CHƯƠNG
IV
NHỮNG
TƯỚNG CỦA HÀNH VI ÐẠO ÐỨC
TIẾT
THỨ NHẤT.
HÀNH
VI ÐẠO ÐỨC.
1-
HÀNH VI VÀ HÀNH ÐỘNG.
Những
điểm đã được trình bày ở trên là liên quân đến những
tác dụng tâm lý đạo đức, nghĩa là lấy động cơ làm điều
kiện quyết định; và vì lấy động cơ làm điều kiện tiên
quyết, nên cái đối tượng chính đề bình giá đạo đức
là hành vi. Nói theo thuật ngữ đó là “nghiệp” trong các
A-tỳ-đạt-ma có các chương mục gọi là “Nghiệp phẩm”
(1) chính là xử lý vấn đề này. Tiến lên bước nữa, trong
đó từ chủ thể của hành vi đến những hành vi thiện, ác
cụ thể, đem chia ra từng loại rồi lấy việc tu hành để
nói rõ cái sở cứ của nó.
Trước
hết hãy nói về hành vi nhất ban: tức muốn đánh giá đạo
đức, trước phải bàn về điều kiện nhất ban của hành
vi. Tất cả hành động của người ta đều phải được bình
giá về mặt đạo đức, vì không phải hành vi, khi đến hành
động rồi nó bao hàm những điều kiện như thế nào sẽ
phát sinh nghi vấn về hành vi, bởi thế nên cần phải quy
định trước.
(1)
Trong luận phát-trí, nghiệp uẩn 4 (quyển 11-12), đề ra năm
chướng: 1 Ác-hạnh nạp-tức. 2 Tà-ngữ-nạp-tức. 3 Hại-sinh-nạp-tức.
4 Biểu-vô-biểu-nạp-tức. 5 Tự-nghiệp-nạp-tức để luận
về các nghiệp? Tính ra có 15 quyển, từ quyển 112-126 đã
giải thích về các nghiệp.
2-
CÁC LOẠI HÀNH VI.
Nói
về mặt tâm lý thì trung tâm của hành vi là tư (ý chí). Ngoài
tư ra, hoặc có thể thành lập hành động vô ý thức (bất
cố tác nghiệp), nhưng không thể thành lập cái gọi là hành
vi ý thức (cố tác nghiệp) được. Theo ý nghĩa ấy, đức
phật đã nói: “Như Lai nói tư nghiệp”. Ðến thời đại
Bộ-phái hoặc như Kinh-Bộ chủ trương ba nghiệp thân, khẩu,
ý đều là một tư. Song, ở đây có điều ta cần chú ý là:
cứ theo Phật giáo cơ giới chủ nghĩa thì tư duy được coi
là tâm sở đơn độc nhưng sự phát động của nó có nhiều
giai đoạn. Nếu nói theo ngôn ngữ ngày nay thì trong cùng những
tác dụng được gọi là ý chí cũng có sự khu biệt về nội
ý chí và ngoại ý chí khác nhau. Phật giáo cũng chia nó thành
hai hay ba đoạn để quan sát. Hai đoạn là tư nghiệp, tư dĩ
nghiệp. Sự phân loại này đã có từ thời Phật giáo nguyên
thủy (về tư nghiệp và dĩ tư nghiệp, có thể tham chiếu
Xá-Lợi-Phất A-Tỳ-đàm-luận, quyển 17; Câu-Xá luận, quyển
13; Thành thật luận, quyển 7, Nghiệp tướng phẩm 95; Trung-a-hàm,
quyển 27, Ðạt-phạm-hạnh-kinh v.v…) còn ba đoạn là thẩm
lự tư, quyết dịnh tư và phát động tư, sự phân loại này
được coi là của Kinh-Bộ (xem Câu-Xá, quyển 1) và thành nghiệp
luận của Thế thân cũng thu dụng sự phân loại này. Duy vấn
đề ở đây được đặt ra là: giả dụ như thế thì, về
mặt luân lý, nên bắt đầu từ đâu để bình giá thiện,
ác? Nói cách khác trong thẩm lự tư đã có thiện, ác, hay
đợi đến tư dĩ thành hoặc phát động tư mới, quyết định
thiện, ác? Vấn đề chính là ở đó.
Ðối
chiếu với Phật Giáo Nguyên Thủy, Ma-ca-lợi-ka-tát- lạt và
Kỳ-na-giáo chuyên lấy hành vi bên ngoài làm chủ; Phật giáo
thì chuyên chú trọng ở tâm căn, điểm này, trong các kinh
điển Phật giáo đã cho ta thấy rõ. Tức là về hành vi nhất
ban, trong ba nghiệp thân, khẩu, ý Ma-ca-lợi-ka-tát-lạt đặc
biệt cho hai nghiệp thân, khẩu là trọng yếu, Ðại-Hùng hơi
nhấn mạnh ở ý nghiệp, còn đức Phật thì lấy ý nghiệp
làm chủ mà cho thân và khẩu chỉ là những tác dụng thứ
yếu: đó là điểm bất đồng giữa ba phái tu dưỡng (đạo
đức) lớn thời bấy giờ. Như vậy, khi phê phán hành vi về
mặt đạo đức, hay khi phân xử về mặt pháp luật, đức
Phật thường hỏi về động cơ của nó trước hết. Chẳng
hạn, một hôm có một vị Tỳ-Khưu vì giết con rắn mà đến
nỗi giết lầm (ngộ sát) một người, khi luận tội, đức
Phật đã không luận tội giết người mà chỉ luận về tội
đã phạm giới sát sinh và chiếu theo đó mà phán quyết, cứ
xem thế thì đủ thấy rõ cái tinh thần của Phật ở chỗ
nào rồi. Nhưng dù nói sao đi nữ thì luân lý vẫn là cái
quan hệ quy định giữa người với người, và nó có ý nghĩa
hay giá trị là như cái kết quả có thể tăng thêm hạnh phúc
cá nhân hoặc xã hội. Tuy chỉ đặc biệt chú trọng ở tâm
căn nhưng nếu kết quả mang lại bất lợi cho người thì
giá trị của nó tất phải giảm thiểu, điều đó tưởng
không cần nói ai cũng biết. Bởi thế, đức Phật trước
sau tuy chủ trương động cơ luận, nhưng đối với kết quả
của hành vi cũng rất chú ý. Dù cho động cơ tốt mà kết
quả bất hảo thì cũng vẫn bị lên án, bởi lẽ nó đã không
khế hợp với ý nghĩa như thực tri kiến. Về điểm này,
trong Bản-sinh-đàm có một thí dụ rất lý thú. Thuở xưa,
vua Phạm-Thụ trị vì nước Ba-la-ni-tư, trong vườn nhà vua
nuôi rất nhiều khỉ. Một hôm có lễ tế sao người làm vườn
muốn đi xem bèn nhờ mấy con khỉ tưới cây. Khi tưới xong,
khỉ muốn biết cây đã đủ thấm nước chưa liền nhổ từng
cây để nhìn tận gốc và kết quả là tất cả các cạy
đều chết khô hết. Bồ-Tát thấy thế mới nói rằng: “Người
không có đủ trí sáng suốt, dù có muốn làm thiện sự cũng
không có kết quả; kẻ ngu làm hại việc có ích cũng như
khi làm cho cây phải chết khô”.
Câu
truyện trên đây tuy là truyện buồn cười, nhưng trong đó
ta thấy rõ một chủ trương và kết-quả-luận căn cứ nơi
tinh thần Phật giáo.
3-
ÐỐI TƯỢNG ÐỂ BÌNH GIÁ ÐẠO ÐỨC.
Như
vậy, đến Phật giáo Bộ-phái, đại thể tuy nhất trí ở
điểm đặt nặng nơi động cơ, nhưng về trình độ thì giữa
các bộ phái đã phát sinh những ý kiến bất đồng. Tức
là, giữa sự triệt để coi trọng động cơ khi hành vi hoàn
tất mới đưa ra phán đoán về đạo đức, đã có những
ý kiến khác nhau. Mà cái đối tượng để phê phán về đạo
đức có thể hay không căn cứ vào động cơ, hoặc vào cái
gọi là vô biểu (vô tác) do hành vi phát sinh, hay còn được
gọi là nghiệp tập chủng tử huân tập nơi tổ chứ ý chí
hay hành vi có thể trở thành nguyên nhân đưa đến quả báo
họa, phúc tương lai không? Vấn đề này đã trở thành một
dặc trưng lớn rất hiển trứ của Phật giáo bộ phái. Nói
cách khác, duy chỉ y vào động cơ khong thôi là đã hoàn thành
nghiệp tập chiêu cảm quả báo trong tương lai, hay phải y
vào kết quả của tính chất hành vi mới hoàn toàn trở thành
vô biểu? Vấn đề này đã biến thành tiêu điểm nghị luận.
Nói
một cách đại thể, những nhà đứng về phương diện kiến
giải sinh cơ chủ nghĩa thì trước sau vẫn chủ trương thuyềt
động cơ (tức tám cân); còn những nhà đứng về phương
diện kiến giải cơ giới chủ nghĩa, đối với kết quả
luận, cũng rất chú ý, nhưng theo một trường hợp nào đó,
gần như là các nhà kết quả luận, cũng rất chủ trương
tuyết Tư. Theo văn hiến hiện còn lưu truyền thì bộ phái
chủ trương chủ nghĩa tinh thần nhất là Phân-biệt-thuyết-bộ.
Cứ theo Ðại-tỳ-ba-sa-luận thì Phân-biệt-thuyết bộ cho
tham dục, sân huệ và tà kiến là tự tính của nghiệp. Bà-sa
quyển 113, ở cuối bài tựa có dẫn Khế-Kinh nói: “Cho nên
tư tạo ba nghiệp thân, đã tạo đã tập là bất thiện, có
thể sinh các thống khổ, cảm khổ dị thục; Tư tạo bốn
nghiệp khẩu, ba nghiệp ý, đã tạo, đã tập, là ác, có thể
sinh các thống khổ, cảm khổ dị thục. Ba nghiệp của ý
là tham, huệ, tà kiến”. Rất tiếc là tôi vẫn chưa có thể
chỉ rõ Phân-biệt-thuyết-bộ này thuộc về phái nào. Vì
chủ trương của bộ này quá đơn giản nên vẫn còn có chỗ
chưa được rõ. Tuy nhiên, bất luận thế nào đi nữa; coi
trạng thái tinh thần là chủ thể của nghiệp là một điều
hẳn không cìn hồ nghi gì nữa. Thứ đến là nhấn mạnh về
phương diện động cơ làm đại biểu là chủ trương của
Thí-dụ-sư hay của Kinh-Bộ mà mọi người đều biết để
đối lại nghị-luận của Hữ-Bộ vốn là cơ giới chủ nghĩa.
Về văn hiến liên quan đến các chủ trương trên đây, thấy
rải rác trong các luận Ðại-tỳ-ba-sa, Câu-xá và Thành-thật
v.v…
Như
đã nói ở trên, Kinh-Bộ không nững không thừa nhận ý nghĩa
sắc pháp vô biểu của Hữu-Bộ mà còn công kích nó kịch
liệt nữa (Câu-Xá quyển 13). Nhưng tương đương với vô biếu
sắc của Hữu-Bộ là chủng tử do tư huân tập, thì Kinh-Bộ
thừa nhận thuyết này, cho rằng vì chủng tử nhỏ nhiệm,
biến chuyển không ngừng và luôn luôn sai biệt nên có thể
chiêu cảm quả báo trong tương lai (Câu-Xá quyển 13). Tức
phối hợp chủ nghĩa cơ giới của Hữu-Bộ với lập trường
sinh cơ chủ nghĩa để thừa nhận. Thừa kế Kinh-Bộ là Thành-thật-sư
vẫn thừa nhận vô-tác (tức vô-biểu) là một thứ vô biểu
cũng là theo ý nghĩa trên này. Tóm lại, sự giải thích về
vô biểu có điểm bất đồng. Nhưng đây chỉ khác nhau về
hình thái thuyết minh mà thôi, chứ về bản chất, tức cái
thế lực còn lại của nghiệp tập, thì bất luận là Hữu-Bộ,
Kinh-Bộ hay Thành-thật đều đồng nhất thừa nhận. Ðiểm
bất đồng là: khi hành vi tiến đến trình độ nào thì thành
vô biểu? Theo Hữu-Bộ thì trong ba nghiệp thân, khẩu, ý đã
thành biểu nghiệp, vì là nghiệp thân, khẩu cho nên vô biểu
cũng y vào hành vi bểu hiện ra thân, khẩu, chứ không phải
chỉ y vào ý nghiệp không thôi (Câu-Xá quyển 13). Ðương nhiên,
nếu không căn cứ vào ý nghiệp (tức tư) thì dù hành vi của
thân, khẩu có tình cờ phát kiến thiện hay ác cũng không
thể phát được vô biểu. Ðồng thời, lại chủ trương nếu
chỉ có ý nghiệp không thôi thì cũng không thể phát sinh vô
biểu; như khi luận về phá giới, giữa giới, Hữu-Bộ cho
rằng dù tâm có ý muốn phá giới, nhưng nếu không biểu hiện
ra thân thể hay ngôn ngữ thì không thể bảo là đã phá giới
(1). Ðây hiển nhiên là đã phát huy đặc sắc của kết-quả-luận.
Kinh-Bộ phản đối thuyết này, bảo rằng cái gọi là nghiệp
tất kinh chỉ là những tướng của một “tư” (ý chí),
cho nên khi quyết đoán hành vi thiện, ác, đối với tư, cho
dù nó chưa đạt đến giai đoạn thực hành, nhưng cái đã
được huân tập trong tự thể ý chí tất nhiên sau sẽ trở
thành nguyên nhân cảm thụ quả báo.
(1)
Chẳng hạn như bảy loại Biệt-giải-thoát-luận-nghi, do tứ
duyên xã: 1 D ý nghiệp phát ra biểu nghiệp bỏ chỗ cần phải
học hỏi; 2 Do khí xả chúng-đồng-phận; 3 Do nhị-hình đồng
thời sinh khởi; 4 Do nhân thiện căn đaọn diệt (Câu-xá quyển
15).
Đây
là cái tương đương với vô-biểu của Hữu-Bộ. Trong Câu-Xá,
quyển 13, Kinh-Bộ nói rõ như sau: “Như đã nói ở trên, hai
biểu tư thù thắng nên khởi tư sai biệt, gọi là vô biểu”
Tức Kinh-Bộ tuy không đặc biệt thừa nhận sự tồn tại
của vô-biểu, lấy năng lực của tư làm cơ sở, theo ý nghĩa
tính cách của chính tư mà thừa nhận vô biểu. Nặc khởi
từ hệ thống Kinh-Bộ mà lại chủ trương quan điểm này
một cách rõ ràng hơn là Thành-thật-luận. Trong quyển 7, Nghiệp
tướng phẩm 95, có nói như sau:
Hỏi:
Nếu bảo thân, khẩu có nghiệp riêng biệt thì ý và ý nghiệp
là một hay khác?
Ðáp:
Hai loại, hoặc ý tức ý nghiệp, hay từ ý sinh nghiệp. Nếu
ý quyết định giết hại chúng sinh là ác ý, cũng là ý nghiệp,
là nghiệp có thể tập thân, khẩu nghiệp tối thắng, nếu
chưa quyết định tâm là ý thì ý với nghiệp khác nhau …
Hỏi:
Chỉ có thân, khẩu có vô tác, còn ý có vô tác không?
Ðáp:
Không! Vì trong đó không có nhân duyên, chỉ thân, khẩu nghiệp
có vô tác, ý không có vô tác; lại như trong kinh nói có hai
loại nghiệp là tư và tư dĩ. Tư tức là ý nghiệp. Tư dĩ
ba loại, từ tư nghiệp và thân, khẩu nghiệp. Ý nghiệp là
quan trọng nhất, sẽ nói sau. Do trọng nghiệp mà tụ tập
gọi là vô tác, thường sinh khởi không ngừng, bởi thế nên
biết ý nghiệp cũng có vô tác.
Ý
nghĩa trong đoạn văn trên đây là nói rõ sự quyết ý không
phải chỉ có trách nhiệm trọng đại đối với đạo đức
khi biểu hiện ra thân, khẩu mà ngay từ động cơ nó cũng
đã có trách nhiệm rồi. Về sau, Duy thức chủ trương ba nghiệp
đều có vô biểu có lẽ cũng đã phát xuất từ lập trường
này.
Tóm
lại, trên đại thể, dù cho trong Phật giáo bộ phái cũng
quyết không phải không lưu ý đến động cơ mà chỉ nhắm
vào kết quả để định trách nhiệm đạo đức. Song, trách
nhiệm đạo đức từ giai đoạn động cơ đến hành vi thì,
như đã nói ở trên, giữa khoảng đó có những ý kiến bất
đồng. Kinh-Bộ, Thành-thật-luận v.v… trước sau vẫn coi
tâm căn là cơ sở đạo đức; còn Hữu-Bộ khi xử lý vấn
đề này trên bình diện pháp luật, có thể nói, có điểm
bất đồng.
4-
CHÍNH ÐẠO.
Giữa
khoảng động cơ và kết quả, về trách nhiệm đạo đức
khinh hay trọng, tuy có những nghị luận khác nhau, nhưng bất
luận nói cách nào đi nữa thì đạo đức tất phải đi đến
hành vi mới hoàn thành ý nghĩa của nó chứ nếu chỉ căn
cứ vào động cơ không thôi để phán đoán thiện, ác thì
không được thỏa đáng. Thành-thật-luận chỉ trọng động
cơ, cho tâm căn là thiện lương, không thể bảo tất cả việc
thiện đều như thế được. Chẳng hạn, vì nuôi cha mẹ mà
phải ăn cắp, hay vì muốn làm vừa lòng một người đàn
bà mà phải thông gian với vợ người, thì dù tâm căn có
thiện lương đi thế nào chăng nữa, nhưng trên bình diện
đạo đức, người ta quyết không thể cho những việc làm
ấy là phải được. Cũng thế, nếu cứ theo Thành-thật-luận
thì vì lợi ích của nhiều người mà phải giết giặc cướp,
vì cứu người mà phải nói dối, ở một phương diện tuy
là thiện, nhưng ở một phương diện khác, tự thể của những
hành vi ấy chưa hẳn đã là chính đáng (cùng một chủ ý
đó, Thành-thật-luận đã dẫn những kinh thế-pháp bảo rằng
chết trận sẽ được sinh lên cõi trời. Lại nói giết giặc
không có tội, trái lại, nếu không giết thì đắc tội. Rồi
lại dẫn chứng sáu pháp của Bà-La-Môn, bốn pháp của Sát-Ðế-Lợi,
ba pháp của Phệ-Xá và một pháp của Thủ-đà-la v.v… Phê
phán sự sai lầm của Bà-La-Môn chủ trương rằng giết động
vật để cúng tế là việc thiện, của Sát-Ðế-Lợi bảo
vì tự vệ mà phải giết người là thiện sự. Lại dẫn
chứng kinh Thế-pháp bảo nếu trong bảy ngày phải nhịn đói
thì có thể cướp giật lương thực của Thủ-đà-la mà không
có tội, nếu gần chết đói mà lấy của Bà-La-Môn cũng không
có tội. Dẫn chứng như thế để phê phán sự sai lầm của
những chủ trương trên đây - quyển 7, Tam-nghiệp-phẩm 100).
Ðiều thiện chân chính không những là tâm căn cố nhiên phải
thiện mà kết quả của nó cũng phải khế hợp với chính
nghĩa. Do đó, vấn đề được đặt ra ở đây là: hãy giả
định là như vậy thì cái gọi là chính đạo rất ráo là
chỉ cái gì? Về vấn đề này, theo chỗ tôi biết, trong Phật
giáo không đặt ra một tiêu chuẩn nhất ban nào về điều
thiện chân chính mà lấy cái gọi là “Thập thiện nghiệp
đạo” để giải đáp. Vì lẽ thiện của tâm căn chủ yếu
là liên quan đến những việc khách quan, chi nên, nếu lấy
hai phương diện đó làm nguyên lý khái quát thì nó sẽ biến
thành rất trừu tượng, không có cường lực về mặt thực
hành, bởi thế, tôi tưởng nên biểu thị nó một cách cụ
thể hơn. Song nếu đúc kết tinh thần của nó để thuyết
minh thì lý tưởng thiện chân chính tối cao là giải thoát
niết bàn, mà cái tiêu chuẩn thực hành lý tưởng đó là
đồng thời với sự đề cao tính cách tự kỷ, đối với
ngùi khác cũng phải mang lại một lợi ích gì và không được
gây tổn hại cho bất cứ ai: có thể nói, chính đạo là ở
chỗ đó.
5-
HOÀN THÀNH HÀNH VI.
Giờ
đây xin nói qua về thuận tự của những đức mục trong Thập
thiện nghiệp đạo. Nhưng trước khi đi sâu vào từng mục,
ở đây cần phải bàn qua về cái tướng trạng của sự hoàn
thành hành vi. Tức là, động cơ và hành vi phát hiện qua một
thuận tự như thế nào mới trở thành hìnht rạng hoàn toàn?
Thích ứng với động cơ, đều có những hành động tương
tương với động cơ, đây tuy là một nguyên tắc, nhưng về
nhiều sự tình, không khỏi có những điểm hoàn toàn và bất
hoàn toàn. Tuy nhiên, nếu muốn nói rõ về điểm này, ta cũng
cần đặc biệt chú ý đến kết quả nữa. Vì đây là ý
kiến của Hữu-Bộ nên tôi tưởng ta cũng nên căn cứ vào
Hữu-Bộ để trình bày vấn đề này.
Theo
Hữu-Bộ, một hành vi, muốn hoàn thành về mặt đạo đức,
trên đại thể, trước hết cần phải qua ba giai đoạn, tức
là gia hành, căn bản nghiệp đạo, và hậu khởi. Thuyết này
đã manh nha từ luận Phát-trí (trong quyển 11). Có thuyết “Bỉ
gia hành vị tức”; Bà-sa, quyển 118, cũng bao hàm nghĩa hậu
khởi này), đến luận Đại-tỳ-ba-sa nó đã biến thành ý
thức, rồi tới luận Câu-xá, Nghiệp-phẩm, thì thuyết này
đã trở nên rõ ràng. Tựu trung, gia hành, có thể nói là chuẩn
bị; căn bản nghiệp đạo là cái đương thể quyết muốn
làm, thừa nhận cái kết quả do hành vi đó mang lại. Dĩ nhiên,
trong đó căn bản nghiệp đạo là chủ thể. Theo Câu-Xá, để
hoàn thành căn bản nghiệp đạo, phải có bốn điều kiện,
như khi giết người (1) chẳng hạn: 1- Ý chí nhất quyết sát
hại (cố tư); 2- Phải có ý thức về một người đặc định
nào (tha); 3- Nhận thức về người đặc định đó (tưởng);
4- Không còn lầm lẫn (bất ngộ). Nếu nhất ban hóa bốn điều
kiện trên thì đó là một kế hoạch hoàn bị, một mục tiêu
quyết định và nhất định, có mục tiêu nhận thức, và
cuối cùng không còn lầm lẫn hay nghi ngờ gì nữa. Ðiều
kiện dẩn sẽ trở thành hành vi đạo đức hoàn toàn, bởi
thế, đối với hành vi, chúng ta phải hoàn toàn chịu trách
nhiệm (Câu-Xá, quyển 16). Cách thuyết minh có tính cách quá
pháp luật này, về mặt đạo đức luận tuy có điểm kỳ
quái, nhưng về mặt thực hành luận, có thể nói, là sự
chú ý quan sát thật chu đáo. Như vậy là Hữu-Bộ đã ứng
dụng nó vào nhiều trường hợp, căn cứ vào nhất định
hay bất định để luận về sự khinh, trọng của trách nhiệm
đạo đức (vô biểu). Nhưng, về sự vô biểu đã nói ở
trên rồi; ở đây không cần lập lại nữa.
(1)
Luận-Thành-Thật bảo có bốn nhân duyên đắc tội sát sinh:
1 Có chúng sinh; 2 Biết là chúng sinh; 3 Có tâm muốn giết;
4 Dứt mạng sống của nó (Thành-thật-luận quyển 8, Thập
bất thiện đạo phẩm 116).
6-
QUAN HỆ GIỮA ÐẠO ÐỨC, LUÂN HỒI VÀ GIẢI THOÁT.
Cứ
theo Phật giáo bộ phái hay Phật giáo nguyên thủy thì chủ
thể hành vi của đạo đức tuy là ý chí thiện lương, nhưng
đối với kết quả đó và những ảnh hưởng khác cũng rất
chú ý. Khang Dức bảo đạo đức tính có giá trị trọng đại
là điều chúng ta không thể bỏ qua. Thêm nữa, đạo đức
của A-tỳ-đạt-ma, một mặt liên quan đến sự giải thích
vấn đề luân hồi, mặt khác, thong đạt vấn đề đó, cuối
cùng được coi là sự chuẩn bị để đi đến giải thoát,
trên quan hệ, so với hành vi đạo đức thong thường thì phạm
vi quan liên của nó vẫn phức tạp, nhiều ngả. Do đó, để
quy định cái tính chất ấy, không phải chỉ ngừng ở động
cơ hay kết quả, nhưng mà nó chỉ ở phạm vi luân hồi, hay
liân hệ tiến đến giải thoát? Nó là hành vi của phàm phu
hanh hành vi của thánh nhân? Đây là vấn đề cần phải được
luận cứu. nhưng nó cũng rất phiền phức, cho nên, ở đây
tôi không thể đi sâu vào từng điểm một mà chỉ đứng
trên lập trường toàn thể của những chương mục về Nghiệp
phẩm trong A-tỳ-đạt-ma để thử phân loại của người ta
xem như thế nào.
Trong
Xá-lợi-phất-a-tỳ-đàm luận, quyển 7, có ghi những phân
loại về Nghiệp phẩm như sau:
1-
Tư nghiệp, tư dĩ nghiệp.
2-
Có tác nghiệp, phi cố tác nghiệp.
3-
Thụ gnhiệp, phi thụ nghiệp (nhận chịu hay không nhận chịu
quả báo).
4-
Thiểu thụ nghiệp, đa thụ nghiệp (chịu báo nhiều hay ít).
5-
Thục nghiệp, phi thục nghiệp (báo gần hay xa).
6-
Sắc nghiệp, phi sắc nghiệp (sắc là than, khẩu, phi sắc là
ý).
7-
Khả kiến nghiệp, bất khả kiến nghiệp (sắc nhập có thể
thấy, pháp nhập không thể thấy).
8-
Hữu đối nghiệp, vô đối nghiệp (thanh sắc nhập có đối,
pháp nhập không có đối).
9-
Thánh nghiệp, phi thánh nghiệp (vô lậu và hữu lậu).
10-
Hữu lậu nghiệp, vô lậu nghiệp.
11-
Hữu ái nghiệp, vô ái nghiệp (hữu cầu và vô cầu).
12-
Hữu cầu nghiệp, vô cầu nghiệp.
13-
Đương thủ nghiệp, phi đương thủ nghiệp.
14-
Hữu thủ nghiệp (hữu thắng), vô thủ nghiệp (vô thắng).
15-
Hữu thắng nghiệp, vô thắng nghiệp (hữu thượng và vô thượng).
16-
Thụ nghiệp, phi thụ nghiệp (nội nghiệp, ngoại nghiệp).
17-
Nội nghiệp, ngoại nghiệp (thụ và phi thụ).
18-
Hữu báo nghiệp và báo nghiệp.
19-
Tâm tương ưng nghiệp, phi tâm tương ưng nghiệp.
20-
Tâm số nghiệp, phi tâm số nghiệp (y vào duyên và phi duyên).
21-
Duyên nghiệp, phi duyên nghiệp (y vào tâm số và phi tâm số).
22-
Cộng tâm nghiệp, phi cộng tâm nghiệp (y vào tùy tâm chuyển
và bất tùy tâm chuyển).
23-
Tùy tâm chuyển nghiệp, bất tùy tâm chuyển nghiệp (y vào
cộng tâm và bất cộng tâm).
24-
Phi nghiệp tương ưng nghiệp, phi nghiệp tương ưng, phi phi
nghiệp tương ưng nghiệp (tương ưng với tư hay không tương
ưng).
25-
Cộng nghiệp, bất cộng nghiệp (y vào tùy chuyển nghiệp và
bất tùy chuyển nghiệp).
26-
Tùy nghiệp chuyển nghiệp, bất tùy nghiệp chuyển nghiệp
(y vào cộng nghiệp và bất cộng nghiệp).
27-
Nhân nghiệp, phi nhân nghiệp (y vào duyên nghiệp và bất duyên
nghiệp).
28-
Hữu nhân nghiệp, hữu duyên nghiệp (hữu nhân = hữu duyên
= hữu duyên chuyển nghiệp cộng nghiệp).
29-
Hữu duyên nghiệp, hữu vi nghiệp (hữu duyên = hữu vi).
30-
Tri nghiệp, phi tri nghiệp (tri như sự tri kiến và bất tri
như sự tri kiến).
31-
Thức nghiệp, phi thức nghiệp (y vào hết thảy nghiệp thức
ý thức, như sự thức, và không).
32-
Giải nghiệp, phi giải nghiệp (vào tri như sự tri kiến và
bất tri như sự tri kiến).
33-
Liễu nghiệp, phi liễu nghiệp.
34-
Đoạn trí tri nghiệp, phi đoạn trí tri nghiệp (y vào bất
thiện nghiệp và thiện nghiệp).
35-
Đoạn nghiệp, phi đoạn nghiệp (y vào bất thiện và thiện).
36-
Tu nghiệp và bất tu nghiệp (y vào thiện, bất thiện, vô ký).
37-
Chứng nghiệp, phi chứng nghiệp (y vào chứng như sự tri kiến
và bất chứng như sự tri kiến).
38-
Giáo nghiệp, vô giáo nghiệp (than, khẩu là giáo nghiệp, ý
là vô giáo nghiệp; hay, sắc nhập vào giáo nghiệp, pháp nhập
vô giáo nghiệp).
39-
Thân hữu giáo nghiệp, thân vô giáo nghiệp.
40-
Khẩu hữu giáo nghiệp, khẩu vô giáo nghiệp.
41-
Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.
42-
Giới nghiệp (thiện, bất thiện, vô ký).
43-
Thân giới nghiệp, thân vô giới nghiệp, than phi giới phi vô
giới nghiệp.
44-
Khẩu giới nghiệp, khẩu vô giới nghiệp, khẩu phi vô giới
nghiệp.
45-
Ý giới nghiệp, ý vô giới nghiệp, ý phi giới phi vô giới
nghiệp.
46-
Thiện nghiệp, bất thiện nghiệp, vô ký nghiệp.
47-
Học nghiệp, vô học nghiệp, phi học phi vô học nghiệp.
48-
Báo nghiệp, báo pháp nghiệp, phi báo, phi báo pháp nghiệp.
49-
Kiến đoạn nghiệp, tư duy đoạn nghiệp, phi kiến đoạn,
phi tư duy đoạn nghiệp.
50-
Kiến đoạn nhân nghiệp, tư duy đoạn nhân nghiệp, phi tư
duy đoạn nhân nghiệp.
51-
Tỳ nghiệp, trung nghiệp, thắng nghiệp.
52-
Thô nghiệp, tế nghiệp, vi nghiệp.
53-
Thụ lạc nghiệp, thụ khổ nghiệp, thụ xả nghiệp (tam thụ
tương ưng nghiệp).
54-
Lạc thụ nghiệp, khổ thụ nghiệp, xả thụ nghiệp (nói về
phương diện quả báo).
55-
Lạc thụ nghiệp, khổ thụ nghiệp, phi lạc phi khổ nghiệp
(y vào quả báo thiện, bất thiện, vô ký).
56-
Hỷ xứ nghiệp, ưu xứ nghiệp, xả xứ nghiệp.
57-
Hỷ xứ nghiệp, ưu xứ nghiệp, phi hỷ xứ, phi ưu xứ nghiệp.
58-
Hiện pháp thụ nghiệp, sinh thụ nghiệp, hậu thụ nghiệp
(tam thời nghiệp).
59-
Dữ lạc nghiệp, dữ khổ nghiệp, bất dữ bất dữ khổ nghiệp.
60-
Lạc quả nghiệp, khổ quả nghiệp, bất lạc quả, bất khổ
quả nghiệp.
61-
Lạc báo nghiệp, khổ báo nghiệp, bất lạc, bất khổ báo
nghiệp.
62-
Quá khứ nghiệp, vị lai nghiệp, hiện tại nghiệp.
63-
Quá khứ cảnh giới nghiệp, vị lai cảnh giới nghiệp, hiện
tại cảnh giới nghiệp, phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện
tại cảnh giới nghiệp.
64-
Dục
giới hệ nghiệp, sắc giới hệ nghiệp, Vô sắc giới hệ
nghiệp, bất hệ nghiệp.
65-
Tứ nghiệp (1-hắc nghiệp, hắc báo, 2- bạch nghiệp, bạch
báo, 3- hắc bạch nghiệp, hắc bạch báo, 4- phi hắc phi bạch
nghiệp, phi hắc phi bạch báo).
66-
Tứ thụ nghiệp (1- hiện khổ hậu hữu khổ báo, 2- hiện
lạc hậu hữu khổ báo, 3- hiện khổ hậu hữu lạc báo, 4-
hiện lạc hậu hữu lạc báo).
67-
Ngũ bố (phạm ngũ giới mà có hiện bố, hậu bố).
68-
Ngũ khủng (như trên).
69-
Ngũ vô gián nghiệp.
70-
Ngũ giới việt (phá năm giới).
71-
Ngũ giới.
72-
Nhân tham nghiệp, nhân huệ nghiệp, nhân bất si huệ nghiệp.
73-
Nhân bất tham nghiệp, nhân bất huệ nghiệp, nhân bất si nghiệp.
74-
Thú địa ngục nghiệp, thú súc sinh nghiệp, thú ngã quỷ nghiệp,
thú nhân nghiệp, thú thiên nghiệp, thú Niết bàn nghiệp.
75-
Thất bất thiện nghiệp.
76-
Thất thiện pháp.
77-
Bát thánh ngữ.
78-
Bát phi thánh ngữ.
79-
Nhân tham than nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp; nhân huệ thân
nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp; nhân si thân nghiệp, khẩu
nghiệp, ý nghiệp.
80-
Nhân bất tham than nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp; nhân bất
huệ than nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp; nhân bất si thân
nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.
81-
Thập bất thiện đạo nghiệp.
82-
Thập thiện đạo nghiệp.
83-
Thập pháp thành tựu, đọa địa ngục, nhanh như tên.
84-
Thập pháp thành tựu, sinh thiện xứ (cõi trời), nhanh như
tên.
85-
Nhị thập pháp thành tựu, đọa địa ngục, nhanh như tên.
86-
Nhị thập pháp thành tựu, sinh thiện xứ, nhanh như tên.
87-
Tam thập pháp thành tựu, đọa địa ngục, nhanh như tên.
88-
Tam thập pháp thành tựu, sinh thiện xứ, nhanh như tên.
89-
Tứ thập pháp thành tựu, đọa địa ngục, nhanh như tên.
90-
Tứ thập pháp thành tựu, sinh thiện xứ, nhanh như tên.
TIẾT
THỨ HAI
QUY
ĐỊNH NHỮNG ĐỨC MỤC THỰC HÀNH
Những
điểm được trình bày ở trên là dựa vào cơ sở và bối
cảnh luân lý luận của A-tỳ-đạt-ma luận thư. Như đã thường
nói nhiều lần, mục đích của Phật giáo không phải ở chỗ
thuyết minh lý luận luân lý, mà là ở chỗ thực hành luân
lý. Nhận xét ở một phương diện thì mục đích của A-tỳ-đạt-ma
luận thư tựa hồ như sự nghiên cứu lý luận giáo lý, nhưng
nhận xét ở một phương diện khác thì mục đích của A-tỳ-đạt-ma
luận thư ở thời kỳ đầu lại ở chỗ quy định và thuyết
minh những sự hạng tu hành thực tế, điểm này đã thường
nói qua ở trên. Do đó, vấn đề được đặt ra là: nếu
vậy, thì A-tỳ-đạt-ma luận thư quy định những sự hạng
thực hành đó như thế nào để tưởng thưởng? Nói thật
ra, quy định vấn đề này cho rõ rang là một điều rất khó
khăn.
Như
đã nói ở trên, đứng trên lập trường rộng rãi đức Phật
đã trưởng thành những việc thiện ở tất cả trình độ.
Nhưng từ trước đến nay, những sự hạng ấy thường được
tập hợp lại thành một ít số mục để hiển thị. Điều
này không những chỉ thấy rãi rác trong các câu kinh mà ngay
trong câu kinh điển được kết tập, như Tăng-nhất-a-hàm,
cũng toàn biên tập từ số mục một. Đương nhiên, nếu nói
một cách nghiêm khắc, thì ngay những số mục được thấy
trong kinh đó cũng chưa chắc đã do Phật nói trực tiếp, mà
do các đệ tử theo tinh thần của Phật mà kết tập. Tuy vậy,
cái căn nguyên thì vẫn là do Phật. Nói một cách đơn giản:
giáo điều căn bản là Tứ-đế, quy định thực hành là Bát-chính-đạo,
mà tưởng lệ là Tứ-thiền và Tứ-vô-sắc-định. Như vậy,
nếu cứ thuyết minh theo số mục thì ta có thể thấy rõ sự
thật trên đây. Duy có điểm đáng ngạc nhiên là: những quy
định về luân lý được thấy tản mát trong các kinh, nếu
dung con số để đưa ra những đức mục của chúng, thì con
số đó thật sẽ rất lớn. Bây giờ xin trích dẫn - từng
điều, một cách rất tóm tắt – trong Nguyên Thủy Phật Giáo
Tư tưởng Luận (cùng một tác giả) như sau:
A
-VỀ GIA ĐÌNH
1-
KINH TẾ VÀ ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH.
a)
BỐN PHÁP CỤ TÚC: 1. Phương diện cụ túc (chức nghiệp tu
dưỡng chính đáng); 2. Thủ hộ cụ túc (ngân quỷ gia đình);
3. Thiện tri thức cụ túc (kết giao với bạn tốt để học
hỏi về đạo đức và kỹ thuật); 4. Chính mệnh cụ túc
(mưu sinh lương thiện, chi, thu phải thăng bằng, không keo kiệt
biển lận, không phí phạm xa hoa) (Tạp-a-hàm, quyển 4, kinh
thứ 91).
b)
KINH TẾ CHIA THÀNH BỐN PHẦN: 1. Một phần để sinh sống;
2. Một phần để cày cấy; 3. Một phần để dự phòng; 4.
Một phần bỏ vào quỹ gia đình.
c)
SÁU NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐẾN PHÁ SẢN: 1. Uống rượu; 2. Chơi
bời (tức lêu lỏng ngoài phố cả đêm); 3. Say đắm ca kỹ;
4. Ham mê cờ bạc; 5. Giao du với bạn xấu; 6. Lười biếng
(Trường-a-hàm, quyển 11, Thiện sinh kinh; Trung-a-hàm, quyển
33, trong Kinh thiện sinh (đã nói ở trên) cho bốn điều sau
đây là nguyên nhân làm tiêu tan gia sản: 1. Mê nữ sắc; 2.
Nghiện rượu; 3. Mê cờ bạc; và, 4. Giao du với bạn xấu).
2-
NGHĨA VỤ TRONG GIA ĐÌNH.
a)
QUAN HỆ GIỮA CHA, CON: con đối với cha có năm nghĩa vụ: 1.
Giữ gia tài sản; 2. Thừa kế gia nghiệp; 3. Xác lập phả
hệ; 4. Sinh sản con cháu; 5. Thờ phụng tổ tiên. Bổn phận
cha đối với con có năm điều: 1. Ngăn con làm ác; 2. Khuyên
dạy con làm thiện; 3. Giáo học nghiệp; 4. gây dựng (hỏi
vợ gả chồng); 5. Trao quyền thừa tự khi đúng lúc.
b)
QUAN HỆ GIỮA VỢ CHỒNG: chồng đối với vợ có năm điều:
1. Kính trọng vợ; 2. Không coi thường; 3. Phải chung thủy;
4. Giao toàn quyền trong gia đình. 5. Tùy thời may sắm cho vợ.
Vợ đối với chồng cũng có năm điều: 1. Làm việc có trật
tự; 2. Đưa đón mỗi khi đi hay về; 3. Không được ngoại
tình; 4. Giữ gìn gia sản; 5. Siêng năng cần mẫn.
c)
QUAN HỆ GIỮA CHỦ NHÀ VÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC; chủ nhà đối
với người giúp việc có năm điều: 1. Tùy theo khả năng
mà sai khiến; 2. Cho ăn mặc đầy đủ; 3. Lúc ốm đau phải
lo thuốc thang; 4. Phải an ủi khi có điều buồn phiền; 5.
Phải cho thì giờ nghĩ ngơi. Người giúp việc đối với chủ
cũng có năm điều: 1. Giậy trước chủ; 2. Đi ngủ sau; 3.
Chỉ cái gì chủ cho. 4. Cố gắng làm việc; 5. Không nói xấu
chủ (Trường-a-hàm quyển 11, Thiện-sinh-kinh; Trung-a-hàm quyển
33, Thiện-sinh-kinh, Thi-ca-la-việt-lục-phương-lễ-kinh. Trong
quan hệ thì đặc biệt có ba quan hệ về gia đình).
B-
ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI
1)
QUAN HỆ GIỮA BẠN BÈ: bạn bè đối với nhau có năm điều:
đứng ở một phương diện: 1. Giúp cho tiền của. 2. Dùng
lời thân mến; 3. Làm lợi cho bạn; 4. Hòa đồng với bạn;
5. Không nói xấu bạn. Đứng ở phương diện khác: 1. Giữ
gìn không để bạn bị cám dỗ; 2. Bạn đã bị cám dỗ, phải
vì bạn mà giữ gìn tài sản cho bạn; 3. Phải che chở khi
bạn bị đe dọa; 4. Giúp sức cho bạn khi gặp rủi ro; 5. Thương
yêu con cháu của bạn.
2)
QUAN HỆ GIỮA THẦY TRÒ: trò đối thầy có năm điều: 1. Khi
thấy thầy phải đứng dậy; 2. Phải gần gũi thầy luôn;
3. Chăm chú nghe thầy nói; 4. Tôn trọng thầy; 5. Không quên
những điều thầy dạy. Thầy đối với trò cũng có năm điều:
1. rèn luyện phẩm tịnh; 2. Làm cho ghi nhớ những điều đã
học; 3. Tùy theo những điều trò hỏi, không tiếc trả lời;
4. Chỉ những bạn tốt cho giao du; 5. Đi đâu phải che chở
cho trò.
3)
QUAN HỆ GIỮA SA MÔN, BÀ-LA-MÔN VÀ TÍN ĐỒ: tín đồ đối
với thầy y chỉ có năm điều: 1. thân làm việc thiện; 2.
Miệng nói lời thiện; 3. Ý nghĩ điểu thiện; 4. Đón tiếp
khi thầy tới nhà; 5. Dâng y thực. Sa-môn, Bà-la-môn đối với
tín đồ có sáu điều: 1. Ngăn cấm tín đồ làm ác; 2. Khuyến
khích họ làm lành; 3. Thương mến họ; 4. Học hưa nghe thì
cho họ nghe; 5. Họ nghe rồi làm cho họ hiểu; 6. Khai mở thiên
đạo.
Nếu
nói một cách tóm tắt thì đó là Tứ-nhiếp-sự: 1. Bá thí;
2. Ái ngữ; 3. Lợi hành; 4. Đồng sự. còn có việc cụ thể,
như: trồng cây ăn trái, bắc cầu, đóng thuyền bè, cất
nhà nghỉ mát và đào giếng cho tiện khách bộ hành (Tạp-a-hàm,
quyển 36, Du-hành-kinh).
C-
CHÍNH ĐẠO
1-
CHÍNH ĐẠOTHỰC TẾ.
1.
Thường phải nhóm họp để đàm luận về chính sự; 2. Phát
huy tinh thần đoàn kết; 3. Tôn trọng truyền thống; 4. Kính
lễ các bậc nguyên lão (tức những hiểu rõ tình hình chính
trị quốc gia) trong nước và nghe theo ý của họ; 5. Đàn bà
con gái phải giữ trinh tháo; 6. Tôn sung các tôn miếu trong
nước; 7. Như pháp tôn kính A-la-hán (Trường-a-hàm, quyển
2, Du-hành-kính).
2-
MƯỜI ĐỨC CỦA NHÀ VUA.
1.
Thanh liêm và khoan dung; 2. Nghe theo lời can gián của quần thần;
3. Cùng dân chung vui; 4. Thu thuế theo đúng như pháp quy định;
5. Việc khuê phòng phải chấn chỉnh, tiết tháo; 6. Không nên
uống nhiều rượu; 7. Khi nghe quần thần tấu bẩm phải uy
nghiêm; 8. Phán quyết đúng theo luật, không quanh co, thiên vị;
9. Hòa thuận với quần thần; 10. Chăm chú đến sức khỏe
của than thể (Tăng-nhất-a-hàm, quyển 42).
3-
BẢY THỨ CỦA LUÂN VƯƠNG.
1.
Bảo luân; 2. Bạch tượng; 3. Cám mã (ngựa đỏ); 4. Thần
châu; 5. Ngọc nữ; 6. Cư sĩ; 7. Chủ binh (Trường-a-hàm quyển
2).
D-
ĐẠO ĐỨC CỦA TÍN ĐỒ.
a)
TỨ CỤ TÚC: 1. Tín cụ túc – quy y Tam Bảo; 2. Thí cụ túc
– tùy hỷ bá thí; 3. Giới cụ túc - giữ gìn năm giới; 4.
Tuệ cụ túc – quán sát lý Tứ-đế.
b)
TÁM TRAI GIỚI: Tám trai giới là do năm giới và ba trì trai
hợp thành. Năm giới là: 1. Không giết hại; 2. Không trộm
cắp; 3. Không gian dâm; 4. Không nói dối; 5. Không uống rượu.
Ba trì trai là: 1. Không ăn phi thời; 2. Không xem ca kịch, múa
hát, thoa dầu thơm và đeo hoa; 3. Không nằm, ngồi trên giường
cao.
c)
MƯỜI NGHIỆP BẤT THIỆN: 1. Sát sanh; 2. Trộm cắp; 3. Gian
dâm; 4. Nói dối; 5. Nói lưỡi hai chiều; 6. Nói lời ác; 7.
Nói thêu dệt; 8. Tham dục; 9. Sân huệ; 10. Tà kiến. Trừ bỏ
mười điều trên đây sẽ thành mười nghiệp thiện (Câu-xá
quyển 16).
Trở
lên là những đức mục trọng yếu trong đời sống đạo
đức và lợi ích cho hiện thế và hậu thế mà chính đức
Phật đã chỉ dạy. Đến nhiệm vụ của A-tỳ-đạt-ma là
giải thích rộng và định nghĩa và hiển bày rõ khái niệm
của những đức mục ấy. Nhưng điều chúng ta cần chú ý
ở đây là, theo chỗ tôi tận lực nghiên cứu, trong A-tỳ-đạt-ma
hay tản mát trong các kinh, ta thấy rất ít thuyết minh về
đạo đức thế tục, mà phần nhiều chỉ chuyên đề cao những
đức mục tu đạo có quan hệ trực tiếp đến giải thoát.
Chẳng hạn như số mục 37 Trợ Đạo Phẩm (Tứ niệm trụ,
Tứ chính đoạn, Tứ thần túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác
chi, Bát chính đạo), đến thời đại A-tỳ-đạt-ma thì đã
mất đi cái thái độ bao dung và thái độ xã hội của đức
Phật mà chỉ còn lại cái khuynh hướng hợp lý và chuyên
chú vào chủ nghĩa xuất gia. Cho nên, khi luận về thiện, ác,
tuy A-tỳ-đạt-ma có trọng những đức mục luân lý, nhưng
trên thực tế, điều được thuyết minh một cách tận lực
lại không phải là luân lý nhất ban mà là những đức mục
đặc biệt mà tín đồ có thể tuân thủ. Nói một cách nhất
ban thì như ai nấy đều biết Thập nghiệp đạo là căn để
của hết thảy đạo đức; sau đó, từ Bát trai giới tiến
lên mà thuyết minh về những đức mục đạo đức đặc thù
thì bắt đầu từ Tỳ-bà-băng-già, rồi đến thái độ của
A-tỳ-đạt-ma phần nhiều cũng xử lý. Bởi vậy, ở đây
dự tưởng những đức mục thế tục, tôi tưởng trước
hết cũng phải bắt đầu thuyết minh từ thập nghiệp đạo.
TIẾT
THỨ BA
THẬP
NGHIỆP ĐẠO
Thập
nghiệp đạo (1) là gồm những hành vi hoạt động của than,
khẩu và ý. Nếu chia nhỏ ra nữa thì thân có ba nghiệp, khẩu
có bốn và ý có ba. Khi tạo nghiệp ác thì gọi là Thập ác
nghiệp đạo, khi làm thiện thì gọi là thập thiện nghiệp
đạo. Chia ra như sau:
Ba
nghiệp ác của thân: 1. Sát sinh, 2. Trộm cắp, 3. Tà dâm.
Bốn
nghiệp ác của miệng: 4. Nói dối, 5. Nói lưỡi hai chiều,
6. Nói lời ác độc, 7. Nói thêu dệt.
Ba
nghiệp ác của ý là: 8. tham dục, 9. Sân huệ, 10. tà kiến.
(1)
Bà sa quyển 113; Thành-thật-luận quyển 8, phẩm Thập-bất-thiện-nghiệp-đạo
116 và quyển 9, phẩm Thập nghiệp đạo 117; Câu-xá luận,
quyển 6… có bàn rõ về Thập nghiệp đạo.
1.
SÁT
SINH – Sát sinh, nghĩa là giết hại sinh vật, và là hành
vi trọng yếu nhất trong các hạnh ác. Không những chỉ Phật
giáo nhận định như vậy, mà theo một ý nghĩa nào đó, tất
cả các tôn giáo ở Ấn Độ cũng thừa nhận là tối kỵ.
Đặc biệt là Kỳ-na-giáo (Jainism) cấm chỉ sát sinh, đó là
một sự thật hiển nhiên. Do đó, vấn đề sát sinh tuy không
cần phải đặc biệt thuyết minh, nhưng A-tỳ-đạt-ma đối
với vấn đề này cũng có nhiều nghị luận cần được khảo
sát.
Thứ
nhất, tại sao sát sanh là tội ác? Vấn đề này, trong giáo
lý Phật giáo, theo nhiều lập trường tuy có điểm cần khảo
sát, nhưng theo chỗ tôi biết, trong A-tỳ-đạt-ma luận thư
vẫn chưa luận cứu nó một cách sâu xa, bởi lẽ, sát sinh
tự nó đã là tội ác rồi, một sự thực hiển nhiên, không
cần phải luận cứu thêm nữa. Chiếu theo khế-sinh, thì Khế-sinh
đã đưa ra căn cứ Thập nghiệp đạo, đã có lý luận của
cái gọi là “tự thông pháp”, cho nên, A-tỳ-đạt-ma cũng
có thể được coi như dự tưởng điều đó. Tự thông pháp
có nghĩa là “suy bụng ta ra bụng người”, tức là tâm đồng
tình. Như nói:
Tôi
muốn sống không muốn chết, muốn được sung sướng, không
muốn phải đau khổ. Nếu có kẽ nào cướp đi sự sống,
sự sung sướng của tôi, tôi có vui vẻ không? Nếu tôi không
vui vẻ thì kẻ khác cũng không vui vẻ khi tôi cướp đi của
họ sự sống và sự sung sướng ấy. Không những thế, phàm
cái gì mình không ưa thích thì kẻ khác cũng không ưa thích.
Nếu thế thì tại sao ta lại làm cho những kẻ khác những
điều mà ta không ưa thích? (Tăng-hàm, quyển 37).
Thứ
hai, nếu giòng sinh mệnh của người ta luôn luôn biến diệt
thì sát sinh há chẳng là vô nghĩa sao? Đó là vấn nạn được
đề ra trong luận Câu-xá, quyển 16, luận Thành-thật, quyển
8 (phẩm Thập-bất-thiện-nghiệp-đạo 116). Theo Bảo-sớ thì
đây là nổi khó khăn của Chính-lượng-bộ khi lập ra Tứ-tướng.
Về vấn đề này, Câu-xá có hai thuyết: 1- Dứt sự sống
nối tiếp gọi là sát sinh; 2- Có ý sát sinh gọi là sát sinh.
Sát sinh không liên quan gì đến niệm niệm tương tục, mà
trong một kỳ nối tiếp cưỡng đoạn sự nối tiếp ấy,
đi ngược lại với ý chí của chúng sinh mà thành tội ác.
Bà sa quyển 118 bảo không có thực tại chúng sinh thì làm
sao có tội sát sinh? Để trả lời nghie vấn đó, Thế Hữu
bảo có “chúng sinh tưởng”.
Thứ
ba, ngộ sát có phạm tội sát sinh không? Vấn đề chính là
ở đó. Ngộ sát, vì đi ngược cới ý chí muốn sống còn
của chúng sinh, nên kết quả cũng thành như sát. Các nhà chủ
trương kết-quả-luận (như Kỳ-na - chủ trương Ly-hệ) cho
rằng ngộ sát cũng đồng tội sát sinh, hệt như đụng nhầm
phải lửa bị lửa đốt (Câu-xá, quyển 16 trích dẫn). Nhưng
trong Phật giáo, quan điểm này không được thừa nhận. Tuy
phải chịu trách nhiệm về sự sơ ý, nhưng vì không có động
cơ muốn giết nên không thể cho là tội sát sinh với đầy
đủ ý nghĩa. Như Câu-xá đã biện giải: nếu có người đụng
lầm vào đàn bà, hay sau một cuộc yến ẩm, nếu thực khách
thình lình đau bụng thì đó chẳng qua là lỗi lầm ngẩu nhiên,
ngoài ý muốn mà thôi (như trên). Theo Phật giáo, như đã nói
ở trên, tuy có nhiều điều kiện để thành lập tội sát
sinh, nhưng điều kiện chủ yếu là động cơ (motive), bởi
thế cho dù chính mình không ra tay, nhưng lấy ý sai người
khác thực hiện, cũng sẽ thành tội sát sinh.
Thứ
tư, vì động cơ tham, sân, si mà sát hại thì phạm tội ác
đã đành, nhưng nếu vì kỹ luật, trật tự, vì quân pháp,
hay vì cứu nhiều người mà sát sinh thì có thành tội không?
Trên thực tế, có thể thừa nhận đây là một tội ác bất
đắc dĩ, nhưng trong Phật giáo, nó cũng được coi như một
tội sát sinh (Câu-xá, quyển 16; Thành-thật, quyển 7, trong
phẩm Tam-nghiệp cũng có ý kiến tương đồng như vậy). Trong
Thành-thật-luận quyển 8, phẩm Thập-bất-thiện-đạo-nghiệp
116, đặc biệt có đưa ra vấn đề vì nghĩa vụ đối với
quốc vương, quan lại, hay vì bị bắt buộc mà phải sát hại
để thảo luận, đồng thời, có nêu lên những trường hợp
sát sinh chính đáng được áp dụng ở thời bấy giờ để
phê bình. Tức là theo Bà-la-môn, sát sinh để tế thần, vì
nhà vua, quan lại, hoặc vì trừ họa cho người mà sát sinh;
hay như tập tục của một bộ lạc giáp giới Ba Tư, mỗi
khi cha mẹ đau ốm thì đem giết đi, bảo thế là diệt trừ
sự đau đớn cho cha mẹ. Tất cả những trường hợp sát
sinh trên đây được coi là chính đáng. Nhưng Phật giáo bài
bác quan niệm ấy và cho rằng kết luận và uy nạp từ vô
tri (si) mà ra. A-tỳ-đạt-ma tuy tuyệt đối chủ trương nghĩa
bất sát sinh, nhưng theo chỗ tôi biết, trên thực tế, khi
những vấn đề như: diệt ác thú để trừ họa hại, chống
lại sự xâm lượt của quân địch, cho đến phải thi hành
án tử hình do pháp luật quy định v.v… được nêu lên thì
A-tỳ-đạt-ma phải xử trí như thế nào mới cho là chính
đáng? Trong các luận hầu như không thể đề cập đến những
vấn đề đó (về ý kiến của Phật giáo vận động bãi
bỏ án tử hình, phản đối giải phẩu sinh vật, và chủ
trương giết một người cứu muôn người của Đại thừa
v.v… có thể tham khảo kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân,
quyển 7, phẩm Thân Cận và phẩm Hành Nguyện Sớ Sao, 5, v.v…).
Lại
nữa theo chỗ tôi biết, đối với A-tỳ-đạt-ma, tuy không
thành vấn đề đặc biệt, nhưng trong Phật giáo không những
chỉ cấm giết người khác, mà theo theo luật, tự sát cũng
bị lên án. Có nhiều tỷ khưu, vì tu pháp bất tịnh quán,
nên cảm thấy chán ghét thân thể, bèn tự sát. Theo truyền
thuyết thì hành vi đó được Tự Tại Thiên tán thưởng,
nhưng bị Phật quở trách. Những người muốn tự sát, hay
tán trợ hành động tự sát bị kết tội Du-la-da, hoặc Ba-la-di
(tức bị lột áo và đuổi ra khỏi Giáo Hội). Cho đến vì
lúc bệnh tật đau đớn khó chịu nổi mà muốn tự sát cũng
bị Phật giáo cấm chỉ (Ngũ Phần Luật, quyển 2). Ngoài ra,
A-tỳ-đạt-ma còn bàn tới những vấn đề như nhiều người
cùng mưu việc sát sinh mà một đạt được mục đích, thật
sự đã ra tay mà không giết hại được người thì trách
nhiệm đó ra sao (có trách nhiệm); khi cả người giết lẫn
bị giết đều chết một lượt thì như thế nào; cái trách
nhiệm của kẻ sai người khác rat ay sát hại như thế nào
v.v… nhưng vì quá phiền tạp nên xin bỏ qua.
Tóm
lại, cứ theo A-tỳ-đạt-ma, nếu ý chí quyết định thực
hiện thì tất cả hành động sát sinh, bất luận loại nào,
tuy có nặng, nhẹ khác nhau, nhưng đều phạm tội sát sinh
cả. Nếu từ bỏ nghiệp sát sinh thì tức là đã làm được
một trong mười điều thiện vậy.
2-
ĂN
TRỘM - Thứ đến là ăn trộm. Nếu theo nghĩa gốc của
chữ adinnàdàna thì bất cứ vật gì người ta không cho mà
lấy, hoặc cưỡng đoạt đều gọi là ăn trộm. Ngũ Phần
Luật bảo nếu Tỷ khưu lấy trộm vật gì đáng giá từ năm
đồng trở lên sẽ bị kết vào tội Ba-la-di (trục xuất).
Theo định chế của vua A-xà-thế nước Ma-kiệt-đà thời
bấy giờ, hễ ai ăn trộm vật gì đáng giá năm tiền (1/10
quan) trở lên, theo tập quán, bị xử tử (Ngũ Phần Luật,
quyển 1). Điểm này, trong A-tỳ-đạt-ma cũng có nhiều nghị
luận.
Thứ
nhất, những điều kiện cấu thành tội ăn trộm, cũng giống
như tội sát sinh ở trên, tức là cũng đủ bốn điều kiện.
Nếu vì vô ý mà lấy trộm của người khác, tuy phải chịu
trách nhiệm về sự vô ý, nhưng không cấu thành tội ăn trộm.
Thứ
hai, vì sự sống bắt buộc, bất đắc dĩ mà phải ăn trộm
thì có phạm tội không? Về điểm này, ở Ấn Độ thời
bấy giờ, người ta cho rằng, trong những trường hợp như
vậy mà lấy trộm là chính đáng. Như luận Thành Thật, quyển
7, nói: “Các kinh điển thế gian bảo nếu thiếu ăn trong
bảy ngày mà lấy trộm của Thủ Đà La thì không có tội;
nếu đói gần chết được lấy của Bà-la-môn. Người ấy
tuy sống bằng nghiệp ác, nhưng không thể bảo họ là người
phá giới, vì trong lúc cấp nạn, cũng như hư không, bụi nhơ
không thể làm hoen ố người ấy cũng vậy; tội không thể
hiểm được. Lại nói trong pháp Phạm Chí bảo nếu khi cướp
đoạt mà bị tài chủ ngăn chận thì lúc đó Phạm Chí phải
trù tính; nếu công đức của tài chủ kém mình thì nên giết
họ đi, tại sao? Vì mình là người hơn họ, có thể dung mọi
phép sám hối để trừ tội ác đó. Nếu công đức ngang nhau
thì mình hay giết người tội đó cũng bằng nhau, và đó là
trọng tội, khó có thể diệt trừ được. Cứ theo sự tính
toán, phân biệt đó mà cướp đoạt” (Thành-thật-luận,
dĩ quyển 73, Nghiệp Phẩm 100). Nhưng, dĩ nhiên là Phật giáo,
không thừa nhận như thế, trong Phật giáo lấy của người
ta thì đều phạm tội ăn trộm cả. Thành-thật-luận, quyển
8 (Thập-bất-thiện-nghiệp-đạo phẩm 116) còn đưa ra nghi
luận của cái gọi là “công nghiệp”, tức là tất cả
đều do nghiệp chung phát sinh thì ăn trộm cũng không có tội.
Song, trong Phật giáo vì ngoài cộng nghiệp còn thừa nhận
có biệt nghiệp, và do biệt nghiệp mà có tài sản tư hữu
nên bất cứ ai, không có quyền xâm phạm.
Thứ
ba, đối với hành động ăn trộm, khi A-tỳ-đạt-ma luận
về những trường hợp đặc định thì rất lý thú. Trước
hết, lấy một vật được chon dưới đất thì có phạm tội
ăn trộm hay không? Chiếu theo luật, khi Phật bắt đầu chế
giới ăn trộm, có một số Tỷ Khưu nghĩ rằng, Phật chỉ
cấm lấy những vật trong thôn ấp (tụ lạc), làng, xóm, chứ
những vật trên đất trống (trong rừng núi, cánh đồng hoang)
thì chắc Phật không cấm ngặt, vì có niệm như vậy nên
bị Phật quở trách (Ngũ Phần Luận, quyển 1). Song điều
thú vị là điểm này, trong Bà sa, Câu-xá và Thành thật, có
những ý kiến bất đồng. Cứ theo Câu-xá thì dù là của
vô chủ, nhưng vì vật nằm trên đất của nhà vua, cho nên,
nếu đào lên mà lấy cũng cấu thành tội ăn trộm. Trong Bà
sa cũng có bàn đến quyền sở hữu của nhà vua và của nhân
dân, cho rằng dân chúng chỉ có quyền sở hữu đối với
vật trên mặt đất, chứ không thể có quyền đó đối với
những vật dưới đất, bởi thế, lấy thì chỉ phạm tội
với nhà vua thôi; nhưng, nếu là vật khoảng giữa hai quốc
gia thì khi lấy dùng, lại cho là không có tội (Bà sa, quyển
13; Câu-xá, quyển 16). Trái lại, luận Thành Thật (quyển 8,
Thập-bất-thiện-nghiệp-đạo phẩm 116) thì nói: “Hỏi: Có
người bảo vật dưới đất thuộc về vua, nếu lấy sẽ
đắc tội với vua; việc đó như thế nào? – Đáp: không
nói gì vật dưới đất, mà ngay vật trên mặt đất cũng
của nhà vua, nhưng nếu lấy cũng không có tội. Tại sao? Vì
Cấp Cô Độc cũng lấy vật đó mà không sao, nên biết là
vô tội”. Quan điểm dị biệt này phát sinh là do kiến giải
bất đồng về luật. song, theo luật Di Sa Tắc (Ngũ Phần Luật)
thì vật trên đất dĩ nhiên là không được lấy, nhưng đến
vật giữa hư không hay dưới mặt đất đi nữa cũng cấm
chỉ, không được lấy; do đó, thuyết của Câu-xá tựa hồ
đúng với chân ý của Phật giáo (như trên, xem Ngũ Phần Luật,
quyển 1). A-tỳ-đạt-ma còn cấm lấy những vật thuộc chùa,
đền, tháp, miếu nữa. Những vật của chùa, tháp là vật
sở hữu của Tam Bảo, người chủ trì nói tuy không có lòng
tư dục đặc biệt, nhưng nếu lấy đi sẽ thành tội ăn trộm
đối với Như Lai và Tăng chúng (Câu-xá 16; Thành-thật, quyển
8, như trên).
3-
TÀ
DÂM– Tà dâm hay hành tà dục, trên nguyên tắc là cái
tội giao tiếp với vợ hoặc chồng của người khác. Theo
Phật giáo, dù có của mình đi nữa nhưng nếu hành dâm không
đúng lúc, không đúng chỗ cũng bị coi như tà dâm.