THIÊN
THỨ NĂM
LUÂN
LÝ LUẬN
CHƯƠNG
2
BA
TÍNH THIỆN, ÁC, VÔ-KÝ.
1-
TIÊU CHUẨN THIỆN, ÁC.
Điểm
chủ yếu của đạo đức là làm lành lánh ác. Do đó, các
phạm vi của đạo đức, nói theo tâm căn hoặc hành động,
tất kinh không ngoài hai ngã thiện, ác; hoặc giả, giữa khoảng
đó thêm một yếu tố trung-gian không thiện, không ác thì
thành ra ba ngả. Phật giáo, nhất là A-tỳ-đạt-ma, hoàn toàn
căn cứ vào phương pháp chia ba trên đây để đánh giá đạo
đức. Nói theo thuật ngữ thì đó là ba tính thiện, ác và
vô-ký.
Song,
nếu bảo thế nào là thiện, thế nào là ác, nói theo thường
thức, thì không thể quyết định một cách đơn thuần được.
Sự bình-giá thiện ác, ít ra là trên kinh nghiệm, do thời
gian, xứ sở và vị trí mà có sự bất đồng rất lớn. Về
điểm này, cứ xem những lời Phật nói trong Ni-kha-da, Phật
tuy luôn luôn nói đến thiện, ác, nhưng chủ yếu là lấy
mục-tiêu thực tiễn làm mục đích, trên quan hệ, cố nhiên
cũng nói theo nguyên-tắc nhất-ban, nhưng về phương diện đức
mục thì, chẳng qua chỉ lấy chỉ thị làm thông lệ mà thôi.
Ai cũng bết làm mười điều lành là thiện, tạo mười nghiệp
ác là ác, mà điều này hầu như đã trở thành một thuyết
minh có định hình. Song, nếu chỉ có thế thôi thì sẽ thiếu
mất cái nguyên tắc nhất ban, trên quan hệ, đến A-tỳ-đạt-ma,
tuy nghiên cứu ý nghĩa của lời nói trong các kinh, nhưng đối
với thiện, ác dần dần đã muốn nói rõ cái căn cứ nhất
ban của nó.
Nhưng,
A-tỳ-đạt-ma đặt tiêu chuẩn thiện, ác ở điểm nào? Về
điểm này, sự khảo sát tuy phức tạp, nhưng cái tiêu-chuẩn
trước hết thì đại thể là hạnh phúc. LuậnThành-thành
8, phẩm Tam-nghiệp 100, nói:
“Bất
luận nghiệp nào có thể làm cho người khác những điều
tốt lành, thì gọi là thiện. Làm cho người khác được vui
thì gọi là hảo, cũng gọi là thiện, cũng gọi là phúc”[1]
Mà
“làm việc tốt lành cho người” ở đây, nói theo lập trường
Phật giáo, cũng tức là làm cho chính mình; bởi thế nói cách
nghiêm khắc, khi đem lại hạnh-phúc cho người thì chính mình
cũng được hạnh phúc, cứ thế mà làm thì gọi là thiện;
nếu việc trước mắt, đối với mình, tuy có lợi ích nhưng
hại cho người khác mà cứ làm thì gọi là ác, còn ở vào
giữa khoảng đó thì gọi là vô-ký. Tức là, nếu kết quả
của việc làm mang lại lợi ích cho mình, cho người là thiện,
còn ngược lại, là ác. Mà con đường điều hòa tự lợi,
lợi tha là ứng dụng pháp tắc luân hồi nghiệp báo. Khi làm
một việc gì, đối với mình dù không có lợi ích, nhưng
nếu nó tăng thêm hạnh phúc cho người khác thì cuối cùng
chính mình cũng được quả báo hạnh phúc, theo ý nghĩa ấy,
việc làm đó là thiện (về ý hiện, tham chiếu Atthasalini
p, 38, f. The expositor I, pp. 48 – 49). Thành-duy-thức-luận nói:
“Thuận ích đời này, đời khác là thiện, hại tổn đời
này, đời khác là ác”[2], chính cũng do ý nghĩa trên đây
mà ra. Ðứng về phương diện người hành động mà nói thì
tiếng đời này, đời khác có thể được hiểu theo nghĩa
thuận hiện-báo, thuận sinh báo v.v… nhưng nếu chia nó thành
mình, người, thì tôi cho rằng chúng ta có thể giải thích
như thế này: đới này là chỉ cho người khác hay xã hội,
còn đời khác là chỉ cho chính mình. Theo ý nghĩa ấy, ta có
thể nói luân-lý-quan của Phật giáo là một thứ công-lợi-luận.
Nếu chỉ hạn cục trong ý nghĩa ấy thì nó là chủ-nghĩa
công-lợi, nhưng nếu quan sát nó thông cả ba đời (tam thế)
thì nó cũng có thể là kiêm cả tự-lợi chủ-nghĩa và lợi-tha
chủ nghĩa.
2-
Ý NGHĨA HẠNH PHÚC.
Song,
ở đây lại thành vấn đề là hạnh phúc tức là ý nghĩa
vui sướng. Bản tính con người là truy cầu hạnh-phúc, cho
nên, những hành vi mang lại hạnh phúc cho mình và cho người,
ít ra, tên kết quả, không trái với lẽ thiện, nhưng vì cái
ý nghĩa của hạnh phúc không rõ ràng, cho nên từ xưa người
ta đã cho đó là khuyết điểm của luân-lý-quan hạnh-phúc.
Phật-giáo nói, hanh-phúc (tức là lạc) có nghĩa là thỏa mãn
mọi ý dục, người được quả thiện hầu như có nghĩa thỏa
mãn với cảnh ngộ đó, về điểm này, cứ xem cách dụng
ngữ thì đủ rõ. Song, dĩ nhiên, đây không phải là mục đích
tối cao của Phật-giáo. Phật-giáo chán hạnh-phúc có nhiều
biến hóa, bởi thế, tuy cũng tầm cầu hạnh phúc nhưng lại
lấy hạnh phúc vĩnh viễn bất biến làm lý-tưởng. Ðó chính
là giải thoát niết-bàn, bởi Phật giáo thường nói “Niết
bàn là niềm vui tối cao”. Do đó, theo Phật giáo, tuy cũng
gọi là làm lành, nhưng tên tính chất hoặc trình độ thì
có sự khác nhau, tức là, nói thoe thuật-ngữ, có hữu-lậu-thiện
và vô-lậu-thiện khác nhau. Những hành vi lấy chủ trương
ý dục làm cơ sở, mong làm thỏa mãn mọi dục vọng dù không
phải ở hiện thế mà ở vị lai cũng vậy, đó là hữ-lậu-thiện,
còn những hành vi xả li mọi dục vọng ở hiện thế, tầm
cầu niềm vui giải thoát vĩnh viễn tối cao là vô-lậu-thiện.
Như vậy, tuy cũng tầm cầu hạnh phúc, nhưng đến hạnh phúc
biến hóa hay không biến hóa, cảm giác hay ức chế tinh thần,
thì về điểm thiện cũng có chỗ bất đồng. Khi định
nghĩa chữ thiện, A-tỳ-đạt-ma đã thường suy nghĩ nhiều
về ý nghĩa này, đó là điểm ta không thể bỏ qua. Chẳng
hạn, Bà-sa quyển 51, khi định nghĩa thiện, ác, tuy có đưa
ra nhiều thuyết, nhưng đại khái cũng bao hàm ý nghĩa trên.
Như:
Hỏi:
Thế nào gọi là thiện, bất thiện, và vô ký?
Ðáp:
Những pháp khéo giữ gìn, có chiêu cảm quả tr thích, tính
an ổn thì gọi là thiện. Khéo giữ gìn là tỏ Ðạo-đế,
có thể chiêu cảm quả ưa thích là tổ Khổ, Tập-đế, tức
Hữu-lậu-thiện, tính an ổn là tỏ Diệt-đế. Nếu pháp không
khéo giữ gìn, có thể chiêu cảm quả không ưa thích, tính
không an ổn, thì gọi là bất thiện. Tất cả đều tỏ Khổ,
Tập-đế, tức mọi ác pháp. Nếu những pháp trái với hai
loại trên đây gọi là vô-ký. Lại nữa, nếu những pháp
có thể chiêu cảm quả khả ái, quả lạc thụ thì gọi là
thiện, chiêu cảm quả không khả ái, quả khổ thì gọi là
bất thiện, nếu ngược lại với hai loại trên đây thì gọi
là vô-ký. Lại nữa, nếu các pháp có thể nảy sinh ra mầm
mống khả ái, mầm mống giải thoát thì gọi là thiện, nếu
nảy sinh mầm mống không khả ái thì gọi là bất thiện,
ngược lại hai loại trên gọi là vô-ký. Lại nữa nếu các
pháp có thể khiến cho sinh vào thiện-thú thì gọi là thiện,
khiến sinh ác thú thì gọi là bất thiện, và ngược lại
hai loại trên là vô-ký. Lại nữa, các pháp đọa Hoàn-diệt-phẩm,
tính nhẹ nhàng, gọi là thiện, đọa Lưu-chuyển-phẩm, tính
nặng nề, gọi là bất thiện, trái lại hai loại trên là
vô-ký (Bà-sa quyển 51, Ðại-chính, 27, trang 263, thượng).
Tất
cả định nghĩa về thiện, ác trên, bất luận laọi nào,
cùg với hạnh-phúc ở luân-hồi-giới, đều hàm ngụ ý nghĩa
hướng đến giải-thoát-giới. Mà cái quan hệ giữa hữu-lậu-thiện
và vô-lậu-thiện này, đứng ở một phương diện mà nhận
xét, tuy thấy có trình độ cao, thấp khác nhau, nhưng, đứng
ở một phương diện khác nhau mà nhận xét, thì tựa hồ lại
có tính chất bất đồng. Như trên đã nói, nếu không chỉ
dương hai điều đó thì không tránh khỏi nhận định
có hai lớp bạo-đức-quan.
3-
TÂM CĂN THIỆN ÁC.
Nhận
xét theo những quan điểm ở trên, ta thấy đạo-đức-quan
của Phật giáo rất giàu sắc thái công-lợi, do đó đặc
biệt chú trọng ở kết quả của những hành vi. So với cái
gọi là đạo đức tính của Khang-Ðức, tuy có vẻ chú trọng
ở thích-pháp-tính, nhưng đây mới chỉ quan sát một mặt
thôi[3], nếu đứng ở một phương diện khác mà khảo sát
thì, như sẽ bàn đến sau, Phật-giáo chủ-trương động-cơ-luận,
thay vì chú trọng ở hành vi bên ngoài lại chú trọng ở phương
diện tâm-căn mà cổ giá thiện, ác: đó là điểm chúng ta
cần ghi nhận. Như đã trình bày ở trên, Phật-giáo giải
phẩu những tác-dụng tâm-lý của người ta, nên mới phân
biệt thành ba tính. Nhất là gọi tự tinh thiện hay tự tính
bất thiện thì chính ngay cái tâm-căn tự nó là thiện hoặc
bất thiện rồi. Dĩ nhiên, về cách giải thích tâm căn tự
tính thiện, tự tính bất thiện, cũng tùy theo người hay phái
mà có sự bất đồng. Theo Ðại-tỳ-ba-sa quyển 51 thì tự
tính thiện có thể là tâm, quý hay là vô-tham, vô-sân, vô-si,
mà như ai cũng biết, các nhà chủ trương phân biệt luận
cho trí (sự phán đoán chính xác) là tự-tính-thiện. Ngược
lại với những đức tính trên, người ta đều cho vô tâm,
vô quý hay tham, sân, si là tự-tính bất thiện. Tuy có ít nhiều
ý kiến bất đồng, nhưng đều cho tâm-căn là căn bàn của
hành vi đạo đức và phải tuỳ thuộc vào đó mà định giá
trị thiện, ác: đó là điểm ta không thể bỏ qua (Bà-sa quyển
51, Ðại-chính, 17, trang 263, trung; Câu-xá quyển 13). Ðiều
cần đặc biệt lưu ý là trong đó lấy tâm quý làm tự tính.
Theo sự giải thích của A-tỳ-đạt-ma thì tâm hoặc có thể
nói là tâm trọng đạo đức hay là tâm tự thấy hổ với
mình; quý là tâm sợ tội ác, hay là tâm thẹn với người
(Câu-xá quyển 3). Nếu nói theo ngôn ngữ ngày nay thì cách
thuyết minh trên đây đại biểu cho quan niệm gần như lương-tâm.
Lấy lương-tâm làm tự-tính-thiện, ngược lại là lương-tâm
tự-tính-bất-thiện. Nhận xét theo quan điểm đó thì ta thấy
đạo-đức-quan của A-tỳ-đạt-ma rốt cuộc lấy lương tâm
làm nguyên lý của đạo đức và cho đây là một loại trực-quan-phái.
Ðương nhiên, theo A-tỳ-đạt-ma thì do hành-vi tâm, quý đó
mà chiêu cảm quả tự-lợi, lợi-tha; trái lại, hành-vi vô-tâm
vô-quý chung cuộc sẽ mang lại quả ác. Theo ý nghĩa ấy, tuy
vẫn quan hệ đến công-lợi, nhưng có thể nói đó là pháp
tự nhiên nhi nhiên, đến như sự bình giá trị đạo đức
thì đặc biệt chú trọng tâm căn tự thân. Nếu quên điểm
đó mà định đoạt đạo-đức-quan của Tiểu-Thừa Phật-giáo
là ở như chủ nghĩa công-lợi thì rất có thể biến thành
một kiến luận sai lầm, đó là điều ta cần ghi nhận.
4-
BỐN LOẠI THIỆN, ÁC.
Như
vậy, tuy cũng nói là thiện, nhưng A-tỳ-đạt-ma một mặt
hỗ-tương quan liên, mặt khác cũng theo một lập trường hơi
đặc biệt muốn nghiêng về phương diện tâm lý để
thuyết minh và tổng hợp thiện qua thuyết tứ sự bắt đầu
biểu hiện trong luận Ðại-tỳ-ba-sa, tức là theo bốn phương
diện để diễn tả quan-niệm-thiện, ác. Tứ sự là: 1- Tự
tính, 2- Tương-ưng, 3- Ðẳng-khởi, 4- Thắng-nghĩa. Tựu trung,
tự tính, tương ưng và đẳng khởi chuyên nói theo lập trường
tâm-lý-luận, còn thắng-nghĩa thì nói theo hạnh-phúc tối-cao.
tự tính tức là tự tính của tâm căn thiện; tương ưng là
tác dụng tâm lấy tâm căn làm trung tâm để cùng hiện khởi;
đẳng khởi là do tâm căn mà biểu hiện hoạt động của
ý chí; thắng nghĩa là cảnh giới giải thoát Niết bàn. Nhưng
đây mới chỉ nói một cách nhất ban thôi; nếu lại đi sâu
hơn nữa thì những tác dụng tâm ấy như thế nào? Vấn đề
này, như đã nói ở trên, có nhiều ý kiến khác nhau. Hãy
thử kể đến những điểm chủ yếu. Vụ-tôn-giả nói: “Tự
tính có nghĩa là tự-tính-thiện, hoặc bảo là tâm, quý hay
là ba thiện căn. Tương ứng tức là tự tính tương ứng với
các pháp tâm, tâm-sở. Ðẳng khởi là khởi thiện; tức là
nó không tương ưng (bất tương ưng hành) với những cái do
hai nghiệp thân, khẩu phát khởi. Thắng-nghĩa là thắng nghĩa
thiện, tức là Niết-bàn an ổn nên gọi là thiện”. Song,
các nhà phân biệt luận, đối với vấn đề này, lại hơi
nghiên về phương diện chủ trí chủ nghĩa để giải thích.
Theo họ, tự tính thiện chỉ cho trí, tức tính bất thiện
chỉ cho vô tri, ngu si; tương ưng thiện, hoặc tương ưng bất
thiện là chỉ cho thức (tâm tự thân không phải thiện, không
phải ác); đẳng khởi thiện hay đẳng khởi ác, như vừa
nói ở trên, là bất tương ưng hành; còn thắng-nghĩa-thiện
là niết-bàn, thắng nghĩa bất thiện là sinh tử. Ý kiến
của Hiếp-tôn-giả thuộc Hữu-Bộ cũng gần với ý kiến
trên đây. Theo Hiếp-tôn-giả thì như lý tác ý (phán đoán
chính xác) là tự tính thiện, phi lý tác ý là tự tính bất
thiện, những tác dụng tâm tương ứng và cùng khởi (đẳng
khởi) với những tính trên là đẳng lưu quả của chúng,
vì thế mỗi tác dụng đều được coi là thiện hoặc bất
thiện. Ngoài ra, còn có cách giải thích lấy tam thiện căn
(tam bất thiện căn), ngũ căn (ngũ cái) v.v… làm tự tính
để thuyết minh tự tính tương ưng, đẳng khởi, thắng nghĩa
v.v… nhưng sợ quá phiền tỏa, nên chỉ nói sơ lược như
thế thôi. Theo sự thuyết minh này thì tự tính, tương ưng,
đẳng khởi chuyên nói về hữu-lậu-thiện, như tự thể của
lương tâm, căn cứ nơi lương tâm mà có được sự phán đoán
chính xác, tóm lại, tâm căn là tự tinh của thiện ác. Nói
theo thuật ngữ thì hoat động tâm lý lấy đẳng khởi quả
mà khởi thiện ác, và bất luận lúc nào cũng đều sẽ chịu
vận mệnh may (thiện) rủi (ác), tức lấy dị thục quả mà
quy kết ở thiện, ác (điều này đã được nói đến trong
Tập-dị-môn-túc-luận, và Bà-sa đã giải thích rõ. Bà-sa
quyển 51, Ðại-chính, 27, trang 263, trung, hạ). Ðịnh nghĩa
thiện, ác chuyên xuất phát từ lập trường may, rủi như
thế thì ta thấy rốt cuộc không ngoài việc lấy dị thục
quả làm trung tâm. Như, điểm thứ tư, tức thắng nghĩa, lấy
sinh-tử Niết-bàn làm tiêu chuẩn, muốn từ cảnh địa tối
cao thuyết minh thiện, bất thiện là tinh thần của thuyết
Tứ sự nói trên (Bà-sa, như trên, Câu-xá quyển 13).
5-
VẤN ÐỀ TỰ DO Ý CHÍ.
Có
thể nói A-tỳ-đạt-ma căn cứ vào chủ nghĩa tâm lý kinh nghiệm
mà định thiện, ác. Do đó, cũng như vấn đề đề tự do
ý chí bên Tây phương. vấn đề luân lý trong Luân-lý-luận
của A-tỳ-đạt-ma rất sôi nổi. Trên kinh nghiệm, người
ta khí định làm một việc gì tất phải có sự tự do muốn
làm hay không muốn làm. Vả lại, như đã được trình bày
ở trên, đức Phật đã bài xích tất cả thần-ý-luận, Túc-tác-luận,
Ngẫu-nhiên-luận mà thừa nhận hoạt động tự phát của
ý chí hậu thiên, thường cho hữu ý là trách nhiệm đạo
đức, bởi thế, các A-tỳ-đạt-ma luận sư lấy đó để
giải quyết vấn đề để giải quyết vấn đề này tưởng
cũng là lẽ tự nhiên, không có gì đặc biệt cả. Theo ý
nghĩa ấy, ta có thể nói ý-chí-luận của A-tỳ-đạt-ma Phật
giáo là tự-do luận thường thức. Song, nếu lại bước thêm
một bước nữa mà khảo sát, do tính tích và khí chất của
tiền nghiệp, ý chí của người ta tự do đến một trình
độ nào thì dĩ nhiên, đây không phải vấn đề mà thường-thức-luận
có thể định định được. tóm lại, có thể nói, phạm
vi vấn đề đề đạo đức thừa nhận ý chí tự do là lẽ
đương nhiên. Ðó là lý do tại sao lấy sự phân biệt thiện,
ác và vô ký làm chủ rồi tuy đặt nặng ở tự thể tâm
căn nhưng lại lấy hành vi đẳng khởi mà thành lập sự phân
biệt ba tính vậy.
6-
CĂN CỨ CỦA TINH TIẾN ÐẠO ÐỨC.
Còn
một vấn đề nữa, theo A-tỳ-đạt-ma thì tác dụng tâm của
người ta có thiện, ác khác nhau, mà khuynh hướng tự nhiên
lại thắng thế về phương diện ác. Tại sao con người phải
nỗ lực hướng thiện là vấn đề cần được luận cứu.
Sự tôn nghiêm của đạo đức không phải ở chỗ tiến theo
tự nhiên mà là ở chỗ gắng sức tiến tới: đó là một
trong những vấn đề đạo đức không thể không khảo sát
tới. Theo chỗ tôi biết, trong A-tỳ-đạt-ma không đặt tinh
tiến đạo đức thành vấn đề đặc biệt, bởi lẽ cứ
xem hai mục lớn về định nghĩa thiện đã trình bày ở trên
ta cũng thấy rất rõ ràng ngay từ đầu cái căn cứ tinh tiến
đạo đức của A-tỳ-đạt-ma Phật-giáo rồi, mặc dầu về
phương diện hình-nhi-thượng-học các bộ-phái thuyết minh
tuy có nhiều điểm khác nhau, nhưng cái tinh thần nhất ban
thì đại khái cũng tương đồng. Thứ nhất, là y vào sự
sợ hãi lau6n hồi nghiệp báo, tức làm ác dù có được lợi
trước mắt nhưng do quy tắc nghiệp báo, không bao lâu, chắc
chắn sẽ phải trường kỳ thụ khổ, trái lại, nếu làm
thiện thì dù trước mắt có phải thiệt thòi đi nữa, nhưng
cuối cùng sẽ được sung sướng, bởi thế, nếu muốn được
hạnh phúc lâu dài, bất luận trong hoàn cảnh nào, dủ khổ
đến đâu đi nữa, đều nên cố gắng tránh ác hướng thiện.
Ðối với học phái coi tự tính của thiện tâm là tâm quý
(tức lương tâm) mà lấy đó làm trí hay như ý tác ý mà muốn
giải thích ý nghĩa công lợi này, tức sự phán đoán về
lợi, hại, đắc, thất vậy. Nếu nói theo giá trị đạo đức
đó thì tuy rất thấp, nhưng, ngoài công lợi ra, người ta
không thể tưởng niệm đến bất cứ việc gì khác, cho nên,
đối với đa số người, nó biến thành căn cứ tinh tiến
vĩ đại mà cũng là điểm trọng yếu nhất trong A-tỳ-đạt-ma.
Thứ hai, từ lập trường này, xu hướng tới giải thoát là
đạo trình tất nhiên. Tức lấy tự tâm làm cơ sở mà phát
tâm chinh phục tội ác là điều kiện tất nhiên để đi đến
giải thoát. Bởi vậy, nếu ai chí tâm ở giải thoát thì tất
phải lánh ác, hướng thiện. Bất cứ ai, nếu thức tỉnh
lý tính, dốc chí giải thoát là thực hiện ngay lý tính (trí
tuệ) của chính mình, cho nên, làm lành chẳng qua cũng không
ngoài việc qui định tự thể lý tính của chính mình. Dĩ
nhiên, đây không phải ý kiến rõ ràng của tất cả học
phái, nhưng cho tâm quý là tự tính thiện, tiến đến chủ
trương thuyết tâm-tính-bản-tịnh, có thể nói, chính là muốn
bày tỏ quan điểm trên. Ðến đây, luân lý quan kinh nghiệm
và công lợi chủ nghĩa cuối cùng đã chuyển thành lý tưởng
chủ nghĩa. Nhưng thật ra, ý nghĩa này chỉ ẩn tàng trong A-tỳ-đạt-ma
thôi, chứ thật sự được thuyết minh rõ ràng thì phải đợi
đến Ðại-Thừa sau này (A Buddhist Manual of Psychological Ethics
pp. LXXXII – XCV cf).
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Thành-thật-luận quyển 8, phẩm Tam-nghiệ 100 nói: “Nếu người
làm lợi mình lợi người, lợi đời này, lợi đời sau, đếu
lấy thiện tâm làm gốc; nếu kẻ làm hại mình, hại người,
hại đời này, hại đời sau, đều lấy bất-thiên-tâm làm
gốc”.
[2]
Thành-duy-thức-luận quyển 5 (Ðại-chính 31, trang 26, trung),
nói: “Có thể làm cho đời này, đời khác thuận ích thì
gọi là thiện. Lạc quả cõi nhân, coi Thiên, đối với đời
này tuy có thể làm thuận ích nhưng không thuận ích cho đời
khác thì không gọi là thiện. Làm cho đời này, đời khác
tổn hại thì gọi là bất thiện. Quả báo ở ác thú, tuy
đối với đời này có thể làm vi tổn nhưng không vi tổn
đối với đời khác thì không phải là bất thiện. Trong nghĩa
thiện, bất thiện tổn, ích, không thể phân biệt rõ thì
gọi là vô-ký”.
[3]
“Ðạo-đức của A-tỳ-đạt-ma Phật-giáo có tính cách khoa-học,
giống như đạo đức tiến-hóa-luận” – xem Mrs. Rhys Davids;
A Buddhist Manual of Psychological Ethise Tựa p. LXXXVI.