CHƯƠNG
II
CÁC
VẤN ĐỀ TƯỚNG TRẠNG CỦA TÂM
1-
LỜI TỰA.
Những
điểm được trình bày ở đoạn trên tuy nói là tâm-lý-luận,
nhưng, thật ra đó chủ yếu là sự khảo sát về sinh-mệnh-luận.
Bởi vì khi đề cập đến tâm thể thì thế tất phải bàn
đến tâm-mệnh-luận. Do đó, ở đây cái gọi là tướng trạng
của tâm, trên sự thực, chính là sự quan sát về đặc tướng
của hoạt động tâm lý. Theo chân lý của Phật giáo thì đặc
tướng của tâm là tác dụng tâm lý. Do đó, ngoài quá trình
hoạt động ra không thể tìm được một vật gì khác. Tuy
nhiên, như đã nói nhiều lần, các vị A-tỳ-đạt-ma luận
sư đem quá trình hoạt động ấy chuyển làm không gian để
tầm cầu những yếu tố tổ chức và luận cứu thứ tự
tâm lý, cho nên tâm-lý-quan đã trở thành một đề mục trọng
đại. Bởi vậy, ở đây nói tướng trạng là muốn đứng
về phương diện tĩnh để trình bày những yếu tố đó và
cái quan hệ nhất ban giữa chúng để xem các vị A-tỳ-đạt-ma
luận sư đã khảo sát tâm lý như thế nào. Sở dĩ ở đây
nói “các vấn đề” là vì giữa các luận sư có nhiều
nghị luận này cũng sẽ được trình bày luôn ở đây một
cách đại lược.
2-
TÂM LÀ GÌ.
Trước
hết hãy nói qua danh từ và khái niệm về tâm. Như đã nói
trứơc kia, trong Phật giáo, thuật ngữ biểu cái gọi là tâm
có ba loại, đó là: tâm, ý, thức. Trong các câu kinh cổ xưa
có nói: “Tâm ấy cũng gọi là ý, cũng gọi là thức”. Ba
thuật ngữ này hầu như được dùng một cách đồng nhất.
Nhưng ba chữ đó, cứ theo cách dùng thì không phải có ý đồng
nhất. Dù cho có chỉ một sự thực đồng nhất đi nữa thì
về phương diện chỉ thị cũng có ít nhiều bất đồng, đó
là một sự thật hiển nhiên. Tựu trung, tâm tuy từ chữ Citta
hay cit nhưng nếu bảo chữ nào đúng, chữ nào xem trọng về
phương diện tình ý thì cứ cách dùng những chữ ấy trong
các kinh điển cũng đủ rõ (Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng
Luận, trang 273). Thức (liễu triệt) dĩ nhiên lấy biết làm
chủ, nếu nói theo nghĩa hẹp thì tương đương với cái gọi
là ngộ-tính-liễu-biệt, còn nói theo nghĩa rộng thì chỉ
cho ý thức nhất ban, điều này cách xem cách dùng nó cũng
biết. Sau hết là ý (tư lự), các phái ngoài Phật giáo cũng
rất hay dùng, nhưng cách dùng nó rất bất đồng. Phật giáo
dùng thuật ngữ này với ý nghĩa trung khu nhận thức ngoại
giới và đại thể liên quan với ngũ quan (Nguyên Thủy Phật
Giáo Tư Tưởng Luận, trang 151-152).
Ba
danh từ trên đây nếu dùng một cách mang nhiên thì như nhau,
nhưng nếu dùng một cách chặt chẽ thì hoàn toàn không đại
biều cho một vật đồng nhất, điểm này giữa các luận
sư A-tỳ-đạt-ma đã phát sinh ra nhiều nghị luận khác nhau.
Chiếu theo Bà-sa, quyển 72, đại khái có hai phái nhận xét
về vấn đề này. Một phái cho rằng tâm, ý, thức hoàn toàn
như nhau, chỉ là những tên khác để chỉ cùng một vật mà
thôi. Còn phái kia thì cho rằng trong ba danh từ đó có sự
khu biệt, mà sự khu biệt ấy có nhiều cách nói: hoặc gọi
quá khứ tâm là ý, vị lai tâm, hiện tại tâm là thức; hoặc
nói tâm là nghĩa chủng tộc, ý là nghĩa sinh môn, thức là
nghĩa tích tụ; hoặc nói tác dụng của tâm là tư tưởng
(tư tưởng có nghĩa là làm tăng trưởng nghiệp chủng tử),
tác dụng của ý là tư lương, tác dụng của thức là liễu
biệt, v.v… Ngoài ra, còn đưa ra nhiều khu biệt khác nữa
(Bà-sa, quyển 72, Đại-chính, 27, trang 371, thượng, trung). Để
đúc kết điểm này, Hiếp Tôn Giả nói: “Tăng trưởng nghiệp
chủng tử là tác dụng của tâm, suy nghĩ so đo là tác dụng
của ý, phân biêt hiều rõ là tác dụng của thức” -
(như trên, trang 371). Đây là kết luận do những cách dùng
bất đồng mà có. Nhưng các luận sư A-tỳ-đạt-ma đại khái
cũng lại cho ba cái đó chỉ khác tên mà chủ trương thể
là một. Thành-thật-luận, quyển 5, Vô-sô-phẩm 60 (Đại-chính,
32, trang 274, hạ) nói: “Tâm, ý, thức thể là một mà tên
khác nhau. Nếu pháp có duyên thì gọi là tâm”. Câu-xá-luận
quyển 4 nói: “Tập khởi nên gọi là tâm, tư lương nên gọi
là ý, liễu biệt nên gọi là thức”.
Một
mặt thừa nhận sự bất đồng về ý nghĩa, một mặt chỉ
những tên khác nhau của nhất thể, không cái nào có tính
độc lập.
Tựu
trung, “Tập khởi nên gọi là tâm” là sự giài thích phát
xuất từ tiếng gốc sitta (v-ci tập). Nhưng, nếu đứng về
phương diện ngôn ngữ học mà nói thì sự giải thích đó
không đúng lắm, vì citta là từ v-cit mà có. Giải thích như
Phật Âm là cintetiti Cittam mới đúng. Tuy nhiên, lấy tâm làm
chủ mà coi như tác dụng tình ý, rồi vì muốn thêm ý nghĩa
cho hành động tập khởi của tác dụng tâm, nên “tập khởi”
trên nghĩa lý, có thể nói thuyết minh này là chính xác.
Tóm
lại, nhất-thể-luận không sai biệt này, nhận xét theo cách
dùng của Phật giáo nguyên thủy cũng là chính xác. Nhưng trong
đó nhận có khu biệt dĩ nhiên cũng có căn cứ, cho nên đến
Phật giáo Duy-thức sau này, mỗi danh từ đó là tiền khu của
đệ bát, đệ thất và đệ lục thức vậy. Đây là điều
ta không thể bỏ qua.
3-
ĐẶC TƯỚNG CỦA TÂM.
Cứ
xem cách thuyết minh về danh từ ở trên ta cũng có thể biết
là các luận sư của A-tỳ-đạt-ma nhận xét về đặc tướng
của t6m như thế nào rồi. Bởi vì danh từ có khác nhau, tính
cách của chúng có nhiều phương diện, do đó, cái tính chất
đại biểu cho danh từ ít ra có thể coi là đặc trưng chủ
yếu của tâm. Theo đó thì đặc chất của tâm trước hết
là ở như tác dụng duyên tự,tức tác dụng nhận thức, lấy
đấy làm cơ sở mà sinh khởi phán đoán, tư duy, hạnh động
để thống nhất các dụng của tâm. Các luận sư A-tỳ-đạt-ma
nhận đó là những đặc chất chủ yếu. từ những thuyết
minh trên đây ta có thể có được sự quy kết. Nhưng, thật
ra đó mới chỉ là luận cứu đại thể mà thôi, nói theo
ngữ ngôn của các A-tỳ-đạt-ma luận sư thì đó mới chỉ
liên quan đến đặc tướng của tự thể tâm vương mà thôi.
Cái đặc tướng cụ thể và đích thực của tâm thì không
thể thuyết minh được. Đương nhiên, về sự quan hệ giữa
“tâm vương” (tâm đặc hữu của tác dụng tâm) và cái
gọi là “tâm sở”, tức tác dụng của tâm vương (sẽ được
trình bày ở sau), giữa các bộ phái tuy có nhiều tranh luận,
nhưng bất luận là phái nào, khi đề cập đặc tướng cụ
thể của tâm, đến một trình độ nào đó, đều đã phải
khảo sát về tâm sở, đây là một sự thật hiển nhiên.
Nhưng,
nếu nói ra tất cả những phức tạp tâm sở ấy thì e rằng
cái đặc trưng nhất ban của tâm có vì thế mà lu mờ đi
không? Về vấn đề này, may là giữa các luận sư bằng chứng
xác thực, nhưng trong luận Đại-tỳ-bà-sa gọi là những nhà
Nhất tâm tương tục luận và thường đưa ra bài xích. A-tỳ-đạt-ma
về sau, cả Nam, bắc đều cộng thông đã đề xướng thuyết
gọi là “Đại-địa-pháp” (Duy-thức gọi là Biến-hành).
Đại-địa-pháp là những tâm sở mà bất cứ lúc nào tác
dụng của tâm sinh khởi đều làm nền tảng và bối cảnh
cho tác dụng đó. Bởi thế, dù có thei lập trường cho tâm
vương và tâm sở là những vật khác biệt đi nữa thì không
có gì sai lầm mấy khi trực tiếp coi đại địa pháp là đặc
tướng của tâm vương. Hơn thế nữa, nếu lại đứng về
phương diện trực tiếp coi tâm sở làcơ năng của tâm mà
nói, thì đại-địa-pháp sẽ biến thành tính chất cơ sở
của tác dụng tâm. Theo ý nghĩa này, tất cả tâm sở, tuy
là vấn đề sẽ được trình bày sau, nhưng, ở đây chúng
tôi thấy cần phải nói qua về đại-địa-pháp trước.
Theo
Hữu-bộ thì đại-địa-pháp có mười một loại, tức là:
tác ý, xúc, thụ, tưởng, tư,dục,thắng giải, niệm, định
và tuệ. Theo A-tỳ-đạt-ma-pháp-yếu-luận thuộc Nam phương
luận bộ, thì có bảy loại đi khắp tất cả tâm (đại-địa-pháp,
hay biến hành cũng thế). Đó là: tác ý, xúc, thụ, tưởng,
tư, tâm nhất cảnh và mệnh căn (Abhidhammatthasamgaha, p.6. Compendium
of Philosophy, 12 ibid p. 4). Nhưng đến phái Đại thừa Duy-thức
thì đính chính tư tưởng của Hữu-bộ mà chỉ lấy nămloại
trước là tác ý,xúc, thụ, tưởng và tư làm Biến-hành, và
lấy những thành phần còn lại là dục, thắng giải, niệm,
định và tuệ làm Biệt-cảnh. Cũng thế, Nam-phương-luận-bộ
ngoài bảy loạikể trên còn lấy sáu phần tầm, tư, thắng
giải, cần, hỷ và dục làm Biệt-cảnh (Compendium of Ph, p,
95). Xem thế thì biết số mục của cái gọi là tâm sở đại-địa-pháp
không nhất định, tuy nhiên trong có rất nhiều điểm cộng
thông. Như Duy-thức lập tác ý, xúc, thụ, tưởng, tư chẳng
hạn, bất luận là Hữu-bộ Bắc phương, Thượng-Tọa-Bộ
Nam phương hay cái gọi là Đại thừa, có thể nói đều thừa
nhận đó là những tâm sở cộng thông. Do đó, ở đây hãy
tạm lấy số năm làm căn cứ để nói qua về những tâm sở
này.
Tác
ý có nghĩa là chú ý, xúc có nghĩa là cảm giác, thụ là cảm
tình, tưởng là tri giác biểu tượng, tư là ý chí. Năm tác
dụng này là điều kiện căn bản của tác dụng tâm lý, bất
luận hiện khởi như thế nào. Không lâu, những tác dụng
này được coi là đặc trưng của tâm. Nếu tập hợp những
tâm sở này với tự thể tâm, ý, thức trên kia mà thuyết
minh thì, trong Phật giáo, tâm có thể nói được giải thích
như sau: Nếu đứng về phương diện trừu tượng mà nói,
thì tâm tuy là sở hữu chủ, là người sử dụng tất cả
tác dụng tâm, nhưng đứng về phương cụ thể mà nói, thì
ít ra tâm cũng có sức chú ý, cảm giác, trí giác, cảm tình
và ý chí để thống nhất tác dụng tâm. Đương nhiên, những
tác dụng tâm ấy không phải lấy sự phát hiện rõ ràng làm
điều kiện tất yếu, nhưng ít ra chúng cũng bao hàm cái khuynh
hướng tụ bị từ tính chất trên. Đặc tướng của tâm
có thể giải thích như thế. Về vấn đề này tuy vẫn còn
nhiều điểm cần lựân cứu, nhưng ở đây chưa phải đang
thuyết minh về Tâm-sở-luận, nên không tiện nói nhiều, tôi
tưởng nên để lại ở phần sau sẽ bàn đến.
4-
TÂM MỘT HAY NHIỀU.
Trở
lên, chủ yếu là sự quan sát theo những hoạt động nội
diện của tâm, nhưng tâm này khi hoạt động hướng ngoại
thì thủ sáu loại tướng trạng thường được mệnh danh
là sáu thức. Đó là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Tất
cả tuy được thống nhất bởi ý thức thứ sáu, nhưng phải
thông qua năm tác dụng của năm cảm quan (năm căn) mới sinh
khởi được những hoạt động tâm lý đặc hữu, cho nên
chia thức thành sáu loại là cái thông lệ từ Phật giáo nguyên
thủy đến nay. Nhưng vấn đề được nêu lên ở đây là:
năm thức trước với thức thứ sáu là bất đồng trên bản
chất, hay chỉ là một tâm mà có các tác dụng khác nhau? Nếu
nói theo thí dụ thì: duy chỉ có một mình ông vua (tâm vương)
rồi biểu hiện những trạng thái bất đồng ở nhiểu phương
diện mà chí phối cái quốc gia tâm lý kia, hay ngoài vua ra
cũng còn có quần thần phụ tá và có ít nhiều quyền lợi
độc lập? Nói một cách mới mẽ thì: trung khu của tâm là
toàn nhất, hay, ngoài ra, cũng có những cái gọi là trung khu
cục bộ? Vấn đề này trong Phật giáo nguyên thủy không được
rõ ràng, nhưng đến bộ phái Phật giáo thì nó đã biến thành
đề mục thật lớn. Luận cứu tỉ mỉ về vấn đề này,
theo chỗ tôi biết, là Thành-thật-luận, quyển 5, trong năm
phẩm từ Đa Tâm phẩm đến Minh Đa Tâm phẩm 72. bởi thế,
ở đây, tôi tưởng nên tạm căn cứ theo đó để kiểm thảo
lại vấn đề này.
Trước
hết hãy bắt đầu từ phương diện Nhất-thức-luận. Cái
gọi là tâm tuy có nhiều tác dụng, nhưng tóm lại thì bất
luận là tác dụng nào đều không ngoài những phương tiện
bất đồng của một tâm, cũng như một người ở trong một
căn phòng có năm cửa sổ, tùy theo sự đòi hỏi mà xuất
hiện ở mỗi cửa sổ. Nghĩa là khi tâm trụ ở nhãn căn thì
là nhãn thức, cho đến trụ ở thân căn là thân thức, mà
tự xử hiện trong căn phòng là thức thứ sáu (Phi-đa-tâm-phẩm
70). Đó là sáng thuyết của luận sư mà cũng là sự bày tỏ
rõ ràng của Kế-kinh. Như trong Tạp-tạng có bài kệ rằng:
“Trong
năm cửa sổ, con khỉ phát động”;
“Lúc
khỉ trụ lại, đừng bảo như cũ”.
Đây
là chỉ câu kệ của Tân-đầu-la-bạt-la-đọa-xà. Từ trước
đến nay, chủ ý của hai bài tụng này tuy không phải lấy
tâm lý luận làm mục đích, nhưng dụ một chủ nhân trong
năm cửa sổ là đoạn kính chứng rất hợp thức. Trên thực
tế, thuyết này đã được lưu hành ở thời đại Phật giáo
nguyên thủy, cứ xem bài kệ cũng có thể rõ.
Như
vậy, nhất-thức-luận chủ trương tất cả tâm thức của
người ta, như ghi nhớ những kinh nghiệm quá khứ, tích tập
nhiểu kinh nghiệm, cho đến không những là vô ngã, mà cấu
thành một nhân cách, tất cả duy chỉ là một (Nhất-tâm-phẩm
thứ 69). Tóm lại, căn cứ chủ trương của nhất-thức-luận
là ở như cái gọi là “tác dụng thống giác”, nếu thức
có nhiều thứ thì sinh hoạt tâm lý của người ta không thể
không phân biệt đó là lý do tất nhiên. Nói theo Bộ-phái
thì phái nào chủ trương nhất-thức-luận? Vấn đề này hiện
nay tôi chưa tìm ra bằng chứng xác thực, nhưng trong luận
Đại-tỳ-bà-sa gọi họ là những nhà Nhất tâm tương tục
luận và thường đưa ra bài xích.
Xin
trích một đoạn: “Hoặc có, kẻ chấp chỉ có một tâm như
những người Nhất-tâm-tương-tục-luận chủ trương, họ
bảo hữu tùy miên tâm, vô tùy miên tâm, tính chất không khác,
Thánh đạo hiện tiền, xa lìa phiền não, chẳng xa lìa tâm
tính để đối trị phiền não, không phải để đối trị
tâm. Cũng như giặt áo, lau gương, luyện vàng, vật và nhơn
lìa nhau, chẳng xa lìa áo…” (Bà-sa quyển 22, Đại-chính,
27, trang 110, thượng). Đây chắc chắn chỉ phái Nhất-thức-luận.
Nếu theo luận điểu được biểu hiện trong Thành-thật-luận
thì tựa hồ đây là chủ trương học phái của hữu-ngã-luận.
Tôi tưởng Độc-tử-bộ đại khái là phái này. Độc-tử-bộ
bảo năm thức trước không nhiễm, cũng không phải lìa nhiễm
(Dị-bộ-tôn-luân-luận, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương,
quyển 1), nếu bảo đoạn trừ phiền não giới hạn ở thức
thức sáu (Nghĩa lâm chương quyển 2, Đại-chính, 45, trang 2,
hạ). Thì dù có lập sáu thức chăng nữa cũng không có chứng
cứ thừa nhận năm thức độc lập. những điểm như thế,
nếu nghiên cứu thêm, thì bất luận loại nào cũng đều là
Nhất-thức-luận. Trong giáo đoàn Phật giáo, đó là một phái
rất có thế lực, đây là sự thật không còn nghi ngờ gì
nữa. Hữu-bộ chia vũ trụ vạn hữu thành năm vị là sắc,
tâm, tâm sở, tâm bất tương ưng hành và vô vi, đây là cách
thuyết minh từ xưa trong phẩm loại túc luận của Thế Hữu.
Đến Câu-xá-luận thì chia các pháp được nhiếp trong năm
vị thành 75 loại theo số mục như sau: sắc 11, tâm 1, tâm
sở 46, tâm bất tương hành 24, và vô vi 3. Tâm vương duy chỉ
có một chứ không có sáu thức, vậy điểm này há không phải
đã ngấm ngầm mang ý nghĩa Nhất-thức-luận? Và trên thực
tế, vấn đề này đã được các học giả Câu-xá tại Nhật
Bản (1) luận cứu một cách rất rộng rãi và đã trở thành
đề mục thuộc cái gọi là Câu-xá-học, Phật giáo trước
vẫn nói sáu thức, cho nên, lấy “sáu thức biệt thể”
làm chỗ lập cước, không thể đoán định một cách vội
vàng được.
Song,
dù thế nào đi nữa thì giữa các bộ phái thông thường vẫn
thu dụng thuyết Lục-thức-biệt-thể. Từ thờI đại Phật
giáo nguyên thủy đến nay, phương pháp phân loại vạn hữu
lớn nhất là tộ hợp sáu căn, sáu cảnh và sáu thức gọi
là 18 giới. Vậy, trên quan hệ, không thể không cho mỗi trong
sáu thức một ý nghĩa độc lập. Nhận thức đối với ngoại
giới, nghĩa là mắt đối sắc, tai đối tiếng, cho đến thân
đối xúc, mỗi thứ đều có phạm vi riêng, quyết không lẫn
lộn, cho nên cái tâm thức nhận thức những cái đó tất
nhiên cũng có chỗ bất đồng. Tại sao? Hãy thử giả định
rằng nếu chúng chỉ là các tác dụng bất đồng của một
thức, thì xuyên qua nhãn căn, người ta có thể nghe tiếng,
qua nhĩ căn, người ta có thể thấy sắc, v.v… Nhưng do cảnh
mà cảm quan bất đồng, do cảm quan mà nhận thức bất đồng,
vậy cho nhận thức là tác dụng các biệt đại khái cũng
không khó thu tập. Vã lại, dù có đứng về mặt hoạt động
nội diện mà nhận xét, nếu người ta có tác dụng phản
tỉnh thì tự tâm mình cũng có thể nhận được mình, rốt
cục không thể nói duy chỉ là tác dụng của một tâm. Tại
sao? Vì mắt không tự thấy, dao không tự cắt, nếu tâm là
một thì tất cũng không thể tự biết (Thành-thật-luận,
Đa-tâm-phẩm 68). Các nhà Nhất-tâm-luận tuy dùng thí dụ một
người trong năm cửa sổ, nhưng lấy người ví với tâm chung
quy không phải thích đáng. Tại sao? Vì tâm do nhiều duyên
sinh, khi trụ ở mắt thì tất không thể thủ ở tai (Minh-đa-tâm-phẩm
72). Đó là lý do của Đa-thức-luận.
Tóm
lại, Nhất-tâm-luận chuyên chú trọng ở thống giác nội
diện mà nhận xét tâm, còn Đa-thức-luận là kết quả của
sự quan sát chuyên chú trong ở tác dụng tri giác ngoại giới,
cả hai thật ra chỉ khác nhau ở chỗ lập cước; nhưng ở
vào thời đại mà phong trào phân tích rất được ưa chuộng
là thời đại Bộ-phái, cuối cùng hiển nhiên nó đã biến
thành chủ trương “Lục-thức-biệt-thể-luận”.
Song,
theo kiến địa này mà quan sát tác dụng khu biệt giữa năm
thức trước và ý thức thứ sáu như thế nào, thì các luận
sư A-tỳ-đạt-ma bảo sự khu biệt giữa năm thức trước
và thức thứ sáu là: năm thức thức trước đối với đối
cảnh nhất định, còn thức thứ sáu lấy tất cả đối tượng
làm sở duyên, ngoài sự thực ra, có tác dụng phân biệt và
phạm vi rộng hẹp khác nhau. Bà-sa, quyển 42 (Đại-chính, 27,
trang 219, trung), Câu-xá, quyển 2, nói, Phân-biệt có ba loại:
tự-tính-phân-biệt, kế-độ-phân-biệt và tùy-niệm-phân-biệt.
Tự-tính-phân-biệt là tác dụng tri giác của cảm quan (lấy
tầm tư làm thể), kế-độ-phân-biệt là sự phán đoán của
ngộ tính (tác dụng của tuệ), tùy-niệm-phân-biệt là tác
dụng suy lý (tác dụng của niệm). Nhưng, nếu đem ứng dụng
nó vào sáu thức mà nói thì năm thức trước, dĩ nhiên chỉ
có tự tính phân biệt. Chẳng hạn, nhìn cây anh đào, biết
đó là cây anh đào tuy có tác dụng nhận thức cảm giác,
nhưng cây anh đào ấy đẹp hay xấu? Hoa của nó có khác năm
ngoái không? Những tác dụng như thế, chung quy, không thể
không cho là tác dụng của thức thứ sáu. Bởi vậy, năm thức
trước không có hai tác dụng phân biệt kế-độ và tùy-niệm.
Trái lại trong thức thứ sáu hoàn toàn có đầy đủ ba loại
phân biệt ấy. Do đó, về điểm này, tuy cũng nói là thức,
nhưng giữa năm thức trước và thức thứ sáu có sự bất
đồng: đây là sự giải thích của các luận sư A-tỳ-đạt-ma.
Để quan sát cho được tiện lợi mà thêm điểm khác biệt
này vào, đại khái là xác đáng. Lại nữa, nếu đứng về
giới hạn của nhận thức mà nói thì sở duyên của năm thức
duy chỉ là tự tướng của pháp (đối tượng) chứ không
thể đạt đến cộng tướng của nó, nhưng thức thứ sáu
thì lấy cả tự tướng lẫn cộng tướng làm duyên (tham chiếu
Bà-sa, quyển 95, Đại-chính, 27 trang 490, hạ và quyển 127,
trang 665, trung). Tôi cho hoặc có thể giải thích như thế này:
thủ tự tướng có nghĩa là tác dụng nhận thức của cảm
giác về tự thể của đối tượng, còn thủ cộng tướng
bao hàm ý nghĩa phán đoán đối tượng đó (lại nói về đối
tượng nội, ngoại thì, nếu theo pháp tướng của Hữu-bộ
năm thức trước chỉ duyên với ngoại cảnh, nhưng thức thứ
sáu, không những ngoại cảnh mà ngay cả một căn, nội thức
cũng là đối tượng của nó, về điểm này,có thể nói,
giữa năm thức trước và thức thứ sáu có sự bất đồng
– Bà-sa, quyển 87, Đại-chính, 27, trang 449, thượng).
Tóm
lại, nếu đứng trên lập trường ngày nay mà bình luận thì:
các nhà Nhất-tâm-luận trước sau vẫn đặt nặng ở thống
giác, về điểm này, thật đã nắm bắt được cái yếu chỉ
của hoạt động tâm lý, nhưng như thế, không tránh khỏi
cái mối tệ là giải thích tâm như một loại thật thể.
Trái lại, các nhà Đa-thức-luận bảo hoạt động tâm lý
của người ta là một phức hợp trong đó bao gồm nhiều trung
khu tâm lý nhỏ, về điểm này tuy đúng, nhưng cũng không tránh
khỏi giải thích nó như một loại tâm lý học năng cự (tức
mối tệ của Ốc-lỗ-bá cho rằng những hoạt động trong
tâm là độc lập). có lẽ chân chính nằm ở khoảng giữa
hai chủ trương này chăng?
CHÚ
THÍCH:
(1)
Về thức một hay nhiều là tranh luận của các học giả Câu-xá
– Quang Nghiêm Sư ở Nam Sơn Thích ca Văn Viện chủ trương
Lục-thức-thể-nhất-luận. Trong 75 pháp, coi tâm là một, đó
là một bằng chứng.
Húc-nhã-sư
thì chủ trương biệt-thể-luận (Câu-xá-danh-sở-tạp-ký,
quyển 1 trang 13 trở đi, quyển 3, trang 23 trở đi).
5-
TÂM VÀ TÂM SỞ.
Trung
tâm hoạt động của tâm lý bất luận được coi là một
hay nhiều, nhưng sự thật hiển nhiên là chúng nó có vô số
tác dụng tâm. Mà những tác dụng chủ yếu, như đã nói ở
trên là tác ý, xúc, thụ, tưởng, tư, nhưng ngoài những trường
hợp này ra còn có những tác dụng tạp đa khác. Dụng ngữ
thông thường được lưu hành giữa các luận sư A-tỳ-đạt-ma
để gọi mọi một cách tóm thâu những tác dụng tạp đa
đó là “tâm sở”. Danh từ tâm, tâm sở đã trong các kinh
điển nguyên thủy (như D. II, Kevaddhasutta, vol-l, p.213; Trường-A-Hàm,
quyển 16, Kiên-cố, v.v…Đại-chính, 1, trang 101, trung). Nhưng
sự thuyết minh về tâm sở thì chưa được tường tận, đến
A-tỳ-đạt-ma luận vấn đề này mới được luận cứu một
cách rộng rãi. Nói theo ý nghĩa thực tại thì đặc chất
tâm-lý-luận Phật giáo là ở như tâm-sở-luận này, mà tâm-sở-luận,
có thể nói, đến A-tỳ-đạt-ma đã là vấn đề trung tâm.
Còn vấn đề này là tổng thể hay là bộ phận thì giữa
các luận sư cũng có những ý kiến khác nhau, điều này tưởng
không lấy gì làm lạ cả.
Do
đó, vấn đề đầu tiên là mối quan hệ giữa tâm và tâm
sở như thế nào. Nếu nói một cách tổng quát thì tâm sở
được bảo là những pháp sở hữu của tâm, tâm là sở hữu
chủ, phụ thuộc vào tâm, nhưng vấn đề chính là ở ý nghĩa
phụ thuộc đó. Nghĩa là, tâm sở rốt cục chỉ là những
tác dụng của tâm tạm thời được rút ra thành những tưởng
niệm riêng rẽ, hay là bày tôi của vua (tâm vương) mà, đến
một rình độ nào đó, cũng có ý nghĩa độc lập? Về vấn
đề này, y lệ cũng lại chia thành hai phái. Một phái cho rằng
ngoài tâm ra không có tâm sở độc lập, tâm sở chẳng qua
không ngoài tác dụng của tâm; còn một phái lại cho rằng
ngoài tâm vương còn có tâm sở. Theo chỗ tôi nghiên cứu phần
chú thích thì các bộ phái đặc biệt chủ trương “Vô-tâm-sở-pháp”
là Vương-sơn-bộ và Nghĩa-thành-bộ thuộc Đại-chúng-bộ-hệ.
Thành-thật-luận cũng là phái vô-tâm-sở có thế lực (xem
Thành-thật-luận, quyển 5, Khổ-đế-tụ-thức-luận, Vô-số-phẩm
60). Các nhà Thí-dụ (1) cũng thế. Điều đặc biệt thú vị
là trong các bậc đại luận sư của Hữu-bộ tôncũng có người
mang ý kiến này. Đó là Pháp Cứu và Giác Thiên trong Bà-sa
hội, Bà-sa, quyển 2 (Đại-chính, 27, trnag 8, hạ) nói, Pháp
Cứu cho tâm và tâm sở thể của nó là tâm. Đối với những
ý kiến này mà đề xướng tâm-tâm-sở-biệt-thể-luận, đứng
đầu là Tích Lan Thượng-tọa-bộ, rồi đến Hữu-bộ và
tất cả các phái khác chủ trương cơ giới chủ nghĩa, tức
là các học phái muốn phân tích các pháp để quan sát một
cách máy móc, là những nhà Biệt-thể-luận. Ai cũng biết
trong Thành-thật-luận quyển 5 (thứ 60-61), vì có đề cập
vấn đề này nên ở đây hãy tạm đưa ra lý do xem sao. Theo
đó thì chính là Thành-thật-luận chủ trương nhất thể luận,
lý do này đã được trình bày rồi. Thứ nhất, xem trong các
kinh văn Phật nói (A-Hàm bộ), tuy thường đề cập nhiều
tâm, nhưng ngoài tâm ra, không có lập luận về tâm sở. Mặc
dầu tựa hồ có nói đếm tâm sở nhưng suy cứu đến ý nghĩa
thì đó chẳng qua chỉ là thuyết minh sự sai biệt của những
tác dụng tâm mà thôi (đại ý của phẩm Vô-số thứ 60. Nói
thức, nói giác, nói tưởng, tóm lại chẳng qua chỉ là bất
đồng về danh xưng, chứ thật thì không ngoài tác dụng nhận
thức của tâm; không những thế, ngay đến thụ, tức cảm
tình, nếu coi nó là y thức, thì nhưng nhiên nó cũng tức là
“biết”). Minh-vô-số-phẩm, Đại-chính, 32, trang 276, thượng).
Như vậy, tác dụng của tâm tuy có nhiều thứ, rốt cục chỉ
là đồng tướng của tâm (tác dụng duyên lự) và bất luận
loại nào cũng chỉ là sự sai biệt cùng một tâm (Minh-vô-số-phẩm
64) – đó là chủ trương của các nhà Nhất-thể-luận.
Đối
lại với chủ trương trên đây là chủ trương tâm, tâm-sở-biệt-luận.
Trước hết hãy đứng về phương diện giáo chứng mà nói:
Phật bảo tổ-chức-tâm-lý, sinh lý của người ta há không
phải là năm uẩn sắc, thụ, tưởng, hành và thức đó sao?
Nếu tất cả tác dụng tâm chỉ là sự sai biệt của tâm,
thì tại sao ngoài thức (tâm) còn nói có thụ, tưởng, hành,
kiến lập những tác dụng tâm như thế? Như vậy, tâm và
tâm sở há không phải là khác nhau sao (Lập-hữu-số phẩm
61)? vả lại tác dụng tâm của người ta có nhiều tướng
bất đồng, tức tướng của thức là ở như sự biết, tướng
của thụ là cảm thụ khổ, lạc, tướng của hành là ở
sự tạo tác, tướng của tưởng là nhận thức các biệt.
Tất cả các cái đó nếu bảo chỉ là sự sai biệt của cùng
một tâm thì đáo để không thể chấp nhận được. Cho nên,
ngoài tâm vương ra còn có những tâm sở tương ứng với tâm
vương, mà về phương diện cụ thể, tất nhiên cũng hiện
khởi tác dụng tâm nhất định (Phi-vô-số phẩm 62). Theo tôi
thấy, về điểm giáo chứng, đức Phật đã không nói một
cách rõ ràng về vấn đề này, nhưng bất luận loại nào
cũng đều có chỗ để giải thích (2), cũng đều nên chú
ý, đó là về điểm lý chứng. Tóm lại, vấn đề này cũng
hệt như vấn đề lục thức trên kia, tức là ý kiến bất
đồng về nhất-dị-luận. Căn cứ theo cùng một lý do, hoặc
có thể nói các nhà Nhất-tâm-luận trước sau vẫn đặt nặng
lập trường tác dụng thống nhất của tâm; còn các nhà biệt-thể-luận
thì lại đặt nặng ở lập trường quá trình phức hợp của
tâm. Nếu đứng trên lập trường tâm lý học sinh lý mà nói
thì những trung khu của tác dụng tâm trong người ta là do
những bơ-thự của não tủy mà quyết định, biệt-thể-luận
có lẽ chính là cái đó. Nhưng các nhà Nhất-thể-luận cho
thống giác trung khu của tâm cũng có ý nghĩa thâm sau của
nó; theo tôi, chúng ta có thể bình phán như vậy.
Về
quan hệ giữa tâm và tác dụng của nó tuy có sự tranh biện
Nhất-tâm-luận và Biệt-thể-luận, nhưng, nói một cách đại
thể, phương điện biệt-thể-luận vẫn được nhất ban nhìn
nhận là đúng. Như đã nói ở trên, bắt đầu từ Tích Lan
Thượng-tọa-bộ rồi đến các bộ phái, bất luận dưới
hình thức nào, đều lấy sự thừa nhận tâm, tâm sở khác
biệt làm thông lệ. tức tâm vương là sở hữu chủ của
tâm sở, tâm sở từ tâm vương mà ra, là vật sở thuộc của
tâm vương, về phương diện sự thạưc cụ thể tuy không
thể lìa tâm vương, nhưng trên khái niệm thông thường có
thể phân biệt để khảo sát. Về sự khu biệt tác dụng
giữa tâm vương và tâm sở thì, theo Câu-xá luận, tâm vương
thủ tổng tướng, tâm sở thủ cả tổng tướng lẫn biệt
tướng. (Câu-xá quyển 1, nói: mỗi mỗi liễu biệt cảnh giới
của nó, thủ tổng cảnh tướng nên gọi là liễu biệt) (3).
Tổng tướng có nghĩa là đại thể rộng lớn của đối tượng
là những biểu tượng mạc-nhiên; còn biệt tướng quy định
nhỏ nhiệm về đối tượng, nghĩa là sự phán đoán thêm
sự thực và giá trị (Chính Lý nói: nhãn thức tuy có nhiều
cảnh hiện trước, nhưng chỉ thủ sắc mà không thủ thanh,
chỉ thủ màu xanh mà không bảo là màu xanh, cũng không phải
khả ý hay bất khả ý, chẳng phải nam nữ, không phải người
này; nhãn thức đối với tự cảnh chỉ thủ tổng tướng,
các thức khác cứ suy đó thì biết – Thuận-chính-lý-luận,
quyển 3, Đại-chính, 29, trang 342, thượng). Mà tâm vương và
tâm sở cùng y chỉ vào căn (có sở y), cùng có đối tượng
(có sở duyên), và kinh doanh hoạt động tâm lý (có hành tướng),
về điểm này, tâm vương và tâm sở không những là đồng
nhất mà còn cùng hòa hợp (tương ưng) để tựa hộ trình
hiện cái tướng trạng của đồng-nhất-thể, Bà-sa luận,
quyển 16, Câu-xá luận, quyển 4, lấy đó làm đề mục mà
luận về sự tương ứng giữa tâm và tâm sở. Nhất là Bà-sa
đã đưa ra ý kiến về vấn đề tương ưng để phể bình.
Tựu trung, thuyết Tứ-sự-bình-đẳng của Vụ-tôn-giả có
vẻ như được mọi người tôn trọng.
Tứ-sự-bình-đẳng
là: 1-Thời phận bình đẳng, nghĩa là tâm vương và tâm sở
phải phát sinh tác dụng cùng một lúc. 2-Sở y bình đẳng,
nghĩa là tâm vương và tâm sở cùng y vào một căn (như nhãn
thức và tâm sở theo nhãn thức cũng y vào nhãn căn). 3-Sở
duyên bình đẳng, nghĩa là tâm vương và tâm sở cùng duyên
một đối tượng. 4-Hành tướng bình đẳng, nghĩa là tâm
vương và tâm sở phát sinh cùng một nhận thức như nhau (như
cái mà tâm vương liễu biệt là màu xanh thì cái mà tâm sở
liễu biệt cũng là màu xanh). Ở đây lại thêm một loại
thứ năm nữa là vật thể bình đẳng, nghĩa là tự thể tâm
vương và tâm sở tất phải là một. Tâm vưông là một thì
dĩ nhiên rồi, thế nhưng cùng một tâm vương là những tâm
sở đồng chủng tộc cũng không phải có nghĩa là hai hay ba
(4), (Bà-sa, quyển 16, Đại-chính, 27, trang 80, hạ; Câu-xá quyển
4). Tức là tâm vương và tâm sở khi kết hợp với nhau thì
ít ra cũng đồng nhất thể, không thể tách rời, nhưng tâm
vương, nhất là ý thức thứ sáu, thường là chủ nhân ông
của những hiện tượng tâm lý, mà tâm sở thì ngoài những
đại địa pháp ai cũng cũng biết ra, những tâm sở khác cũng
có loại tương ưng với tâm vương và được coi là vật sở
hữu của tâm vương. Đó là lý do tại sao các nhà chủ trương
tâm sở biệt-thể-luận coi tâm sở là độc lập vậy.
CHÚ
THÍCH:
(1)
Về vô-tâm-sở luận của các nhà Thí-dụ, luận Bà-sa nói:
các nhà Thí-dụ bảo tư lự là sự sai biệt của tâm (Bà-sa
quyển 42, Đại-chính, 27, trang 216, trung). Hoặc có người chấp
tầm, tư tức là tâm như các nhà Thí-dụ chẳng hạn (như
trên, Đại-chính 27, trang 218, hạ). Cũng về vô-tâm-sở luận
của các nhà Thí-dụ còn thấy trong Thuận-chính-lý-luận quyển
11 (Đại-chính 29, trang 395, thượng). Lại nói lý do của vô-tâm-sở
luận: “Lập tâm sở có nhiều thuyết khác nhau: có thuyết
nói ba đại địa pháp, hoặc nói có bốn đại địa pháp,
hoặc nói có mười đại địa pháp, hoặc nói có mười bốn
đại địa pháp, như thế đã tỏ ra cái nhược điểm của
tâm sở biệt-thể-luận” (Thuận-chính-lý-luận, như trên).
(2)
Vào thời đại Phật giáo nguyên thủy, tựa hồ chưa chia thành
tâm vương tâm sở rõ rệt và cũng chưa có ý đồ kết hợp
cả hai trên quan hệ tương. Tuy có phân tích tâm thành nhiều
thứ nhưng cho nó không xa lìa ý thức. Nếu căn cứ theo Ba
li trung bộ 43, Mahà Ve alla Sutta, thì Xá Lợi Phất nói với
Đại câu Hi La về sự khu biệt giữa thức và tuệ như sau:
“Này bạn! Tuệ tức là thức. Những pháp đó là đồng tướng,
chẳng phải dị tướng. Nếu khu biệt những pháp ấy để
nêu ra sự bất đồng của chúng thì rất khó: vì khi người
biết một vật gì đó thì cái biết ấy là ý thức” (M.
vol. I, p. 292).
Tức
theo các nhà biệt-thể-luận thì thức của tâm vương và tuệ
của tâm sở là hai vật khác nhau, là biệt thể. Vậy nếu
ý kiến của Xá Lợi Phất trên đây nếu cho là đồng nhất
bất dị thì không giống như chủ trương của các nhà Nhất-thể-luận
sao? Theo ý kiến ấy, tôi cho rằng chủ trương của các nhà
nhất-thể-luận có thể gần với cách thuyết pháp của Phật
giáo nguyên thủy. Lại nữa, trong Thuận-chính-lý-luận, các
nhà Thí-dụ y theo Khế-kinh chủ trương “tâm và tâm sở pháp
triển chuyển tương ưng dù là thụ tưởng tư thức những
pháp như thế hòa lẫn không rời không thể thi thiết sai biệt,
ý kinh đã rõ, tâm và tâm sở thể của nó không khác” (Thuận-chính-lý-luận
quyển 11, Đại-chính, 29, trang 395, hạ).
(3)
Thành duy thức luận, quyển 5 (Đại-chính, 34, trang 26, hạ)
nói: “Tâm với sở duyên duy chỉ thủ tổng tướng, tâm sở
với sở duyên thủ cả biệt tướng, giúp cho tâm nên gọi
là tâm sở như người thợ vẽ tô điểm màu sắc cho bức
tranh”.
(4)
Ngoài ra cón có thuyết bình đẳng về tâm vương và tâm sở
của Diệu Âm: sở y, sở duyên, hành tướng, sở tác, tất
cả đồng nghĩa đều là nghĩa tương ưng (Bà-sa quyển 16,
Đại-chính 27, trang 21, thượng).
6-
SỰ PHÂN LOẠI CỦA TÂM SỞ.
Dù
có coi tâm vương và tâm sở là đồng thể hay biệt thể đi
nữa thì sự thật vẫn là tâm của người ta có vô số tác
dụng. Bản lai, mục đích của tâm sở là do đó để nói
rõ cái tính chất ức chỉ và tính chất phát đạt, tuy có
cái hoạt dụng thực tế, nhưng cái phương pháp chỉnh lý
thì, ít ra, đối với tâm-lý-quan phát đạt, cũng có tính
cách khoa học. Song, ở đây chúng ta cần chú ý là, như đã
nói ở chương trước sự phân tích tâm lý này, có thể nói,
không phải là nhiệm vụ lúc đầu của A-tỳ-đạt-ma. Bản
lai Phật giáo lúc đầu là tâm-lý-học, nhất là sự phân
tích tâm lý đến A-tỳ-đạt-ma đã dần dần phát đạt, nhưng
tổ chức nó cho có hệ thống để luận cứu thì đó là công
việc sau khi A-tỳ-đạt-ma đã rất phát đạt. Chẳng hạn,
lúc đầu chuyên theo thuyết ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành,
thức), thập nhị xứ (lục căn, lục cảnh), thập bát giới
(lục căn, lục cảnh, lục thức) của Phật giáo thời kỳ
đầu, lấy những yếu tố căn bản để thành lập vạn hữu
để nói về 37 trợ đạo phẩm; tứ thiền, tứ-vô-sắc, y
theo những đức mục tu hành ấy để đả phá tam độc, tứ
lậu, ngũ dục, thập ác nghiệp,v.v…là đề mục chủ yếu
đựơc luận cứu, điều này tôi đã nói qua ở chỗ khác.
Nhưng, những đức mục đó cũng không ngoài tác dụng ý thức
trong tâm lý của ta mà sinh khởi, bởi vậy mới có vấn đề
chuyên chú phân tích tác dụng tâm lý, và đó là lý do đã
phát sinh tâm-tâm-sở-luận ý thức. Như vậy, sự sinh hoạt
tinh thần của người ta, hoặc từ lập trường tam giới,
hay từ lập trường tam tính (thiện, ác, vô ký), cho đến
từ các lập trường khác, rồi trong những trường hợp như
thế nào, tác dụng tâm có bao nhiêu chủng loại: luận cứu
tất cả những vấn đề đó là đề mục chủ yếu về tâm-lý-luận
của A-tỳ-đạt-ma luận. Nếu theo chính các luận-thư về
vấn đề này thì Pháp-tập-luận thuộc luận thư Nam phương
là luận điể đại biểu; về phía luận bộ Bắc phương
thì như Thức-chân-túc-luận, Phát-trí-luận, tuy cũng có đại
biểu, nhưng đến độ hoàn chỉnh nhất thì phải kể Giới-thân-túc-luận
và Phẩm-loại-túc-luận của Thế Hữu. Tại sao? Vì đến
đây sự phân loại vế tâm sở mới được biểu hiện. Từ
đó tâm-sở-luận mới được biểu hiện, về phía Nam phương,
trong các phần chú thích luận thư của Phật Âm (nhưng tác
phẩm Thanh-tịnh-đạo-luận của Phật Âm không có tâm-sở-luận
đặc biệt mà chỉ lấy việc thuyết minh các đức mục tu
hành làm mục đích). Cuối cùng, thì A-tỳ-đạt-ma pháp yếu
luận thư của A-nâu-lậu-đà trở thành luận điển đại
biểu. Về phía Bắc phương thì tâm-sở-luận trong Đại-tỳ-bà-sa,
Tạp-tâm, Câu-xá, Chính-lý và Hiển-tôn-luận.
Như
vậy, về số mục và phương pháp phân loại của tâm sở
trong các A-tỳ-đạt-ma luận thư như thế nào? Vấn đề này,
trên đại thể, tuy có điểm cộng thông, nhưng do các luận
thư nên chưa hẳn đã nhất định (1). Tức lúc đầu thì lộn
xộn, nhưng sau dần chỉnh lý và tiến bộ. Nếu chiếu theo
các luận thư của Hữu-bộ thì, như đã nói ở trên, đầu
tiên thử phân loại tâm sở là Giới-thân-túc-luận và Phẩm-loại-túc-luận
của Thế Hữu. Theo đó thì cách phân loại là:
A
– 1. Mười đại-địa-pháp, 2. Mười phiền-não-địa-pháp,
3. Mười tiểu-phiền-não-địa-pháp, 4. Năm phiền não, 5. Năm
kiến, 6. năm xúc, 7. năm căn, 8. Năm pháp, 9. Sáu thức thân,
10. Sáu xúc thân, 11. Sáu thụ thân, 12. Sáu tưởng thân, 13.
Sáu tư thân, 14. Sáu ái thân (Giới-thân-túc-luận, quyển thượng,
Đại-chính, 26, trang 614, trung).
B –
1. Mười đại địa pháp, 2. Mười đại thiện địa pháp,
3. Mười đại phiền não địa pháp, 4. Mười tiểu phiền
não địa pháp… (trở xuống cũng giống như trên) (Phẩm-loại-túc-luận,
quyển 2, Đại-chính, 26, trang 698, trung).
So
với Giới-thân-túc-luận thì Phẩm-loại-túc-luận hơn mười-đại-thiện-địa-pháp,
vì Phẩm-loại-túc-luận được chế tác sau Giới-thân-túc-luận,
bởi thế có thể nói, mười đại-thiện-địa-pháp được
thêm vào sau này. Mười đại-địa-pháp, mười đại-thiện-địa-pháp,
mười phiền não địa pháp, mười tiểu phiền não địa pháp,
đều là phương pháp phân loại tiền khu của Câu-xá và Duy-thức
sau này. Nhưng chỉ có thể kiêm nhiếp hết thảy, mà năm phiền
não, năm kiến, năm pháp v, v… tịnh lập thì, dù nói cách
nào đi nữa, cũng đều không trút bỏ được cái hình tích
cũ. Rồi đem chỉnh lý lại nữa là phương pháp phân loại
của luận Đại-tỳ-bà-sa như đã nói trong quyển 42. Vì cách
phân loại này trong Phát-trí-luận không có nên chắc chắn
có thể coi đó là sự phát triển tư tưởng của Thế-Hữu-Hệ.
Theo cách này thì:
1-Đại
địa pháp 10, 2-Đại phiền não địa pháp 10, 3-Tiểu phiền
não địa pháp 10, 4-Đại thiện địa pháp 10, 5-Đại bất
thiện địa pháp, 6-Đại hữu phú vô ký địa pháp 3, 7-Đại
vô phú vô ký địa pháp 10 (Bà-sa, quyền, Đại-chính 27, trang
220, thượng).
Là
bảy loại, năm mươi tám tâm sở. Trừ loại thứ ba là Tiểu
phiền não địa pháp, còn tất cả được gọi là “đại”
là vì nói rõ cái căn để khi tác dụng tâm sinh khởi bao hàm
danh xưng của nó. Nhưng thật ra trong năm mươi tám loại không
phải hoàn toàn khác biệt mà trong đó cũng có nhiều loại
cộng thông. Theo sự thuyết minh của luận Bà-sa thì trong mười
loại đại phiền não địa pháp (bất tín, giải đãi, phóng
dật, trạo cử, vô minh, vong niệm, bất chính trị, tâm loạn,
phi lý, tác ý, tà thắng giải), bất tín, giải đãi, phóng
dật, trạo cử và vô minh lấy thụ, tưởng, tư, xúc, dục
trong đại địa pháp làm thể, cho nên số hai mươi đầu thật
ra chỉ là mười lăm. Lại nữa, ba pháp đầu trong đại bất
thiện địa pháp (vô minh, hôn trầm, trạo cử), nếu nói thì
trong đại phiền não địa pháp cũng có, mà thực số đó
phải là hai loại vô tàm, vô quý. Đại-hữu-phú-vô-ký-pháp
(vô minh, hôn trầm, trạo cử) và đại-vô-phú-vô-ký-pháp
(giống như mười đại địa pháp) cũng hệt như trong đại-bất-thiện-địa-pháp
nói trên, vì thế không có thực thể riêng biệt. Như vậy,
thực thể của 58 loại cuối cùng chỉ còn là 37 loại. Song,
luận Bà-sa vẫn chưa quy định những pháp này một cách chặt
chẽ, cho nên không thể thuyết minh cặn kẽ được. Rồi lại
chỉnh lý nữa là A-tỳ-đàm-tâm-luận của Pháp Thắng, Tạp
A-tỳ-đàm-tâm-luận của Pháp Cứu, và trong Nhập A-tỳ-đàm-tâm-luận
của Ngộ Nhập do Thế Thân truyền lại, tuy không đề cập
đến sự phân loại tâm sở trên tính chất nhưng có thuyết
minh tất cả tâm sở một cách tổng hợp (thêm tâm sở Hân
và Yếm thành ra 77, so với 75 pháp củ Câu-xá thì chỉ hơn
có hai pháp). Rồi lại tổng hợp tất cả mà phân loại trên
tính chất và ổn định số mục của tâm sở, chính là Câu-xá
luận của Thế Thân (theo sự giải thích của Quang Ký).
1-Đại
địa pháp 10:
Thụ,
tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý, thắng giải, tam
ma địa.
2-Đại
thiện địa pháp 10:
Tín,
bất phóng dật, khinh an, xả, tàm, quý,vô tham, vô sân, vô
si, bất hại, cần.
3-Đại
phiền não địa pháp 6:
Vô
minh, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, trạo cử.
4-Đại
bất thiện địa pháp 2:
Vô
tàm, vô quý.
5-Tiểu
phiền não địa pháp 10:
Phẫn,
phú, xan, tật, não, hại, hận, xiểm, cuống, kiêu.
6-Bất
định 8:
Ác
tác, thùy miên, tầm tư, tham, sân, mạn, si.
Tổng
cộng là 46 pháp (Câu-xá quyển 4).
Luận
Duy-thức lại hơi biến đổi một chút thành:
1.Biến
hành, 2.Biệt cảnh, 3.Thiện, 4.Phiền não, 5.Tùy phiền não,
6.Bất định. Con số tâm sở tuy có thêm lên chút ít nhưng
cũng chỉ là thừa kế phương pháp thuyết minh của Câu-xá.
Nếu
lại đối chiếu với Nam phương luận bộ thì cách phân loại
trong A-tỳ-đạt-ma-pháp-yếu-luận của A-nâu-lậu-đà là hoàn
chỉnh nhất, tức chia 52 tâm sở thành bảy loại, mà điểm
thích thú là cách phân loại hơi tương tự như cách phân loại
của Câu-xá hoặc của Duy-thức.
1-Nhất
thiết tâm cộng thông (đại địa pháp) 7:
Xúc,
thụ, tưởng, tư, tâm nhất cảnh, mệnh căn, tác ý.
2-Biệt
cảnh 6:
Tầm,
tư, thắng giải, cần, ái dục.
3-Nhất
thiết bất thiện cộng thông (đại bất thiện địa pháp)
14:
Si,
vô tàm, vô quý, trạo cử, tham, kiến, mạn, sân, tật, san,
ác tác, giải đãi, thùy miên, si.
4-Tịnh
cộng thông (đại thiện địa pháp), 19:
Tín,
niệm, tàm, quý, vô tham, vô sân, trung xả, thân khinh an (3),
tâm khinh an, thân khinh tướng, tâm khinh tướng, thân nhu nhuyễn,
tâm nhu nhuyễn, thân thích nghiệp, tâm thích nghiệp, thân hữu
năng, tâm hữu năng, thân trực, tâm trực.
5-Luật
nghiệp, 3:
Chính
ngữ, chính nghiệp, chính mệnh.
6-Vô
lượng, 2:
Từ,
hỷ.
7-Tuệ
căn.
Tổng
cộng là 52.
(Journal
of the P.T.S. 1884, p-9)
(Compeudium
of Philosophy pp. 94-97).
Như
vậy, theo các luận thư, cách phân loại cũng như số mục
của tâm sở tuy chưa hẳn đã nhất định, nhưng trong đó
cũng có nhiều chỗ cộng thông. Và, để có được tinh thần
nhất quán, đứng trên nhiều lập trường để đem kết hợp
những hoạt động tâm lý thành một khối. Nếu thế, trước
hết phải tìm cho ra cái cơ sở của những hoạt động tâm
lý để khiến cho tác dụng của chúng thành một loại: đó
là đại địa pháp hay là Biến hành mà từ Phẩm-loại-túc-luận
của Thế Hữu đến A-tỳ-đạt-ma pháp yếu luận vẫn nhất
quán, không thay đổi. Do đó, việc nghiên cứu bộ phận này
trong Phật giáo, có thể nói tương đương với tâm lý luận
nhất ban.
Song,
như thường đã lập đi lập lại, mục đích của tâm-lý-luận
Phật giáo không phải chỉ muốn mổ xẻ những tác dụng tâm
để tìm hiểu suông, mà nó là cái đạo lý muốn nương theo
đó mà trừ khử ác, suy tiến thiện để để chuyển mê khai
ngộ. Thích ứng với điểm này mà phân loại tức là các
thiện địa, bất thiện địa, phiền não địa, v.v… đứng
trên lập trường tâm lý luận nhất ban mà nói thì đó là
ứng dụng môn. Trước tiên là những tác dụng tâm tổng quát
làm cơ sở cho thiện tâm là đại thiện địa pháp; thứ đến
là những tác dụng tâm kết hợp ác tâm hay làm cơ sở cho
mê vọng là đại-bất-thiện-địa-pháp và phiển-não-địa-pháp.
Một, về mặt tích cực muốn cầu tăng tiến, một, về mặt
tiêu cực muốn tìm cách chinh phục; vì thuyết minh như thế
nên ta phải đặc biệt chú về bộ phận nền tảng của tâm
lý học tôn giáo và luân lý. Nhất là về cách phân loại
phiền não, ngoài đại phiền não ra còn có tiểu phiền não
hay tùy phiền não là muốn nói rõ các tác dụng tâm đã bị
chinh phục. Có thể nói đó là cơ sở cho lập trường chuyển
mê tất yếu trong Phật giáo. Sau hết là loại bất định,
trung Câu-xá và Duy-thức, chủ yếu là tầm, tư, truy hối và
thụy miên. Nhưng, trong tác dụng tinh thần của người ta,
loại tác dụng tâm này thật ra rất nhiều, nên đặt ra những
mục bất định, về phương diện chỉnh lý, thật rất hữu
ích, đó là điều ta cần ghi nhận. Theo ý nghĩa ấy, tôi cho
rằng Câu-xá và Duy-thức, theo phương pháp của A-tỳ-đạt-ma
pháp yếu luận, lập ra những hạn mục Bất định là rất
đúng.
Tóm
lại, căn cứ theo tâm sở luận đã được trình bày ở trên,
ta có thể chia tâm lý học Phật giáo thành những hạng mục
sau đây để nghiên cứu:
A –
Tâm lý luận nhất ban (chủ yếu là nghiên cứu về đại địa
pháp và bất định địa pháp).
B –
Tâm lý luận đặc thù:
1-
Cơ sở tâm lý học tâm lý (đại thiện địa pháp, bất thiện
địa pháp).
2-
Đặc biệt về phương diện ác đức (phiền não luận).
Song,
tâm lý luận của Phật giáo, thật ra, nếu chỉ có thế thì
vẫn chưa đủ. Bởi vì, nếu chỉ có thế thôi thì đó là
đề mục tâm-lý-luận đặc thù lấy tình hình nhất ban làm
nền tảng, mới chỉ là tâm-lý-luận bình thường chứ chưa
thể nói được là tình tâm lý tu đạo. Mà trong Phật giáo,
tâm lý tu đạo mới là hệ trọng, cho nên đặc biệt dùng
các A-tỳ-đạt-ma để thuyết minh. Chẳng hạn như Thiền định
luận, Trí luận đều là nói rõ cái tâm lý tu đạo đó. Đương
nhiên, đứng trên lập trường nhất tâm mà nói thì tuy đã
bao hàm trong các tâm sở kể trên kia, nhưng nếu lấy tất
cả những tâm sở đó làm tâm lý tu đạo toàn thể thì nó
cũng có một địa vị đặc thù. Hơn nữa, nếu nhận xét
vấn đề theo tâm lý học ngày nay, thì bộ môn này, vì là
một thứ tâm lý thôi miên, hay tâm lý tôn giáo, cho nên, đứng
về phương diện học vấn mà nói, nó cũng là một bộ môn
của tâm lý Phật giáo và cũng chiếm một địa vị ý nhị.
Theo ý nghĩa đó, thêm vào một khoa đặc thù tâm-lý-luận
để làm thành môn thứ ba.
CHÚ
THÍCH:
(1):
A - (1): Giới-thân-túc-luận (Đại-chính 26, trang 614, trung):
1-
Mười đại địa pháp (thụ, tưởng, tư, xúc, tác ý, dục,
thắng giải, niệm, tam ma địa, tuệ).
2-
Mười đại phiền não địa pháp (bất tín, giải đãi, thất
niệm, tán loạn, vô minh, bất chính trị, phi lý tác ý, tà
thắng giải, trạo cử, phóng dật).
3-
Mười tiểu phiền não địa pháp (phẩn, hận, phú, não, tật,
xan, cuồng xiểm, kiêu, hại).
4-
Và năm phiền não, năm kiến, năm xúc, năm căn, năm pháp, sáu
thức thân, sáu xúc thân, sáu thụ thân, sáu tưởng thân, sáu
tư thân, sáu ái thân.
A – (2): Phẩm-loại-túc-luận (Đại-chính 96, trang 698, trung):
1-
Mười đại địa pháp (cũng như Giới-thân-túc-luận).
2-
Mười đại thiện địa pháp (tín, cần, tàm, quý, vô tham,
vô sân, khinh an, xả, bất phóng dật, bất hại).
3-
Mười đại phiền não địa pháp (cũng như Giới-thân-túc-luận).
4-
Mười tiểu phiền não địa pháp (cũng như Giới-thân-túc-luận).
Ngoài
ra, những hạng mục từ năm phiền não đến sáu ái thân đều
cũng giống như trong Giới-thân-túc-luận.
B – Đại-tỳ-bà-sa luận, quyển 42 (Đại-chính, 27, trang 220,
thượng).
1-
Mười đại địa pháp (cũng như Phẩm-loại).
2-
Mười đại phiền não địa pháp (như Phẩm-loại).
3-
Mười tiểu phiền não địa pháp (như Phẩm-loại).
4-
Mười đại thiện địa pháp (như Phẩm-loại).
5-
Năm đại bất thiện địa pháp (vô minh, hôn trầm, trạo cử,
vô tàm, vô quý).
6-
Ba đại hữu phú vô ký địa pháp (vô minh, hôn trầm,
trạo cử).
7-
Mười đại vô phú vô ký địa pháp (cũng giống như mười
đại địa pháp).
C – Tạp-a-tỳ-đàm-tâm-luận của Pháp Cứu,quyển 2, Đại-chính,
28, trang 881-):
1-
Mười đại địa pháp (cũng như trong Bà-sa).
2-
Mười đại phiền não địa pháp (như trên).
3-
Mười tiểu phiền não địa pháp (như trên).
4-
Mười đại thiện địa pháp (như trên).
5-
Hai đại bất thiện địa pháp (vô tàm, vô quý).
D – Câu-xá luận của Thế Thân, quyển 4:
1-
Mười đại địa pháp (như trên).
2-
Mười đại thiện địa pháp (như trên).
3-
Sáu đại phiền não địa pháp (vô minh, phóng dật, giải đãi,
bất tín, hôn trầm, trạo cử - trong mười đại phiền não
địa pháp từ trước, loại bỏ tà thắng giải, bất chính
ức (phi ý tác ý), bất thuận trí (bất chính tri), thất, niệm).
4-
Hai đại bất thiện địa pháp (cũng như Tạp-tâm).
5-
Năm tiểu phiền não địa pháp (như trên).
6-
Tâm bất định địa pháp (ác tác, thụy miên, tầm, tư, tham,
sân, mạn, si).
E – Thành Duy-thức luận, quyển 5-quyển 7 (Đại-chính 31,
trang 27 trở đi):
1-
Năm biến hành (tác ý, xúc, thọ, tưởng, tư).
2-
Năm biệt cảnh (dục, thắng giải, niệm, định, tuệ) –
(Mười đại địa pháp được chia đôi).
3-
Mười một thiên địa pháp (thêm vô si vào mười đại địa
pháp kể trên).
4-
Sáu đại phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Số
thì giống với Câu-xá nhưng nội dung thì hoàn toàn khác).
5-
Hai mươi tùy phiền não (phẩn, hận, não, phú, cuống, xiểm,
kiêu, hại, tật, xan, vô tàm, vô quý, bất tín, giải đãi,
phóng dật, hôn trầm, trạo cử, thất niệm, bất chính tri,
tán loạn).
6-
Bổ bất định (ác tác, miên, tầm tư).
G – Anurudha ‘s Abhidhammatthasangaha (Compendium of Phylosophy pp.
94 – 97):
1-
Hiện hành 7 (xúc, thọ, tưởng, tư, tâm nhất cảnh, mênh căn,
tác ý).
2-
Biệt cảnh 6 (tầm, tư, thắng giải, cần, ái, dục).
3-
Đại bất thiện địa pháp 14 (si, vô tàm, vô quý, trạo cử,
tham, ác kiến, mạn, sân, tật, xan, ác tác, giải đãi, thụy
miên, nghi).
4-
Đại thiện địa pháp 19 (tín, niệm, tàm, quý, vô tham, vô
sân, trung xả, thân khinh an, tâm khinh an, thân khinh tướng,
tâm khinh tướng, thân nhu nhuyễn, tâm nhu nhuyễn, thân thích
nghiệp, tâm thích nghiệp, thân hữu năng, tâm hữu năng, thân
trực, tâm trực).
5-
Luật nghi 3 (chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh).
6-
Vô lượng 2 (từ, hỷ).
7-
Tuệ căn.
(2):
Tâm vô sở pháp của Thành Duy-thức luận như đã chú thích
ở trên.
(3):
Chữ thân (kàya) từ đây trở xuống, theo Phật Âm là ba uẩn
(khandha) thụ, tưởng, hành.
7-
TÂM-TÍNH-LUẬN.
Trở
lên, trên đại thể, đã thảo luận và thuyết minh xong các
vấn để tướng trạng của tâm. từ đây trở đi, theo như
thứ tự đã trình bày ở trên, căn cư vào tâm tác dụng luận
để nói rõ cái tình hình hoạt động tâm lý. Song, ở đây
cũng cần phải luận cứu thêm một vấn đề trọng đại
phụ thuộc vào tâm-tướng-luận: dó là đề mục về tâm
tính tịnh hay bất tịnh. Như ở Trung Quốc có thuyết tính
thiện và thuyết tính ác, trong Phật giáo cũng có nghị luận
về tâm tính-bản-tịnh hay phi bản-tịnh. Ở đây, tôi tưởng
ta cũng nên thảo luận qua về đề mục này.
Bất
luận tâm sở là tâm thể là đồng hay bất đồng, nhưng sự
thật rất hiển nhiên là trong những tác dụng tâm của người
ta có thiện, có ác khác nhau như đã được trình bày ở trên.
Do đó, có thể nói, tâm của người ta nguyên là thiện, ác
lẫn lộn. Nếu nói theo ngôn ngữ đặc hữu của Phật giáo
thì bao hàm tính chất thiện cũng bởi nhân duyên mà ác cũng
do nhân duyên. Đó là cách thuyết pháp của Phật giáo nguyên
thủy mà cũng loà ý kiến của đa số bộ phái. Nhưng, tiến
lên một bấc mà khảo sát cái tính chất của bản tính ấy,
thì theo Phật giáo, con người được thành lập do vô minh,
bản tính của tâm là mê vọng, là chủ ngã, cho nên nó tất
phải là bất thiện và bất tịnh. Đây là tư tưởng được
lưu hành trong giáo đoàn Phật giáo. Lại tiến thêm một bậc
nữa mà nói thì mặc dù con người ở trong vô minh nhưng có
yêu cầu muốn phá vỡ cái vỏ của vô minh để tìm Bồ-đề
và giải thoát: đó là căn cứ gnười ta có thể tiến tới
việc tu dưỡng. Và đây chính cũng là căn cứ có thể biểu
hiện thiện tâm cùng một lúc với phiền não trong các tác
dụng tâm. Do đó, vấn đề được đặt ra là: nên coi bản
tính của tâm là thanh tịnh hay bất tịnh? Đây cũng là nghi
vấn đã nảy sinh trong thời đại Bộ-phái Phật giáo. Mà
điều rất thích thú là, như đã được biểu thị trên tất
cả văn hiến. không có một chủ trương mạnh mẽ nào vế
thuyết tính bất tịnh, mà trái lại, thuyết tâm tính bản
tịnh rất có thế lực và được trích dẫn cũng như phê
bình trên nhiếu văn hiến. Ny thử nhận xét về mặt văn hiến
– trong Tôn-luận-luận có chủ trương sau đây của Đại-chúng-bộ:
“Tâm
tính vốn trong sạch, chỉ vì khách trần phiền não làm nơ
bẩn, nên nói là bất tịnh”.
Lại
trong luận Đại-tỳ-bà-sa quyển 27 nói:
“Hoặc
có người chấp tâm tính vốn trong sạch, chẳng hạn như các
nhà Phân-biệt-luận. Họ bảo rằng tâm tính vốn trong sạch,
vì khách trần phiền não làm cho nhơ nhớp nên tướng không
trong sạch”.
(Đại-chính
27, trang 140, trung).
Lại
trong Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm-luận (1) do Độc-tử-bộ truyền
lại, quyển 27, phẩm Giả-tâm, nói:
“Tâm
tính là thanh tịnh, vì khách trần làm nhiểm ô. Kẻ phàm phu
vì chưa nghe nên không thấy biết một cách như thực, cũng
không có tâm tu. Còn thánh nhân đã nghe nên thấy biết như
thực, và cũng có tâm tu. Xa lìa khách trần nhơ bẩn thì tâm
tính thanh tịnh. Kẻ phàm phu chưa nghe nên không thấy biết
như thực, cũng không có tâm tu. Còn thánh nhân đã nghe nên
thấy biết như thực, và cũng có tâm tu”.
(Đại-chính,
27, trang 697, trung).
Trong
Thành-thật-luận quyển 3. Tâm-tính phẩm 30, cũng lại nêu
lên vấn đề này, rồi phê bình và đả phá nó trong phần
vấn đáp. Lại chiếu theo Nam phương luận bộ thì như Luận
sự đã biểu thị, tuy không có chủ trương tâm-tính-bản-tịnh-luận,
nhưng theo Luận sự 52 thì Bắc-đạo-phái (2) bảo Hữu-học
đã có trí tuệ Vô-học. Lại theo Luận sự 56 thì Án-đạt-la-phái
thừa nhận tục trí, đến một trình độ nào đó, cũng hợp
với chân lý, như vậy cũng ngấm ngầm đạt đến tâm-tính-bản-tịnh-luận
, có thể nó, nếu học phái nào khuynh hướng về phương diện
này đã có chứng cứ. Duy vấn đề ở đây được đặt ra
là phái nào đã đề xướng thuyết “bản tịnh” trước?
Thuyết của Phân-biệt-bộ trong Đại-tỳ-bà-sa, cho đến chủ
trương của Xá-lợi-phất-tỳ-đàm là đại biều chủ trương
cùng một phái hay chủ trương của các phái khác nhau, nhưng
nhất trí? Điều không may là chúng tôi chưa có thể xác định
được vấn đề này. Nhưng nói một cách đại thể, chúng
tôi nghĩ rằng, có lẽ chủ trương đó đã được đề xướng
bởi một phái thuộc Đại-chúng-bộ đứng trên lập trường
để quan sát hết thảy, nhưng về thuyết “bản tịnh” này
– nói theo nghĩa thực tiễn – dĩ nhiên là chủ trương xây
dựng trên nền tảng cường lực khiến cho người ta phát
khởi tịnh tâm.
Tóm
lại chủ trương này, bất luận là do học phái nào đề xướng,
đối với giáo-nghĩa-học của thời bấy giờ cũng như về
sau này, nó cũng có quan hệ trong đại, điều đó cứ xem sự
thực phe bình hay giới thiệu cũng đủ rõ.
Nhưng
có điểm lờ mờ trong thuyết này là ý nghĩa “khách trần
phiền não”, tức là căn cứ theo lý do nào mà nói phiền
não và khách, và tâm thanh tịnh là chủ? Vấn đề này, trên
lập trường sự thực, như trên đã nói, bất luận là thiện
tâm, ác tâm, thanh tịnh tâm, hay bất tịnh tâm, tất cả đều
là khả năng tính phát xuất từ nội tâm của người ta. Đối
với vấn đề này, trong Tôn-luận-luận thuật ký của ngài
Từ Ân đại sư đã nói, sự thực tuy có tịnh tâm và bất
tịnh tâm, nhưng do kết quả của sự tu dưỡng, cuối cùng
trừ khử tâm phiền não bất tịnh mà chỉ còn lại tâm thanh
tịnh, tức lấy tạm thời còn lại làm chủ, và cái đã bị
khử trừ làm khách, tôi cho đấy là cái bản ý của các nhà
chủ trương thuyết này. Song, dù cho thế đi nữa, nhưng bảo
là “vốn trong sạch” (bản tịnh) thì vì không phù hợp
với chân tướng của sự thật nên cũng có phái phản đối
thuyết này: đó là Hữu-bộ và Thành-thật-luận. Hữu-bộ
cho rằng sự thiện, ác, tịnh, bất tịnh trong người ta là
tùy theo mỗi tâm sở tương ưng với tâm vương, về bản tính
không thể nói là tịnh, cũng không thể nói là bất tịnh
được. Nếu bảo tâm tính là bản tịnh, thì: “Nếu khách
trần phiền não bản tính nhiễm ô, tuy cùng với bản-tính-thanh-tịnh-tâm
tương ưng mà tướng không thanh tịnh, như vậy, bản tính
của tâm cũng vẫn thanh tịnh chứ không vì cái tướng khách
trần phiền não mà trở nên bất thanh tịnh được. Lại nữa,
cái bản tính tịnh tâm này sinh ra trước khách trần phiền
não hay đồng thời với khách trần phiền não? Nếu là sinh
trước thì tất phải chờ đợi phiền não. Mà nếu thế thì
tất phải trụ lại trong hai sát na, không phải sát na diệt
nữa?” Bởi vậy, chủ trương thanh tịnh tâm đã trái với
quy tắc tâm lý học, do đó, thuyết của các nhà Bản-tịnh-luận
không thể thành lập được (Bà-sa, quyển 27, Đại-chính,
27, trang 140, trung, hạ).
Thành-thật-luận
công kích vấn đề này đại khái cũng như trên. Tức là,
căn cứ vào lý do trên đây, Thành-thật-luận bảo phiền não
tương ưng với tâm mà sinh khởi, không thể chỉ cho nó là
khách (Thành-thật-luận quyển 3, Tâm-tính-phẩm 30). Như vậy,
có thể nói các nhà tâm-tính-thanh-tịnh-luận xét tâm tính
về mặt hình-nhi-thượng-học; còn các nhà tương-ưng-luận
thì trước sau vẫn theo tướng trạng hay tác dụng của tâm
để khảo sát nó. Do chỗ lập cước của mỗi bên khác nhau,
nên vấn đề này, có nhiều điểm để phê bình. Về sau,
đến Đại thừa luận cũng lại có những lập trường bất
đồng về tương ưng tâm và bất tương ưng tâm.
Đại
khái tuy cùng một lập tường với bản-tịnh-luận nhưng coi
tâm là trung tính, là các nhà được mệnh danh Nhất-tâm-tương-tục-luận.
Nhưng phái nào chủ trương Nhất-tâm-tương-tục-luận? Vấn
đề này hiện nay chính tôi cũng chưa được rõ, nhưng theo
Bà-sa luận thì học-phái thừa nhận sự thống nhất của
tâm rồi chủ trương sự thống nhất đó là tương tục, đại
khái gần như Độc-tử-bộ tự thân. Theo phái này, như đã
nói ở trên, bản tính của tâm một mặt là tương tục, một
mặt là bất biến, do đó, bất luận là thiện tâm khởi,
hay ác tâm khởi, có phiền não khởi (có tùy miên), tất cả
đều cùng một tính. Khi phiền não khởi thì cũng như quần
áo hay tấm gương bị một lớp bụi phủ kín; khi Thánh đạo
hiện ra thì phiền não tiêu diệt cũng như quần áo được
giặt sạch và gương được lau bụi… (Bà-sa, quyển 22, Đại-chính
27, trang 110, thượng). Tức ngoài tướng là dụng của tâm
nhận có tâm tính cũng gần giống như bản-tịnh-luận. Nhưng
không nói rõ hẳn là bản tịnh, mà chỉ bảo bất luận có
tùy miên hay không tùy miên, cũng là một; như vậy, về phương
di65n trung lập, có thể nói lại cũng tương tự như thuyết
tương ưng của Hữu-bộ vậy. Song, trên đại thể thì sự
thật hiển nhiên vẫn là gần với thuyết của các nhà chủ
trương bản-tịnh-luận.
Tóm
lại, nếu cho tâm-tính-luận này là vấn đề tính chất của
tâm thì tuy là vấn đề tâm lý, nhưng thật thì nó là đề
mục hình-nhi-thượng. Sau không bao lâu, khi thuyết Như lai tạng
hoặc thuyết Tâm chân như phát xuất thì phương diện hình-nhi-thượng
thật đã ngấm ngầm nặc khởi (chủ trương cho thức A-lại-da
là vọng thức đã phát xuất từ thuyết tâm-bản-bất-tính;
còn Như-lai-tạng-luận có thể nói đã khai triển từ thuyết
tâm-tịnh).
CHÚ
THÍCH:
(1):
Về Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm-luận, tham chiếu “Nghiên cứu
A-tỳ-đạt-ma luận”, (trang 149).
(2):
Xem Kết-tập-sử và Phân-phái-sử-khảo, trang 49.
(3):
Duy-thức luận (20 luận) do Bát-nhã-lưu-chi dịch, nói: Tâm
có hai loại: một là tâm tương ưng, hai là tâm bất tương
ưng. Tâm tương ưng có nghĩa là tất cả tâm phiền não, kiết
sử, thụ, tưởng, hành… tương ưng. Bởi thế nên nói rằng
tâm, ý và ý thức tên khác mà nghĩa là một. tâm bất tương
ưng là đệ nhất nghĩa đế thường trụ, bất biến tự tính
thanh tịnh (Đại-chính, 31, trang 64, trung).