CHƯƠNG
III
NHỮNG
TÁC DỤNG VỚI BA TÍNH
1-
LỜI TỰA.
Như
đã được trình bày trong chương trước, luân lý luận của
A-tỳ-đạt-ma chuyên đứng trên lập trường của chủ nghĩa
tâm lý kinh nghiệm. Mà cái đặc rưng của tâm lý luận A-tỳ-đạt-ma
là ở chỗ phân tích những tác dụng tâm lý thành nhiều yếu
tố mệnh danh là tâm sở, rồi lại tiến lên bước nữa,
lấy tính chất thiện, ác để làm tiêu chuẩn và chia thành
nhiều số mục như đã được trình bày ở trên. Như trong
tâm lý luận nhất ban ở thiên trước đã nói rõ cơ sở của
các tác dụng tâm, bây giờ xin bàn kỹ về những tác dụng
tâm thiện, ác để làm tiêu chuẩn mà tiến đến hành vi luận.
Một đặc trưng lớn của A-tỳ-đạt-ma là muốn trước hết
xuất phát từ tâm lý sự thực thuyết minh cái cơ sở của
tâm lý đạo đức, nghĩa là theo chủ nghĩa tâm lý mà bàn
về luân lý.
Trong
sự phân tích tâm lý lấy thiện, ác làm tiêu chuẩn tuy có
nhiều phương pháp, nhưng, nếu chỉ nhận xét theo điểm này,
thì cái phương pháp có hình thức hoàn chỉnh nhất là cách
phân loại thành bảy mục trong luận Ðại-tỳ-ba-sa (Quyển
42, Ðại-chính, 27, trang 320). Ðó là 1- Thập-đại-địa-pháp,
2- Thập-đại-phiền-não-địa-pháp, 3- Thập-tiểu-phiền-não-địa-pháp,
4- Thập-đại-thiện-địa-pháp. 5- Ngũ-đại-bất-thiện-địa-pháp,
6- Tam-đại-hữu-phú-vô-ký-địa-pháp, 7- Thập-đại-vô-phú-vô-ký-địa-pháp.
Duy có điểm chưa được hoàn toàn là trong đó tuy cũng là
tâm sở, nhưng vì cách nhận xét bất đồng mà có sự phân
laọi hai hạng, ba hạng khác nhau, bởi thế đã lần lượt
được chỉnh lý, cho đến Câu-xá-luận, Thành-duy-thức-luận
v.v… tuy có biến cải nhưng bất luận thế nào, đều lấy
ba tính làm trung tâm, lại thêm cách phân loại về phiền não,
có thể nói, đến đây là hoàn chỉnh nhất. Do đó, ở đây,
để cho tiện lợi, hãy tạm dựa vào sự phân loại này làm
cơ sở cho luân lý để nói rõ những tác dụng tâm đó.
2-
THIỆN TÂM SỞ.
Trước
hết hãy bắt đầu từ tác dụng tâm thiện. Nếu đứng về
phương diện mục đích mà nói thì, như đã luận bàn ở trên,
thiện tâm là tác dụng tâm của người có hạnh phúc tiến
lên đặt hạnh phúc tương lai của mình vào sự giải thoát.
Còn nếu đứng về phương diện tâm lý mà nói thì đó là
tác dụng tâm xả ly ngã chấp, ngã dục khiến cho tâm được
trong sáng. Mà căn bản của nó, nói một cách tiêu c75c, là
xa lìa tham, sân, si, tức vô tham, vô sân, vô si. Ba tác dụng
này được cả Luận Bộ Nam, Bắc gọi là thiện căn. Nói
một cách tích cực thì chính đó là tâm và quý đã kể ở
trên. Nhất là luận Câu-xá lấy vô tâm, vô quý làm hai Ðại-bất-thiện-địa-pháp.
Nếu đối chiếu thì hai tác dụng tâm, quý mới đích thực
là căn nguyên của hết thảy thiện tâm. Theo luận Câu-xá,
quyển 4, thì tâm có nghĩa là đối với pháp đạo đức (Tam
học) tỏ lòng cung kính; còn quý là tác dụng tâm cảm thấy
sợ tội. Như trên đã đề cập qua, tác dụng này có khi được
cho là tương tương với tâm mà A-tỳ-đạt-ma cho là tính thiện
là sự khảo sát rất xác đáng. Tuy lấy ba căn hoặc tâm quý
làm căn bản cho thiện tâm, nhưng, trên bình diện giải thích,
A-tỳ-đạt-ma vốn không căn cứ từ đó để đưa ra những
thiện tâm khác, mà chỉ lấy đó làm những Ðại-thiện-địa-pháp
chủ yế cộng thông tất cả thiện tâm mà thôi. Nghĩa là,
gnoài nó ra còn những tác dụng tâm thiện khác mà con số,
kể từ Phẩm-loại-túc-luận đến Câu-xá-luận là 10, đến
Duy-thức-luận là 11, và trong A-tỳ-đạt-ma-pháp-yếu luận
của A-nâu-lâu-đà thì lại kể có 19 loại, như vậy rõ ràng
là không có định số.
Nay
tạm theo Duy-thức-luận để liệt kê con số như sau: tín,
tinh tiến, tâm, quý, vô tham, vô sân, vô si, khinh an, bất phóng
dật, xả, bất bại. Trong số này, về ý nghĩa tâm quý thì
đã nói rõ ở trên rồi, bây giờ chỉ bàn qua mấy loại khác
thôi.
Tín
dĩ nhiên là tâm lý tín ngưỡng. Ðối tượng tín ngưỡng
ở đây là Tứ đế, Tam bảo, Nhân quả v.v… tuyệt đối
tin tưởng, không hoài nghi. Vì niềm tin đó làm cho tâm hồn
trong sáng, vắng lặng nên gọi là thiện.
Tinh
tiến và bất phóng dật tuy gần như tác dụng tâm phi thường,
nhưng theo Câu-xá thì siêng năng là tác dụng hăng hái dũng
cảm đối với thiện. Bất phóng dật là tác dụng thu nhiếp
tâm để tu thiện. Tín giàu yếu tố tình cảm, còn tinh tiến
và bất phóng dật thì chính là ý chí lực vậy.
Khinh
an và xã nghĩa là không để bận đến thân tâm, lúc nào cũng
thanh thản nhẹ nhàng. Câu xá chỉ nói tam khinh an, nhưng A-nâu-lâu-đà
lại chia ra thân khinh an và tâm khinh an. Nếu không thanh thản
sảng khoái thì không thể làm được việc thiện, bởi thế
nó được coi như là một trong những đại-thiện-địa-pháp.
Xả cùng gần với tác dụng tâm lý khinh an, tức là trạng
thái bình thản không động dao. Khinh an và xả thay vì được
coi như tác dụng tâm lý thì lại được coi như một thứ
tinh thần, có thể nói đó là tinh thần sảng khoái.
Bất
hại là tâm lý không muốn làm hại kẻ khác, nó xuất phát
từ ba thiện cảm, nhưng tại Ấn-Ðộ đặc biệt coi trọng
bất hại nên nó được coi như một tác dụng tâm độc lập.
Những
tác dụng tâm kể trên tất phải phát khởi cùng với hết
thảy thiện tâm, do đó, nếu thiếu một loại nào thì không
thể được gọi là thiện tâm chân chính. Nói khác đi, nếu
thiện tâm sinh khởi, dù không phải là ý thức chăng nữa,
nhưng mười loại tâm sở tất nhiên cũng sinh khởi, tất cả
tâm lý đặc thù đều lấy đó làm cơ sở, theo ý nghĩa ấy
nên được gọi là mười thiện địa pháp, chính vì ý nghĩa
đó mà Bà-sa, Câu-xá v.v… bảo rằng khi thiện sinh khởi có
22 tâm sở cùng sinh khởi, đó là thập-đại-địa-pháp, thập-thiện-địa-pháp,
tầm và tư. Tầm, tư, như trên đã nói là tổ chức tư duy,
quan sát gọi khác đi, trong tâm Dục-giới tức phải làm bạn
với nhau mà cùng sinh khởi, cho nên ít nhất là 22 loại (Câu-xá
quyển 4). Do đó, vấn đề được đặt ra ở đây là: A-tỳ-đạt-ma
chia tâm lý thiện căn bản thành số mười loại, nhưng trong
đó không thêm ái hoặc từ bi là tại làm sao? Là vì, do cách
nhận xét, ái và từ bi tuy là căn bản của hết thảy thiện
tâm, nhưng theo A-tỳ-đạt-ma thì giữa ái và từ bi có sự
khu biệt; vả lại, từ bi tuy là đạo đức cao đẳng nhưng
quyết không phải là cơ sở, bởi thế, đức mục do tu dưỡng
mà không được thêm vào Ðại-thiện-địa-pháp. Ðến như
ái thì tuy có ý nghĩa cơ sở, nhưng trên tính chất, ái có
hai loại: một luyến ái có nhiễm ô, tức lòng kính yêu đối
với sư trưởng. Cứ theo Câu-xá-luận thì luyến ái vì thuộc
lobha nên không phải thiện; còn kính ái thể của nó thuộc
về tin cho nen để riêng mà, không nhiếp trong thiện-địa-pháp
(Câu-xá quyển 4). Sự giải thích này có thể nói, rất xác
đáng.
3-
BẤT THIỆN TÂM.
Bất
thiện tâm dĩ nhiên là tương đối của thiện tâm, do đó,
nếu cho vô tham, vô sân, vô si là thiện căn thì hiển nhiên
tham, sân, si là bất thiện căn; và nếu cho tâm, quý là tự
tính thiện thì căn nguyên của bất thiện tất nhiên là vô
tâm, vô quý. Như vậy, nếu số tâm sở đại-thiện-địa-pháp
là mười thì đại-bất-thiện-địa-pháp lý đương nhiên
cũng là mười; mà nếu đại-thiện-địa-pháp là mười một
thì bất-thiện-địa-pháp cũng phải là mười một. Song đây
chỉ là quy tắc đại khái và A-tỳ-đạt-ma chắc đã rất
khổ tâm về vấn đề này. Ngoài thiện và bất thiện ra,
Phật giáo còn nói đến những tâm được mệnh danh là phiền
não, nhưng phần lớn là bất thiện, do đó, cái giới hạn
giữa bất thiện và phiền não tự nhiên cũng khó mà thuyết
minh được. Chiếu theo văn hiến thì trong Ni-kha-da cũng đã
lấy tham, sân, si làm tam bất thiện căn, bởi thế, A-tỳ-đạt-ma
thời kỳ đầu cũng lấy đó làm vấn đề xử lý thêm, nhưng
đến trình độ phân loại tâm sở thì nên phải xử lý vấn
đề đó như thế nào? Ðây thật là vấn đề rất khổ tâm.
Trong Giới-thân-túc-luận của Thế-hữu, tuy có nói đại-địa-pháp,
đại-phiền-não-địa-pháp, tiểu-phiền-não-địa-pháp, nhưng
đã phân loại thiện, ác, đến phẩm-loại-túc-luận thì tuy
có thêm Thập-đại-thiện-địa-pháp, nhưng lại không có bất-thiện-địa-pháp,
đến Ðại-tỳ-ba-sa-luận mới thành lập bất-thiện-địa-pháp
và lấy năm tâm sở vô tâm, vô quý, vô minh, hôn trầm và
trạo cử làm bất-thiện-địa-pháp, đến Câ-xá-luận thì
vô minh, hôn trầm, trạo cử được nhiếp vào đại-phiền-não-địa-pháp,
như vậy, bất-thiện-địa-pháp chỉ còn lại hai là vô tâm,
vô quý mà thôi. Nhưng, đến Duy-thức-luận thì vô tâm, vô
quý lại được thu vào tuỳ-phiền-não, do đó, bất-thiện-địa-pháp
độc lập cuối cùng đã mất hẳn. Nếu lại đem đối chiếu
với Luận-bộ Nam-phương thì trong A-tỳ-đạt-ma-pháp-yếu-luận,
tuy có liệt kê thập-tứ-đại-bất-thiện-địa-pháp nhưng
trong đó không có phiền-não-địa-pháp, bởi thế, bất thiện
chẳng qua chỉ là phiền não gọi khác đi mà thôi. Như vậy,
trong pháp-tướng A-tỳ-đạt-ma, cái địa vị của bất-thiện
đã trở nên rất lờ mờ. Tóm lại, bất thiện là mặt trái
của thiện, và cũng còn được gọi bằng danh từ phiền não
nữa, đó là điều chúng ta có thể hiểu được.
4-
VÔ KÝ TÂM.
Trở
lên là về sự khu biệt thiện và bất thiện, nhưng còn tâm
hay hành vi vô k ý là thế nào? Nếu nói một cách đơn giản
thì vô ký là hành vi lấy tự tính, tương ưng và đẳng khởi
làm đâu mà quan hệ ở khoảng giữa thắng nghĩa thiện và
bất thiện. Theo Bà-sa thì thiện không ghi lại, mà ác cũng
không ghi lại cho nên, cái kết quả cũng không có thiện ác,
bởi thế gọi là vô ký (Bà-sa quyển 51, Ðại-chính, 27, trang
363, hạ). Tuy đó là trạng thái trung gian, nhưng nếu khảo
sát kỷ ta cũng thấy trong tác dụng tâm đó có sự khu biệt
quan hệ giữa phiền não và hoàn toàn không phiền não. Theo
chỗ tôi biết, trong các luận thư thuộc thời kỳ đầu tuy
chưa có sự khu biệt này, nhưng đến Ðại-tỳ-ba-sa luận
thì quyết không phải à không có. Ðó tức là tư cách chia
vô ký thành hai loại là hữu-phú-vô-ký và vô phú vô ký.
hữu phú tự nó không là thiện, không là ác, nhưng thuộc
về cái gọi là “phiền não sở vi”, cho nên, vì loại tâm
sở này mà Ðại-tỳ-bà-sa luận đưa ra ba loại vô minh, hôn
trầm và trạo cử. ba loại này tự nó tuy không phải là ác
nhưng đứng về điểm chướng ngại cho việc tu đạo, che
lấp tâm bồ đề, nó được gọi là hữu-phú-vô-ký, nếu
nói theo phiền não luận thì ba loại đó đều được coi là
trọng yếu. Vô phú vô ký hoàn toàn là trung gian thái, tuy không
là thiện nhưng lại chỉ cái tâm thái không phải bất thiện
hay phiền não. Mười tâm sở (tác ý, xúc, thụ, tưởng, tư,
dục, thắng giải, niệm, định, tuệ) của luận Ðại-tỳ-ba-sa
tuy thuộc loại này, nhưng về mặt hoạt động tâm lý cụ
thể lại chia thành bốn thứ mà cũng là cách phân loại kể
từ Bà-sa luận trở đi. Ðó là: 1- Di thục, 2- Uy nghi lọ,
3- Công xảo xứ, 4- Thông quả. Thứ nhất, dị thục nghĩa
là cái tâm do nghiệp đời trước mà cảm được, tự thể
của nó không thiện, không ác, do đó, nói là vô ký (lấy
thập-đại-địa-pháp làm vô-ký tức là nó). Thứ hai, tâm
uy nghi lộ nghĩa là cái tâm thái sinh khởi khi đi đứng ngồi
nằm đúng theo uy nghi, tâm này cũng không nhất định là thiện
hay ác, cho nên gọi là vô ký. Thứ ba, công xảo xứ nghĩa
là cái tâm khi xem các tác phẩm điêu khắc hội họa, hoặc
nghe ngâm thơ, ca hát v.v… mà không có tà niệm. Thứ tư, thông
quả vô ký có nghĩa là cái tâm khi nhờ vào các thần thông
như thiên nhãn, thiên nhĩ v.v… mà sinh khởi biến hóa (Câu-xá
quyển 2). Cứ theo Phật giáo thì vô ký, đặc biệt là vô
phú vô ký, là một trạng thái của hoạt động tinh thần,
chủ yếu là chỉ về tâm thái đẹp. Ðây tuy là điểm rắc
rối nhưng chúng ta không thể bỏ qua. Cai trạng thái đó là
một thứ không quan tâm, tức khi trong hoạt động tâm lý của
người ta không có chính, không có tà, không ác, cũng không
thiện. Ðứng về phương diện đạo đức thì trạng thái
tinh thần đó tuy không cần phải tưởng lệ nhưng về mặt
tiêu cực lánh ác, phá chấp thì nó cũng có thể được ứng
dụng, đó là điểm ta cần ghi nhận.
5-
PHIỀN NÃO.
Trong
tâm lý luận luân lý và tu đạo, điểm có một ý nghĩa trọng
yếu nhất là phiền-não-luận. Nếu nói theo nghĩa rộng thì
phiền não cũng tương đồng với tội, mà nếu lấy giải
thoát tối cao làm tiêu chuẩn thì phiền não chỉ cho toàn bộ
tác dụng tâm làm cản trở công cuộc thực hiện sự giải
thoát đó. Vô minh là nguyên bản của phiền não. Phiền não
là toàn bộ tác dụng tâm lấy ngã thấp, ngã dục làm cơ
sở, lấy việc thỏa mãn ngã chấp, ngã dục làm mục đích
một cách ý thức hay vô thức. Cứ theo Phật giáo thì sở
dĩ con người bị đắm chìm trong bể sinh tử luân hồi, luôn
luôn bị trói buộc cũng vì phiền não (Luận Câu Xá quyển
19, Phẩm Tùy miên, nói: “Tại sao tùy miên có thể có gốc?
- Tại vì các phiền não hiện khởi có thể làm mười việc.
1 Kiên căn bản (do phiền não kiên cố mà có), 2 Lập tương
tục, 3 Trị tự điển (những caí làm cho y thân thích hợp
với phiền não), 4 . Dẫn đẳng lưu, 5 Phát nghiệp hữu, 6
nhiếp tự cụ (làm tư lương cho chính phiền não), 7 mê sở
duyên, 8 đạo thức lưu, 9 Việt thiện phẩm, 10 Quảng phược
nghĩa, những việc đó làm cho không thể vượt ra ngoài tự
giới được”). Ðức Phật rất chú tâm thuyết minh phiền
não, theo nhiều phương diện, phân ra nhiều loại để nói
rõ cái tính cách đán sợ của nó. Do đó, tuy cũng là phiền
não nhưng có nhiều cách nói, hoặc gọi là phiền não (theo
thông lệ), hay là tùy miên, là triền, là cái, hoặc là kết.
Ngoài ra, vẫn còn nhiều tên khác nữa. Tóm lại, bất luận
loại nào, đều làm cho người ta phiền muộn áo não, trói
buộc, mất tự do nên có những danh xưng như trên. Ðương
nhiên, nếu nói theo pháp tướng thì những danh xưng đó không
phải chỉ là một sự thật đồng nhất, mà trong đó có rộng,
hẹp khác nhau, nhất là về sự dị, đồng của tùy miên và
triền, giữa các bộ phái đã sinh tranh luận, nhưng bất luận
thế nào đi nữa, trên đại thể, đó chẳng qua chỉ là theo
nhiều lập trường khác nhau mà đặt tên cho cái tác dụng
tâm chấp ngã của người ta mà thôi. Song, phiền não này có
bao nhiêu thứ và phân loại chúng như thế nào? Nếu nói một
cách thẳng thắng thì cách phân loại này thật rất phức
tạp. Cứ xem trong Tăng-nhất-a-hàm, lúc đầu chỉ có một
pháp mà cuối cùng đã tăng lên mười một pháp thì ta đủ
thấy cách phân loại phiền não phức tạp như thế nào rồi.
Tuy nhiên, những cách phân loại ấy chưa hẳn đã hoàn chỉnh,
trong sự hỗ tương giao thoa, tuy đồng dạng, nhưng do cách
nhận xét khác nhau mà có những danh xưng biệt chủng, thật
vô cùng tinh mật. Ðể tiện cho việc nhận định tính cách
đáng sợ của phiền não. Ðức Phật đã đứng trên nhiều
lập trường để chỉ bày, bởi thế đến đời sau, khi tu
tập lại, nó trở nên rất hỗn tạp. Cho đến đời A-tỳ-đạt-ma,
khi thuyết minh và phân loại nó thì bắt đầu cũng từ một
pháp đến hai pháp rồi ba pháp, thích ứng với những số
mục của sự phân loại này mà đặt ra phối lệ, chẳng hạn
như trong Tiểu-sự-phẩm trong Tỳ-bà-băng-già hay phiền-não-phẩm
trong Xá-lợi-phất-A-tỳ-đàm luận (quyển 18 – 19), cứ xem
đó cũng đủ rõ. Mà Tiểu-sự-phẩm (1) trong Tỳ-bà-băng-già
và Phiền-não-phẩm trong Xá-lợi-phất-A-tỳ-đàm luận tuy
xuất phát từ tài liệu cộng thông (xem A-tỳ-đạt-ma-luận
nghiên cứu, trang 108 – 117), nhưng tôi cho rằng thái độ xử
lý phiền não toán ban của A-tỳ-đạt-ma thuộc thời kỳ đầu
rất rõ ràng. Nay thử xét qua Phiền-não-phẩm trong Xá-lợi-phất-A-tỳ-đàm
luận (Ðại-chính, 28, trang 644, thượng).
(1)
Về danh xưng, Tiểu-sự-phẩm này cũng nhất trí với Tạp-sự-phẩm
trong pháp-uẩn-túc luận quyển 9, và đối với phương diện
xử lý phiền não cũng nhất trí nhưng về nội dung thì gần
với những điểm được trình bày trong Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm-luận.
Trước
hết là một pháp, tức mỗi phiền não độc lập: như cậy
mình (khoe khoang), nịnh nót, tà kính v.v… đại ước có trên
một trăm thứ. Thứ đến hai pháp, hầu như phiền não cùng
một loại, như thất niệm và bất chính trí, vô minh và hữu
ái, tương đối kể đến mười loại. Rồi đến ba pháp,
như tam tập (trong, ngoài, cả trong ngoài), tam bất thiện căn,
tam triền (dục, huệ, si), tam ái (dục, hữu, vô, hữu), cũng
kể ra đến số mười. Trở xuống từ bốn pháp (như tứ
lưu - bốn loại dục, hữu kiến vô minh) năm pháp (như ngũ
cái, ngũ hạ phần kết, ngũ thượng phần kết), sáu pháp
(như lục ái, lục huệ), bảy pháp (như thất cộng nhiễm,
tức về quan hệ trai gái; thất mạn, bất như mạn, thắng
mạn, tăng thượng mạn, ngã mạn, tà mạn, mạn trung mạn),
tám pháp (như bát giải đãi sự) chín pháp (như cửu ái căn
pháp), mười pháp (như thập phiền não sử) mười một pháp
(như thập nhất tâm cấu), tiến lên đến hai mươi pháp, hai
mươi mốt pháp, ba mươi sáu ái hành, sáu mươi hai kiến v.v…
(Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm luận quyển 18 – 20). Cứ đó mà
suy ra ta cũng đủ thấy nó phồn tạp đến như thế nào rồi.
Song phương pháp thuyết minh này không những dễ dàng nắm
bắt được cái quan niệm trung tâm của vấn đề ma còn chỉnh
lý thêm phương pháp phân loại để cấu thành một phương
pháp xử lý rất tiến bộ nữa. Tuy nhiên, nó vẫn không trút
bỏ được phong thái phồn tỏa. Chẳng hạn như phẩm Tùy-miên
trong luện Câu-xá được coi là phẩm loại khác thì hiển
nhiên nó sẽ là phẩm rất tạp loạn. Có thể nói, về mặt
tính chất, không làm cách nào hơn được. Nhưng trong các loại
phiền não ấy, loại nào là căn bản? Cứ theo phẩm-loại-túc-luận,
Bà-sa-luận, Tạp-hàm-luận v.v… thì căn bản là mười loại
sau đây: bất tín, giải đãi, thất niệm, tâm loạn, vô minh,
bất chính trị, phi lý tác ý, tà thắng giả, trạo cử, phóng
dật (Phầm-loại-túc-luận quyển 2, Ðaị-chính 26, trang 698,
hạ). Ðến Câu-xá-luận thì bỏ bớt đi bốn loại là tà
thắng giải, phi lý, tác ý, bất chính tri và thất niệm mà
chỉ giữ lại sáu. Vì bốn loại này là tác dụng ngoài tâm
sở tron Thậ-đại-địa-pháp. Tóm lại, những tác dụng này
là tương đối của Ðại-thiện-địa-pháp, và ý nghĩa của
nó cứ đó suy ra ta cũng thấy. Song, thật ra, mười hay sáu
loại được coi là căn bản kể trên chẳng qua chỉ là cánh
nhận xét mà thôi, cho nên đến Thành-duy-thức-luận (quyển
6, Ðại-chính 31 trang 31, trung), thì đem nhiếp tất cả vào
Tiểu-phiền-não, mà lấy sáu loại tham, sân, si, mạn, nghi,
ác kiến làm căn bản. Trong Câu-xá-luận tuy không bảo đó
là Ðại-phiền-não-địa-pháp, nhưng về điểm cho Tùy-miên
là phiền não trọng yếu nhất (Câu xá quyển 19 Tùy-miên phẩm)
cũng có thể nói là rất xác đáng. Ở đây, nếu không câu
nê vào cách phân Ðại-phiền-não hay Tiểu-phiền-não, mà chỉ
để tiện cho sự thuyết minh thôi, thì tôi tưởng nên tham
chiếu cách phân loại trong Duy thức để nói rõ một cách
đơn giản về đặc chất của mỗi loại như sau:
A.
– Căn bản Tùy-Miên – tham, sân, si (vô minh), mạn, nghi, ác,
kiến
1.-
Tham có nghĩa chấp chặt lấy, trsuà, đại lược đồng nghĩa
với ái. Tham chia thành hai:
a)
dục tham, b) hữu tham. Theo chỗ hiểu biết của tôi, ý nghĩa
nguyên thủy của ái dục tuy là tồn tại dục, nhưng đến
A-tỳ-đạt-ma thì cái gọi là “giới hệ phân biệt” trở
nên cực thịnh mà giải thích dục tham là sự chấp trước
đối với Dục-giới, hữu tham là sự chấp trước đối với
Sắc và Vô-Sắc-Giới (Câu-xá quyển 19; Xá-Lợi-Phất A-tỳ-đàm,
quyển 10, Ðại-chính, 28, trang 650, thượng).
2-
Sân dĩ nhiên là sân hận, là cơ bản của ác hạnh.
3-
Vô minh có nghĩa là vô trí, tôi cho là moha, tức có nghĩa là
“tâm ngu độn”, cũng có thể giải thích là ỷ vào mình,
như ý chí muốn sống. Tôi cho rằng vô minh có hai ý nghĩa
nông (chi mạt vô minh) và sâu (căn bản vô minh) khác nhau.
4-
Mạn là tâm kiêu mạn, có hữu mạn, quá mạn (bất như mạn?),
mạn quá mạn, ngã mạn, tăng thượng mạn, tỳ mạn, tà mạn
v.v… khác nhau (“Bảy mạn là gì? – Là mạn, bất hư mạn,
thắng mạn, tăng thượng mạn, ngã mạn, tà mạn, mạn trung
mạn …” Xá-Lợi-Phất Tỳ-đàm-luận, quyển 19, Ðại-chính,
28, trang 654, thượng). Ngoài ra, còn kể 12 mạn cũng có, đó
là: 1- Ngã thắng mạn, 2- Ngã đẳng mạn, 3- Ngã biệt mạn,
4- Ngã thắng thắng mạn, 5- Ngã thắng đẳng mạn, 6- Ngã thắng
liệt mạn, 7- Ngã đẳng thắng mạn, 8- Ngã đẳng đẳng mạn,
9- Ngã đẳng liệt mạn, 10- Ngã liệt thắng mạn, 11- Ngã liệt
đẳng mạn, 12- Ngã liệt liệt mạn (Vibhanga p. 346).
5-
Nghi là sinh lòng nghi ngờ do về chân lý Tứ Ðế.
6-
Ác kiến có nghĩa là thấy biết sai lầm; có năm loại: 1-
Hữu thân kiến (Tát-già-da-kiến), tức chấp năm uẩn là ta,
là của ta. 2- Biên chấp kiến, tức là chấp thường, chấp
đoạn. 3- Tà kiến, tức là không tin lý nhân quả. 4- Kiến
thủ kiến, tức là tin một cách mù quáng không chân chính.
5 Giới cấm thủ kiến, tức là làm theo những pháp kỳ quái
mà cho đó là tu đạo. Như thế, cộng với sáu căn bản Tùy-Miên
kể trên là mười một loại, rồi lại lấy đó làm mười
tám loại, nhưng về điểm này tôi sẽ đề cập đến sau.
B -
Tiểu phiền não - kể từ Phẩm-loại-túc-luận đến nay, thông
thường Tiểu-phiền-não đều được kế là phẩn (giận)
phú (che dấu), xan (bỏn xẻn), tật (ghen ghét), não, hại, hận,
xiểm (nịnh hót), cuống (dối trá), kiêu (kiêu ngạo) tất
cả mười loại. Từ Phẩm-túc-luận đến Tạp-hàm-luận,
lại thêm vào Thật-đại-phiền-não nhưng hơi biến cải, một
chút (lấy vô tâm quý là thay thế cho phi lý tác ý, tà thắng
giải) là hai mươi loại Tùy-phiền-não của Duy-thức (quyển
6, Ðại-chính, 31, trang 33, trung, hạ). Bây giờ xin giải thích
những loại chủ yếu đó như sau:
Phẫn,
hận, não, hại là những tướng khác nhau của sân. Phẫn nghĩa
là giận, hận nghĩa là cứ ấp ủ mãi niềm giận tức trong
lòng, vì giận tức nên sinh buồn bực (não), còn hại nghĩa
là vì sân hận mà làm hại kẻ khác.
Phú,
xiểm, cuống có nghĩa là vì tư lợi mà che dấu sự thật,
nịnh hót và hùa theo người, nó là tâm lý dối trá, do tham
si mà ra.
Tật
và kiêu, ghen ghét sự thành công của người khác là tật,
dương dương tự đắc là kiêu.
Xan
là tính keo kiệt, bủn xỉn.
Bất
tín là trái với tín.
Giải
đãi là lười biếng, trái với siêng năng.
Phóng
dật là càn dỡ, trái với bất phóng dật.
Hôn
trầm là tính khí nặng nề, trái với khinh an.
Trạo
cử trái với xả.
Thất
niệm, bất chính trị, tán loạn là trạng thái của những
tác dụng niệm, thẳng giải, tam-ma-địa trong Ðại-địa-pháp
không đục hoàn thành.
C-
Phân loại phiền não nhỏ nữa.
Trở
lên, tuy đã kể những số phiền não chủ yêu nhưng, ngoái
ra, chúng cũng còn được chia ra thành nhiều số mục và danh
xưng khác nữ. Chẳng hạn như trong các kinh cũng đề cập
qua, và nhất trí là trong phần phụ lục phẩm Tùy-Miên trong
Luận-Câu-Xá (quyển 20-21) cũng nói đến, bởi thế, ở đây
tôi xin đưa ra những chủ mục chủ yếu để khảo sát. Ðứng
về phương diện nghiên cứu tâm lý mà nói thì điều này
tuy không cần thiết, nhưng đối với những người chuyên
môn nghiên cứu Phật giáo, tôi tưởng cũng nên hiểu qua để
tiện việc so sánh, đối chiếu:
Tam
lậu (1) - dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Tứ
bộc lưu - dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô
minh bộc lưu.
Tứ
ách – cũng như trên.
Tứ
thủ - dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã ngữ thủ
(sự chấp trước của Dục-giới, Sắc giới, Tham chiếu Câu
Xá, quyển 9)
Cửu
kết – ái kết, huệ kết, mạn kết, vô minh kết, kiên kết,
thủ kết, nghi kết, tật kết, xan kết.
Ngũ
hạ phận kết - hữu thân kiến, giới cấm thủ, nghi, dục
tham, sân huệ.
Ngũ
thượng phận kết - sắc tham, vô sắc tham, trạo cử, mạn,
vô minh.
Tam
học- tham, sân, si.
Bát
(hay thập) triền – vô tâm, vô quý, tật, xan, hối, miên,
trạo cử, hôn trầm (nếu thêm phẫn, phú, thì thành mười
loại).
(1)
Thế nào gọi là lậu? Trong các cảnh giới lưu chuyển bất
tuyệt nên gọi là lậu. Như Khế-Kinh (Tạp-A-Hàm quyển 18)
nói: “Tỳ Khưu nên biết, ví như chèo thuyền ngược dòng
dù có nỗ lực vẫn thấy khó khăn, nhưng nếu thả thuyền
trôi theo dòng nước thì dù chẳng cần dụng công cũng rất
dễ dàng: khởi thiện nhiễm tâm cũng giống như thế (Câu-xá
quyển 20 - phần cuối).
Ngoài
ra vẫn còn nhiều cách phân loại khác nữa. nhưng vì quá phiền
tạp nên xin chấm dứt ở đây (có thể thấy tường tận
trong Pháp-uẩn-túc-luận, quyển 9, Tạp-sự-phẩm; Câu-xá quyển
21, Tùy-Miên phẩm; Xá-Lợi-Phất A-tỳ-đàm-luận, quyển 18
– 20, Phiền não phẩm; và Tỳ-bà-băng-già, Tiểu-sự-phẩm
v.v…).
Đối
với phiền não, A-tỳ-đạt-ma có chia nhiều loại để thuyết
minh, nhưng nếu phân loại một cách đơn giản thì tất cả
phiền não không ngoài hai loại: một là trí mê chấp, tức
là phán đoán sự thật một cách sai lầm. Nói theo thuật ngữ
thì đó là “Kiến hoặc”. Hai là tình ý mê chấp, nghĩa
là tuy đã biết nhiều về mặt trí thức, nhưng lại không
thể ức chế được về mặt tình ý. Nói theo thuật ngữ
là “tư hoặc” hay “tu hoặc”. Nếu nói một cách thực
tế thì giữa hai loại đó tuy không phải không còn loại nào
khác nữa, nhưng trên đại thể sự mê oặc của con người.
Tóm lại, không ngoài hai phương diện trí thực và tình ý:
có thể nói, đó là cách phân loại cộng thông của Phật
giáo. Tựu trung, tư hoặc dĩ nhiên là trọng yếu; còn kiến
hoặc có thể nói là một loại chủ trương, nhưng nếu câu
nê vào đó thì, vì tư hoặc là nguyên nhân mạnh, nên vẫn
là phiền não trọng yếu. Phương pháp đối trị hai loại
phiền não này là kiến đạo và tu đạo, đó là đề mục
của tu đạo luận.
Tóm
lại, Phật giáo lấy tu dưỡng thực tế làm chủ nhưng, trên
giáo lý, cũng rất suy tiến tu dưỡng tri để làm thủ đoạn
đả phá kiến hoặc: đó là điểm chúng ta cần lưu ý.
6-
TÂM LÝ LUẬN.
Cứ
theo A-tỳ-đạt-ma thì tâm con người ta có những tác dụng
thiện, ác và vô ký khác nhau, song, do cách nhận xét, những
tác dụng đó chỉ là lý tượng mà thôi. Nếu lại tiến lên
bậc nữa thì, về bản tính, tâm của người ta là thiện
hay ác? Là trong sạch hay là bất tịnh? về vấn đề này,
nếu nói một cách thực tế thì, như ở thiên trước đã
nói qua, lại phải đề cập đến tâm-tính-luận.
Nói
theo lập trường Phật giáo, vấn đề này có thể có nhiều
giải thích. Nhận xét từ kiến giải phát sinh, căn bản tồn
tại là ở như vô minh. Bản tính của tâm thủy chung là nhiễm,
tức là ác. Song, nhận xét theo sự thật thì trong tâm người
ta có phiền não mà cũng có Bồ-đề, có thiện, có ác, đáo
cùng, không thể xứ lý một cách nhất khái được. Giả định
tâm vốn là bất tịnh thì tâm thanh tịnh hay thiện tâm do
đâu mà phát khởi? Bởi thế, trên thực tế, có thể nói,
bản tính của tâm là cả thiện lẫn ác hỗn hợp. Song, nếu
lại nhận xét theo mục tiêu tu dưỡng, thì mục đích của
người tu hành duy từ chỗ trừ khử ác tâm để tâm thành
thiện, đoạn diệt tâm phiền não khiến tâm thanh tịnh. Ðến
được chỗ đó thì, nhận xét từ điểm bất tuyệt diệt,
bản tính của tâm là thanh tịnh còn ba thiện tâm hay phiền
não tâm chỉ là khách trần. Như thế là từ chỗ lập cước,
thêm vào đó, những quan điểm trên đây được nhận xét
theo những lý do tương đương mà trở thành tâm-tính-luận
của các bộ phái. Theo chỗ tôi tận lực nghiên cứu thì trong
các bộ phái tuy không có phái nào triệt để chủ trương
Bất-tịnh-luận (tức nguyên ác), nhưng lập trường của Kinh-Bộ
giải thích niết bàn là hư vô, theo tôi, có lẽ đã ngấm
ngầm dự tưởng Bất-tịnh-luận (Duy thức cho A-Laị-Da là
ô nhiễm cũng là hệ thống đã nặc khởi từ lập trường
này). Chủ trương thuyết hỗn hợp, tức thuyết tương ưng,
là Hữu-Bộ, tuy cho tâm tự nó không phải thiện, không phải
ác mà là vô ký, nhưng do nhân duyên mà thiện tâm sinh khởi,
là thiện, ác tâm sinh khởi là á. Ðứng trên lập trường
thường thức mà nói thì thuyết này rất ổn thỏa, mà cũng
là thuyết bình phàm nhất. Ðối lại thuyết này mà chủ trương
tâm-tính-bản-tịnh-luận là phân-biệt-bộ (phái) (Tham chiếu
Tôn-giáo Nghiên-cứu 2 – 1). Sự thật cho rằng tất cả khách
trần phiền não đều có thể bị trừ khử là một sự thật
nổi tiếng. Tư tưởng Như-Lai-Tạng của Ðại-Thừa đã phát
xuất từ đó, và nếu cho có lương tâm tiên thiên thì thật
Phật-giáo đã ám chỉ tâm đó. Nhưng cái đặc trưng chính
của Ðại-Thừa là chỉ dương giữa thuyết Ðệ-nhất-vô
minh và Ðệ-tam-thanh-tịnh, bảo phiền não tức Bồ đề, vô
minh thực tính tức là Phật-tính. Song, vấn đề này ở đây
không bàn đến, vì không thuộc phạm vi cuốn sách này, bởi
thế tưởng không cần đi sâu vào.
Tóm
lại, trong Phật-giáo, vì mục tiêu tu dưỡng (có thể bị
đả phá), tuy có đưa ra nhiều ác đức, nhưng sự định đoạt
vận mệnh của người ta thì vẫn do chính con người tự định
lấy. Nghĩa là, nhờ nỗ lực chuyển hóa tâm ác, người ta
có thể tiến đến tâm thanh tịnh. Bởi thế, ở đây có cả
căn cứ tu đạo: đó là điểm chúng ta cần lưu ý.