amrasatiya).
Nhưng
mà cái gì tương tục đến đời sau? Trả lời cho vấn đề
này là câu thứ hai. Uẩn có Căn-biên-uẩn (chi-mạt-uẩn):
Căn-biên-uẩn thì niệm sinh diệt, nhưng nhất-vị-uẩn là
thắng nghĩa Bổ-đặc-già-la làm chủ thể cho sự tương tục
đến đời sau. Nhất-vị-uẩn là thắng nghĩa Bổ-đặc-già-la
cũng gọi là tế-ý-thức. đây là sự giải thích của Từ-ân-nghĩa-lâm-chương
quyển 1 (trong đoạn văn trích dẫn ở trên). Nếu chiếu theo
đây với luận Đại-tỳ-bà-sa, thì Thí-dụ-sư trong Đại-tỳ-bà-sa
tựa hồ là học phái tiên phong của Kinh-bộ. Nhưng trong thuyết
Thí-dụ-sư hình như vẫn chưa thấy ý kiến trên đây. Tuy
nhiên, thuyết này được lưu hành trong phái nào thì sự thực
đã rõ ràng.
Bà-sa
luận quyển 11 nói:
“Hoặc
lại có người chấp uẩn có hai loại: 1) căn-bản-uẩn; 2)
tác-dụng-uẩn. Uẩn trước là thường, uẩn sau chẳng phải
thường. Người ấy nói rằng hai uẩn căn bản và tác dụng
tuy khác, nhưng mà hòa hợp thành một hữu tình, như thế mới
có thể nhớ được những việc đã làm, vì tác dụng uận
làm việc, căn-bản-uẩn nhớ việc…” (Đại-chính, 27, trang
55, trung).
Điều
đáng tiếc là nói “người chấp” ở đây thật sự chỉ
ai thì không rõ, nhưng cứ chiếu theo cách lập uẩn cũng đủ
biết đó là phái nào trong Phật giáo rồi. Nếu tin vào Dị-bộ-tôn-luân-luận
thì tôi cho rằng “người chấp” ở đây thật ra không ai
khác hơn ta Kinh-bộ, do đó, ta thấy đích xác là từ Đại-tỳ-bà-sa
luận trở vể trước Kinh-bộ đã chủ trương là ý kiến
này rồi. Thật vậy, ý kiến của Kinh-bộ còn có tính cách
hữu ngã hơn cả thuyết của Độc-tử-bộ chí nói “Phi-tức-phi-ly-uẩn”.
Trong Kinh-bộ, ngoài năm uẩn phổ thông ra, còn nói có Căn-bản-uẩn
(thắng nghĩa). Hơn nữa, theo trong Nhất-thiết-kiến tập của
Mã-đạt-ngõa-ca, thì Kinh-bộ lập A-lại-da-thức và Chuyển
thức, bảo A-lại-da-thức là chủ nhân bên trong. Chuyển thức
là tác dụng chịu sự kích thích bên ngoài, rồi đem chia thành
hai loại là căn bản và tác dụng. Dĩ nhiên Nhất-thiết-kiến-tập
được trứ tác vào thế kỷ thứ 11 sau Tây lịch, lúc đó
đã diệt tại Ấn Độ, cho nên, có lẽ vì những ký tải
từ trước mà Mã-đạt-ngõa-ca đã hiều lầm rồi lẫn lộn
thuyết Duy-thức với tư tưởng của Kinh-bộ chăng?
Tóm
lại, Kinh-bộ được là những nhà Tâm-thể-thực-hữu-luận
rất tiến bộ, điều này cứ xem những ký tải cũng đủ
rõ. Cũng có thể vào thế kỷ thứ 14, Kinh-bộ thật sự đã
tiến đến phương diện này, cho nên đã thành gần gũi với
tư tưởng Duy-thức chăng? Kinh-bộ xây dựng trên những tư
tưởng ấy để nói về chủng tử, luận đến huân tập mà
cấu tạo thành một nền triết học và cho là chủ trương
hợp với chân ý của khế kinh. Mà thuyết này trải qua Vô
Trước và Thế Thân cuối cùng đã thành tiên khu của triết
học Duy-thức Đại thừa, Về điểm này, trong lịch sử giáo
lý, so với Độc-tử-bộ, Kinh-bộ còn diễn xuất một vai
trò trọng đại hơn, đó là điều chúng ta cần ghi nhớ.
8-
TỔNG-KẾT NHỮNG ĐIỀU ĐÃ ĐƯỢC TRÌNH BÀY Ở TRÊN.
Trở
lên chúng tôi đã trình bày một cách khái quát về tâm-thể-quan
của bộ phái Phật giáo, vì vấn đề hơi dài nên chỉ nói
được đại thể thế thôi. Sau đây xin đúc kết lại những
điểm đã được trình bày.
Phật
giáo nguyên thủy bài xích tâm-lý-quan linh hồn cố định,
đồng thời cũng bài xích luôn cả tâm lý học duy-vật-luận
mà thừa nhận hoạt động tâm lý trên sự thực, cho đó là
một quá trình phức hợp: điều này, trong tâm lý học cổ
đại thật là một thành tích đáng kinh ngạc. Nhưng tâm-lý-học
của Phật giáo đồng thời cũng là sinh-mệnh-quan của Phật
giáo mà, nếu đứng về phương diện được coi như sự kế
tục vô thủy vô chung, thì tâm-lý-học Phật giáo có thể
nói ngừng ở cái gọi là tâm-lý-học kinh nghiệm. Nhưng trong
khoảng kế tục đó, làm thế nào có được sự liên lạc
nhất quán để tìm đến cái điểm khế cơ của nó? Phật
tuy bảo đó là nghiệp, nhưng theo một ý nghĩa nào đó, Phật
là nhà chủ trương hiện thực chủ nghĩa không trọng lý luận,
cho nên đã không quy định cái lý do tinh mật của nó. Vấn
đề này, suốt đến các học giả đời sau đã trở thành
một đề mục rất trọng đại mà, trên đại thể đã chia
ra hai phái: một là những nhà cơ giới chủ nghĩa, trước
sau vẫn chủ trương thuyết vô ngã và bảo sự kế tục của
nó duy chỉ là sức truyền đạt. Vì họ thích dùng thích dùng
thí dụ nên bảo sự tương tục vô cùng đó cũng như lửa
từ một thanh củi này bén sang thanh củi thanh củi khác, hay
những con ngựa sắp hàng trên bàn cờ tướng, khi một con
ngã thì dần dần truyền sang con khác không có thực thể di
chuyển mà chỉ có tác dụng liên tục. Tóm lại, tôi cho rằng
Thượng-Tọa-Bộ Tích Lan đã chủ trương thuyết này, như
Hữu-bộ chính là đại biểu của thuyết đó.
Như
vậy có vẻ quá máy móc, cho nên có phái thứ hai đứng trên
lập trường sinh cơ chủ nghĩa, muốn theo phương diện lưu
động mà thuyết minh sự tương tục của nó, đó là Độc-tử-bộ
và Kinh-lượng-bộ chủ trương cái gọi là hữu-ngã-luận.
Đến đây tâm-lý-quan của Phật giáo, ít ra là trênhình thức,
đã lại gần trở về với thuyết linh hồn thường thức,
nhưng nhất đán lại bài xích quan niệm cố định, sau lại
nhờ kết quả của sự tìm tòi suy nghĩ, và quan sát nó về
phương diện lưu động, cho nên đặc trưng của Phật giáo
cũng bao hàm ý nghĩa của cái gọi là “chuyển-biến-thuyết”
do phái Số-luận chủ trương, đó là điểm ta không thể bỏ
qua.