CHƯƠNG
V
THIỆN,
ÁC NGHIỆP VỚI QUẢ BÁO
1-
LỜI TỰA.
Những
điểm được trình bày ở trên tuy hơi tạp loạn, nhưng cách
xử lý của A-tỳ-đạt-ma chủ yếu là lấy việc lánh ác
đức tiến đến thiện đức làm căn bản. Do đó, vấn đề
được nêu lên ở đây là sự thù báo của những hành vi
thiện, ác như thế nào? Những hành vi thiện ác tự chúng
đã có ý nghĩa hoàn thành, mà sự sinh hoạt ở đời vốn
lấy công lợi làm căn cứ, điều thiện cần được tưởng
lệ, điều ác cần phải xa lánh. Chính vì thế mà tư tưởng
nghiệp báo được thành lập, tức thiện nghiệp sẽ mang lại
quả báo hạnh phúc, ác nghiệp sẽ đưa đến quả khổ. Đương
nhiên, cái lý tưởng tối cao của Phật giáo, như đã thường
nói, là ở chỗ giải thoát Niết bàn, lấy đó làm mục tiêu
đức hạnh, tuy ở cái gọi là “vô sở đắc” (như Đế
Thích vì muốn thử hạnh bá thí của Bồ tát, mới giả hiện
ra địa ngục, rồi bảo người hành thí phải vào địa ngục,
còn kẻ thụ thí thì sinh lên cõi Trời. Nhưng Bồ tát vẫn
mạnh dạn tuyên bố quyết thực hành bá thí), song, ở trong
luân hồi giới thì nhưng nhiên thiện có thiện báo, mà ác
thì có ác báo. Nhờ ở sự kỳ vọng đó mà những hành vi
luân lý của người ta mới có thể tăng tiến, đó là một
sự thật hiển nhiên. Vả lại, theo Phật giáo, đó là quy
luật tự nhiên. Chiếu theo Phật giáo nguyên thủy, đức Phật
đứng trên lập trường giáo huấn, tuy thường nói “thiện
nhân thiện quả, ác nhân ác quả”, nhưng nếu thuyết minh
nó dưới hình thái lý luận thì, theo chỗ tôi tận lực nghiên
cứu, trong Ni Kha Da vẫn chưa thấy biểu hiện. Song, căn cứ
trên lập trường tâm lý luận và sinh mệnh quán mà biến
cải nó theo hình thái lý luận thì thành ra pháp tắc “tự
nghiệp tự đắc”, tóm lại, giữa ý chí, kinh nghiệm, tính
cách và hành vi, có một trật tự nhất định, cái gọi là
“tự nghiệp tự đắc” chính là chỉ sự thật đó. Về
điểm này, tôi đã nói qua trong cuốn Nguyên Thủy Phật Giáo
Tư tưởng Luận (cùng một tác giả - chú của người dịch)
rồi. Rồi lại muốn chỉnh lý nó về phương diện hình thức,
chính là A-tỳ-đạt-ma luận thư.
2-
ẢNH HƯỞNG TÂM LÝ VỚI NGHIỆP.
Trước
hết, hãy nói về sự thể của nghiệp. Như đã trình bày
ở trên, về mặt tâm lý, do những hành vi thiện ác mà thân
tâm ta chịu một tính cách nhất định, tuy là vô ý thức
nhưng đó là một sự thật vĩnh viễn bất diệt. Nhưng, theo
quy mô Phật giáo, vấn đề tính cách nên được thuyết minh
như thế nào thì lại có nhiều giải thích khác nhau. Thật
ra, về điểm này, tôi đã thường đề cập đến ở trên,
nhưng theo thuận tự, ở đây lại xin nói một cách đơn giản
về nhận xét thêm.
Đứng
trên lập trường cơ giới chủ nghĩa mà nói, thì sinh mệnh
quan lấy nghiệp tập nằm trong tổ chức sinh mệnh mà thêm
vào cho đặc sắc sinh mệnh. Hữu-bộ nói vô biểu sắc chính
là đại biểu cho tưởng pháp đó. Theo lập trường này thì
sinh mệnh (hay tâm) của chúng ta là do các uẩn hòa hợp, chỉ
là kết quả của sự tích tụ một cách máy móc, bởi thế,
nếu đem nó phụ thuộc vào nghiệp tập đặc thù tất kính
cũng không ngoài tính cách máy móc. Trái lại, nếu đứng trên
lập trường sinh cơ chủ nghĩa mà nói, thì vì coi tổ chức
sinh mệnh (hay tâm) là một loại có cơ thể, nên nghiệp tập,
tùy theo cách phát động hữu cơ thể như thế nào, mà rốt
lại cũng không ngoài cái tính cách hoặc khuynh hướng của
khả năng thái đó. Ấy là tư tưởng đại biểu lấy kinh
Lượng Bộ làm điểm xuất phát để tiến triển trải qua
đến những tư tưởng Duy Thức v.v… Luận bộ Nam phương
đã tiến đến tư tưởng “Hữu Phân Thức”, nói theo lập
trường Nghiệp Luận, có lẽ là đứng ở khoảng giữa hai
tư tưởng trên đây. Hữu Phân Thức, thể vô ý thức - về
điểm được coi như chỗ chứa giữ nghiệp tập, tuy có giống
như tư tưởng chủng tử lấy Căn Bản Uẩn làm trung tâm,
nhưng lấy nó làm chủ mà coi là thụ động thì, về điểm
không có sự tự phát, nó không khỏi có tính cách rất máy
móc. Thật ra, coi nghiệp như máy móc, giải thích nó như sinh
sơ với các nhà chủ trương Hữu Ngã Luận, coi nghiệp phụ
thuộc Ngã, đương nhiên đã có sự bất đồng rất lớn,
thế nhưng ở điểm lấy nghiệp tập làm bản chất sinh mệnh
(nhất là khi xét về tác dụng) thì đồng nhất; tuy nhiên,
về phương diện khái niệm, nếu bảo bên nào đúng, bên nào
sai, thì điểm bất đồng giữa hai bên là: các nhà cơ giới
chủ nghĩa cho nghiệp là một vật phụ thuộc, còn các nhà
sinh cơ chủ nghĩa thì cho nó là bản chất.
3-
NGHIỆP VÀ QUẢ BÁO.
Lấy
nghiệp thiện ác làm nhân để dẫn phát đến quả như thế
nào? Nếu nói một cách chặt chẽ thì do các lập thuyết nhân
quả mà có nhiều cách giải thích khác nhau (1). Nhưng, trên
đại thể, tôi tưởng ta có thể chia làm hai loại. Nói theo
thuật ngữ thì đó là phương diện đồng loại nhân nghiệp
dẫn đến đẳng lưu quả (gồm tăng thượng quả) và phương
diện dị thục nhân nghiệp dẫn đến dị thục quả. Đúng
ra thì quan hệ giữa hai phương diện đó vì quá mật thiết
nên không thể tách rời ra được, tuy nhiên, để tiện lợi
cho việc quan sát, chúng ta hãy tạm chia thành hai phương diện
như trên. Thứ nhất, đồng loại nhân đẳng lưu quả, khi
xét về mặt sự thực, thì dù cho là nhân quả tâm lý cũng
có quan hệ, nghĩa là nghiệp và quả, trên tính chất là đồng
nhất. Thường nghĩ đến hành vi xấu thì kết quả sẽ trở
thành người xấu, tiến lên nữa sẽ trở thành ác quỷ; cũng
thế, nếu thường nghĩ đến hành vi tốt thì kết quả sẽ
trở thành người tốt, tiến mãi sẽ trở thành thánh nhân,
thiên sứ v.v… Mà điều này, trên kinh nghiệm, là một sự
thật hiển nhiên. Nguyên tắc giáo dục thực tế, tuy cũng
như thế, nhưng Phật giáo còn truy nguyên nó đến ba đời,
nghĩa là, người tốt, người xấu, người ngu, người hiền
ở kiếp này đều do nghiệp tập của họ ở kiếp trước
(nhưng không phải là chủ trương Túc Mệnh Luận). Thứ hai,
dị thục nhân, dị thục quả, là luật nhân quả phổ thông:
làm thiện được quả báo sung sướng, làm ác chịu quả báo
đau khổ. Cái tình hình giữa dị thục nhân dị thục quả
và đồng loại nhân đẳng lưu quả có khác nhau, nguyên nhân
và kết quả, về tính chất không hẳn giống nhau, cứ theo
các nhà chú giải thì khác loài mà chín nên gọi là dị thục
quả (2). Nhân tuy là thiện ác, mà quả là khổ vui (lấy nhân
khổ vui mà nói thân tâm vô ký), phạm trù tuy có khác nhau,
nhưng cái quan hệ nhân quả đó hoàn toàn xuất phát từ yêu
cầu luận lý của người ta, đến như cái quan hệ tất nhiên
của nó thì không dễ gì chứng minh được. Song, nếu không
lập thành nhân quả thì, trên thực tế là một đều vô cùng
thiếu sót, bởi thế, Phật giáo cho tác dụng bên trong đồng
loại nhân đẳng lưu quả là chân lý dễ nhận và khoáng trương
nó qua ba đời để nói rõ thỏa đáng tính của nó về mặt
giá trị vậy.
(1)
Câu xá, quyển 17, bảo nghiệp dẫn đến nhiều loại quả;
chẳng hạn: “Nghiệp thiện và bất thiện được quả như
thế nào? Tất cả đếu có thể chiêu cảm quả dị thục,
đẳng lưu và tăng thượng”. Rồi đưa ra trường hợp sát
sinh làm thí dụ: Hành sát sinh trước hết cảm quả dị thục
ở địa ngục, sau sinh làm người, thọ mệnh ngắn ngũi là
đẳng lưu quả, còn những gì bên ngoài được sáng sủa là
tăng thượng quả (thủ ý).
(2)
Thục có hai loại: 1- Dị loại, Đồng loại thục, tức đẳng
lưu quả, nghĩa là thiện sinh thiện, ác sinh ác, vô ký sinh
vô ký. Dị loại thục, tức là dị thục quả, nghĩa là thiện
và bất thiện sinh quả vô ký (Bà sa, quyển 49, Đại chính,
27, trang 97, cột giữa).
Do
hai loại nhân quả trên đây, mà thấy được sự bất đồng
giữa các tác dụng tâm lý và vật đồng sinh, sự bất đồng
về vận mệnh khổ vui, nếu nói một cách đơn giản, thì
đó là nói rõ những tướng trạng khác nhau của thế giới,
và đó cũng chính là một đặc trưng về thế giới quan (hay
nhân sinh quan) của A-tỳ-đạt-ma. Ở đầu phẩm Nghiệp trong
Câu xá, nói “Đời khác bởi nghiệp sinh” chính là muốn
nói rõ điểm đó.
Song,
vấn đề được đặt ra ở đây là, thế giới duy chỉ có
nghĩa là hữu tình thế gian hay còn bao hàm cả ý nghĩa khí
thế gian nữa? Ở thời đại Phật giáo nguyên thủy chỉ luận
về cái gọi là “thế giới của chúng ta”, còn thế giới
vật lý thì không thành vấn đề đặc biệt. Nhưng đến A-tỳ-đạt-ma
thì vì đồng thời với Nghiệp Luận, thế giới quan cũng
đã phát đạt, cho nên nó đã thành vấn đề rõ rệt. Về
điểm này, trưng theo Luận Sự thì Án Đạt La Phái chủ trương
“Địa cầu này cũng là nghiệp quả (K, V, VII)”. Phái này
và Chính-lượng-bộ cùng chủ trương “Vật chất cũng là
dị thục quả (K,V. XVI, 8)”, hiển nhiên ta thấy thế giới
vật lý cũng y vào kết quả của nghiệp, Thượng tọa bộ
Nam phương trước sau vẫn giữ lập trường của Phật giáo
nguyên thủy, tuy muốn hạn cục nghiệp quả vào hữu tình
thế gian, nhưng như thế không khỏi có điểm không triệt
để. Hữu-bộ, lúc đầu tuy không được rõ, nhưng đến Bà
sa (quyển 98 và 127), Câu xá, (quyển 13) v.v… không những cho
hữu tình thế gian mà ngay cả khí thế gian cũng y vào sự
sai biệt của nghiệp (như Câu xá, nói: “Hữu tình thế gian
và khí thế gian đều sai biệt nhiều và những sự sai biệt
ấy do đâu mà có? Đáp: thế giới sai biệt do nghiệp sinh”,
(quyển 13). Chúng tướng của hữu tình là do biệt nghiệp
chiêu cảm, chủng tướng của khí giới là do cộng nghiệp
chiêu cảm, cách thuyết minh này, có thể nói, cách thuyết
minh cộng thông từ Bà sa trở về sau (1) đến Luận bộ Bắc
phương, như luận Thành thật (2) cũng rõ ràng đã dùng thuật
ngữ cộng nghiệp. Từ thuyết này lại tiến lên một bước
nữa là luận Duy Thức bảo rằng hết thảy chủng tử của
A lại gia thức biến hiện.
Còn
một điểm nữa tuy không quan trọng, nhưng vì nó có liên quan
đến vấn đề này nên không thể bỏ qua. Đó là: sự quan
hệ giữa nghiệp và quả dị thục duy chỉ hạn cục trong
nghiệp thiện ác mà không có trong vô ký? Về vấn đề này,
chủ trương của các bộ phái, trưng theo Luận sự 12, 2, cho
rằng tất cả nghiệp đều có dị thục quả, cho dù nghiệp
vô ký cũng có quả dị thục. Nhưng Thượng tọa bộ Nam phương,
Hữu-bộ (Bà sa, quyển 19. Đại chính, 27, trang 918, trung và
quyển 115, Đại chính, 27, trang 598, cột trên) và Thành-thật-luận
(quyển 7, Tam Nghiệp phẩm 100, Đại chính, 32, trang 295, cột
giữa) đều phản đối thuyết này. Song, nói một cách thực
tế, cũng có phái triệt để thừa nhận vô ký nghiệp nhưng
nhiên vẫn có quả. Theo Phật Âm cho ta biết thì phái chủ
trương thuyết này là Đại chúng bộ.
(1)
“Hỏi: Trong khí thế giới Tô-mê-ly-sơn châu này, tất cả
hữu tình đều do cộng nghiệp phát khởi. Trong đó người
ban Niết bàn thì tại sao những vật ấy lại không giảm thiểu?
– Tôn giả Thế Hữu đáp rằng: “Nếu vật do sĩ dụng quả
và tăng thượng quả gần sinh cũng có giảm thiểu” (Bà sa
quyển 21, Đại chính, 27, trang 106, hạ). “Song, số hữu tình
trong các thế gian đều do tự nghiệp phiền não mà sinh; tình
số thì hết thảy nghiệp hữu tình do sức tăng thượng cùng
dẫn khởi” (như trên, quyển 8, Đại chính, 27, trang 508, thượng).
Loài hữu tình ở đây do cộng nghiệp tăng trưởng mà thành
thế giớ, nếu cộng nghiệp hết thì thế giới hoại diệt
(như trên, quyển 134, Đại chính, 27, tr. 692, hạ).
(2)
Hết thảy vạn vật đều do cộng nghiệp sinh (Thành thật,
quyển 8. Thập-bất-thiện-đạo-nghiệp phẩm 116, Đại chính,
32, trang 304, hạ).
Tất
cả chúng sinh đềucó quả báo cộng nghiệp, nghĩa là được
nơi cư ngụ là nhờ nghiệp nhân duyên mà có đất. Do nghiệp
nhân duyên sang tỏ mà có mặt trời, mặt trăng. Nên biết
sinh vật đều lấy nghiệp làm gốc (như trên, quyển 7. Hệ
nghiệp phẩm 103. Đại chính, 32, trang 296, hạ).
4-
NGHIỆP BA THỜI.
Tóm
tắt, nghiệp của người ta tất phải đưa đến quả báo
nhưng đến thời kỳ đưa đến quả báo ấy như thế nào?
Để trả lời cho câu hỏi này, có một thuyết mà ai cũng
biết, đó là thuyết Tam Thời Nghiệp (đặc biệt về quả
dị thục). Thuyết đã được nói đến Ni Kha Da rồi, đến
A-tỳ-đạt-ma nó được phân tích tỉ mỉ mà trở thành một
đề mục luận cứu. Tam Thời Nghiệp (1) là: 1- Thuận Hiện
Pháp Thụ (Thành Thật gọi là Hiện Báo), 2- Thuận Thứ Sinh
Thụ (Thành Thật gọi là Sinh Báo), Thuận Hậu Thứ Thụ (Thành
Thật gọi là Hậu Báo).
(1)
(Visuddimagga; Chap. 19 (p. 601) Warren: Buddhism inTranslation p 245,
Thuận Hiện, Thuận Thứ, Thuận Hậu Định. Lạc Tạ nghiệp
(pháp không sinh?). Phẩm Loại Túc Luận, quyển 17 (Đại chính,
20, trang 718, thượng). Đại tỳ bà sa, quyển 14, Đại chính,
27, trang 599), Câu xá luận quyển 15. Thành-thật-luận quyển
8, Tam báo nghiệp phẩm 106 (Đại chính, 32, trang 297).
Thứ
nhất, Thuận Hiện Pháp Thụ, nghĩa là đời này gây nghiệp,
đời này chịu quả báo. Thứ hai, Thuận thứ Sinh Thụ, nghĩa
là đời này tạo nghiệp, đời sau mới chịu quả báo. Thứ
ba, Thuận Hậu Thứ Thụ, nghĩa là đời này gây nghiệp, trong
nhiều đời sau mới chịu quả báo. Cứ theo Phật giáo thì
nghiệp không phải thành quả báo cùng một lúc với sự tạo
tác (Bà sa quyển 114, Đại chính, 27, trang 592, cột trên; Thành
Thật, quyển 8, Tam báo nghiệp phẩm 104), mà phải có thời
gian liên tục, dần dần lớn mạnh mới thực hiện được
quả, và do thời gian thực hiện đó có nhanh, chậm khác nhau
nên mới chia ra ba thời kỳ như trên. Nhưng thật ra, nếu người
ta muốn lấy thiện, ác và họa, phúc hoàn nhất trí ở đời
này là một điều rất khó khăn. Ở đời này duy chỉ hoàn
thành được một phần nhỏ, còn đại bộ thì, trái lại,
lại là một sự thật tương phản. theo ý nghĩa ấy, muốn
tìm cầu cái thỏa đáng tính của nó. Thành-thật-luận, trong
phẩm Tam báo nghiệp, có trích dẫn một bài kệ xưa như sau:
“Kẻ làm ác được sung sướng là vị ác chưa chín, đến
khi ác chín thì tự thấy đau khổ. Kẻ làm thiện phải chịu
khổ là vì thiện chưa chín, đến khi thiện chín thì tự thấy
sung” để nói rõ cái ý nghĩa luân lý của thuyết Tam Thời
Nghiệp. Nói một cách rốt ráo thì nghiệp nào là nghiệp chịu
quả báo trong đời này, nghiệp nào là nghiệp chịu quả báo
trong đới sau hay đến nhiều đời sau nữa? Đúng ra, đây
là một vấn đề. Câu xá (quyển 15), Thành Thật (Tam báo nghiệp
phẩm), Bà sa v.v… đều muốn theo tính chất của nghiệp mà
quy định vấn đề này. Nếu theo nghiệp thì là hành vi ý
chí, tuy cực mãnh liệt nhưng nếu động cơ hay quy mô của
nó không trọng đại thì được quả báo trong đời này; còn
tuy không mãnh liệt nhưng rất sau nặng thì chịu quả báo
ở đời sau; hai tính chất trên giao thoa nhau thì chịu quả
báo ở nhiều đời sau nữa (Thành Thật, như trên). Còn một
thuyết nữa căn cứ theo lòng mong cầu: mong cầu đựợc hưởng
quả ngay trong đời này là Thuận Hiện thụ, nếu mong cầu
hưởng thụ ở tương lai là hai báo sau (Thành Thật, như trên).
Bà sa (quyển 114,Đại chính, 27, trang 594, cột trên), lại còn
so sánh giá trị của Tam Báo, bảo: hiện báo nhẹ nhất, thứ
báo nặng hơn, và hậu báo nặng nhất. Cũng như trái cây,
chín sớm thì kém, chín muộn thì hơn. Vậy, nói cho dễ hiểu
quả báo càng lớn thì càng chậm chín, cũng như ý nghĩa chí
khí lớn, lâu thành công, hoặc như sự trúng độc thấm dần
thì khó chửa trị: có thể nói đều ám thị ý nghĩa ba đời.
Phật
giáo thành lập thuyết Tam thời Nghiệp, tuy gọi là định
nghiệp, nhưng trong A-tỳ-đạt-ma , ngoài định nghiệp, còn
lập nên bất định nghiệp nữa. Như Tam Thời Nghiệp, thời
kỳ chịu báo và chủng loại đều không nhất định,
mà giới hạn trong Tam Thời Nghiệp, do quan hệ thế nào mà
sự thụ báo trở thành bất định: đó là bất định nghiệp
(như vậy, thành ra bốn nghiệp). Bất định cũng có hai thứ,
tức là, thời kỳ định chịu báo mà chủng loại không quyết
định, và cả thời kỳ lẫn chủng loại đều không quyết
định (thêm hai thứ bất định này vào ba thời kỳ trên thành
ra năm nghiệp). Lại tiến lên một bước nữa mà khảo sát
thì Tam Thời Nghiệp kể trên tuy thời kỳ có quyết định,
nhưng chủng loại chịu báo thì sẽ thành ra tám thứ: đây
là chủ trương của Bà sa (quyển 114, Đại chính, 27,
trang 593, cột dưới), đều quyết định thì không thể chuyển
được, nhưng bất định nghiệp thì nhờ nỗ lực hậu thiên
mà có thể chuyển được, song, về vấn đề này, xin sẽ
bàn đến sau.
Tóm
lại, thuyết của Tam Thời Nghiệp là đem kết hợp yêu cầu
đạo đức của người ta với Luân Hồi luận rồi truy đến
ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai để tìm thỏa đáng
tính của nó. Về điểm này, tuy không thể chứng minh một
cách rõ ràng, nhưng nếu khảo sát nó về nhiều phương diện,
thì bất luận theo kiến địa tâm lý học hay luân lý, có
thể nói, đều có một ý vị.
5-
NGHIỆP VÀ CÁC LOẠI DỊ THỤC.
Trở
lên, chủ yếu là nhận xét về thời kỳ nghiệp báo, giờ
đây xin bàn qua về chủng loại của nghiệp báo. Nghiệp vô
lậu không chiêu cảm quả dị thục (nhưng chiêu cảm bốn
quả khác), nhưng nghiệp hữu lậu thì có quả dị thục. Song,
nghiệp hữu lậu đoạn đạo (ta hành) cuối cùng có thể đạt
đến quả ly hệ (tức giải thoát). Ai cũng biết, đường
thiện ác chịu quả báo trong năm đường hay sáu đường mà
trong đó người ta gặp những vận mệnh khác nhau. điều này
đã được nói đến trong Ni Kha Da nhưng chỉ tản mạn thôi,
đến A-tỳ-đạt-ma nó mới được tập hợp lại. Song, theo
chỗ tôi tận lực nghiên cứu, Thành Thật luận (1), quyển
8, Lục Nghiệp phẩm 100 mới nói lên được cái yếu nghĩa
của nó, bởi thế, ở đây tôi thử dẫn ra những điểm khái
quát.
(!)
Lục Nghiệp phẩm: “Về báo nghiệp ở địa ngục, trong Lục
Túc A Tỳ Đàm, Lâu khối phận đã nói rõ (Đại chính, 22,
trang 300, cột giữa).
Thứ
nhất, là nghiệp cảm chiếu quả báo địa ngục, dĩ nhiên
là nghiệp nặng nhất. Những người làm đủ ba hạnh sát
sinh, trộm cắp, tà dâm, những người phá giới, phá kiến
cố nhiên chịu quả báo địa ngục, những gia hại các bậc
thánh hiền và liên tục làm ác, cũng chiêu cảm quả địa
ngục. Tựu trung, có năm tội sau khi chết phải đọa địa
ngục Vô gián gọi là Ngũ Vô Gián Nghiệp: 1- Giết mẹ, 2-
Giết cha, 3- Giết A la hán, 4- Phá hòa hợp tăng, 5- Do ác làm
cho thân Phật chảy máu (Bà sa, quyển 19, Đại chính, 27, tr.
619, thượng). Giết cha mẹ, bội ơn dưỡng dục, giết ba hạng
sau là phá hoại ruộng phúc, đều là tội nặng, và bất luận
hễ phạm một trong các tội ấy thì chết đi sẽ phải đọa
địa ngục Vô gián. Tựu trung, nói theo lập trường của Phật
giáo, phá hòa hợp tăng, vì là phá hoại Giáo Hội, nên là
ác nghiệp lớn nhất. Trong thời đại Phật, Đề Bà Đạt
Đa, vì tạo hai nghiệp sau, nên một mặt vẫn sống, mặt khác
phải đọa địa ngục. Tuy đây là truyền thuyết, nhưng đến
đời sau, vì việc làm cho thân Phật chảy máu không thể xẩy
ra nữa, nên đặc biệt nhấn mạnh ở việc phá hòa hợp tăng
và cho đó là một việc đại ác. Bà sa (quyển 99) bảo vị
khai tổ (theo truyền thuyết) của Đại Chúng Bộ là Đại
Thiên cho rằng, trừ làm cho thân Phật chảy máu, còn bốn
tội kia đều là đại Vô gián nghiệp: xem thế đủ biết,
đối với việc phá hoại Giáo hội, Phật giáo chán ghét đến
mức độ nào rồi.
Thứ
hai, thành nghiệp bàng sanh (súc sanh), nói một cách đại thể,
so với nghiệp địa ngục thì nhẹ hơn, tuy có chút ít thiện
nhưng vẫn là nghiệp ác hơn. Tựu trung, theo Thành Thật quyển
8, Lục Nghiệp phẩm 110 – Khi người ta phát huy nhiều động
vật tính, và thích ứng với tính chất đó, sẽ thành những
động vật khác nhau. Như đa dâm chẳng hạn, sẽ thành chim
sẻ, chim bồ câu, chim uyên ương v.v… Nếu đa sân thì sẽ
thành trăng, rắn, rết, bò cạp v.v… Nếu ngu si nhiều sẽ
thành lợn (heo), dê v.v… Nếu kiêu căng phóng túng nhiều sẽ
thành sư tử, hổ, lang v.v… Nếu hay bỡn cợt đùa nghịch
sẽ thành khỉ vượn v.v… Nếu nhiều ghen ghét, keo bẩn sẽ
thành chó. Nếu lười biếng nhiều sẽ thành mèo. Nếu theo
nịnh hót sẽ thành dã can v.v… Cứ như thế tùy theo tính
chất mà thành nhiều loài khác nhau. Lại nữa, tùy theo lòng
khao khát tưởng niệm lúc chết mà sanh vào các loài động
vật khác nhau. Chẳng hạn, chết ở chỗ chật chội, khao khát
tưởng nhớ đến rộng rãi sẽ sinh làm chim; do chết đói
mà sinh làm họ ở nhà xí; vì chết mà sinh làm trùng dưới
nước v.v… Trong Pháp Uẩn Túc Luận có thuyết minh về quan
hệ luận khi thác sinh theo mười hai nhân duyên như sau: có
các loài chúng sinh do tâm mong cầu mà thụ sinh cõi người
hay thụ sinh cõi trời (Pháp Uẩn Túc Luận, 12, Đại chính,
26, trang 512, cột dưới). Cứ theo Ni Kha Da thì bắt chước
lối sống của súc sinh sẽ là nhân đưa đến sự cùng chịu
kiếp súc sinh. Chẳng hạn có một hạng người tu đạo bắt
chước trâu, dê, tự hành hạ thân mình và tin rằng đó là
nhân sinh lên cõi trời. Đức Phật phê bình họ, bảo rằng,
làm theo hạnh trâu sẽ thành trâu, làm chó sẽ làm chó v.v…
Tóm lại, cái nhân đưa đến súc sinh là ngu si, hoặc có ý
nghĩa là bắt chước lối sống của súc sinh mà thành.
Thứ
ba, là nhân ngã quỷ, tức quỷ đói. Vì tham lam, keo kiệt,
cướp đoạt của người, của mình thì giữ bo bo, không chịu
cho ai, không có tâm giúp người, cứu vật cũng thuộc loại
này, có thể nói quả báo là thường cảm thấy thiếu thốn,
đói khát.
Thứ
tư, là nhân cõi người, đại khái là kết quả của nghiệp
thiện như bá thí, giữ giới và tu thiện. Tựu trung,
nếu cao thì sinh cõi trời, còn trung bình thì cõi người. Còn
như ở cõi người sở dĩ có những vận mệnh khác nhau là
vì trong những nhân thiện có lẫn lộn nhân ác. Tuy do nghiệp
thiện rõ rệt nào đó được sinh vào cõi người, nhưng vì
cái gọi là “mãn nghiệp”, trợ lực cho thiện nghiệp như
thế nào mà cho nhân gian trình hiện những tướng trạng khác
nhau. Chẳng hạn, nhờ người giúp mà được sống lâu, do
sát sinh mà phải chết yểu, nhờ ngay thẳng không trộm cắp
được phúc, vì trộm cắp mà phải nghèo khổ, không tà dâm
mà lấy được vợ trinh tiết, còn nếu trái lại thì lấy
phải vợ lăng lòn, bất chính v.v… (Thành Thật, quyển 8,
Lục Nghiệp phẩm 118, về phần cõi người và cõi trời; Câu
xá, quyển 17). Câu xá còn nói: những vật sở hữu của người
ta tốt hay xấu cũng là do nghiệp. Như người sát sinh thì
vật sở hữu xấu xí, người ăn trộm thì ruộng vườn nhiều
sương tuyết gây tai hại, người tà dâm thì gia đình rối
loạn, người nói dối thì miệng hôi thối; xa lìa những tội
nghiệp đó thì tất cả đều tốt lành. Ngoài ra, còn nhiều
cách thuyết minh khác, nhưng sợ phiền phức nên chỉ nói tóm
tắt, thế thôi. Duy ở đây không thể không bàn thêm về vấn
đề pháp tướng, tức trong Phật giáo có hai lớp quả báo
(thưởng phạt). Như làm thiện được sinh lên cõi trời, nhưng
khi sinh lại cõi người có thể vẫn được quả báo thiện
không? Cũng thế, tạo ác nghiệp phải đọa địa ngục, nhưng
khi chịu hết tội khổ, được sinh làm người thì có còn
phải chịu sự rủi ro nữa không? Vấn đề này hình như có
nhiều dị luận, nhưng Bà sa (quyển 113, Đại chính, 27, trang
588, hạ), Câu xá (quyển 17) v.v…tựa hồ đã thừa nhận điều
đó một cách rõ ràng. Như nói: “Khi sát sinh, làm cho kẻ
khác chịu khổ nên phải đọa địa ngục chịu quả khổ
dị thục; vì dứt mệnh sống của kẻ khác nên trong kiếp
sau phải chịu chết yểu, là đẳng lưu quả; phá hoại uy
danh của kẻ khác nên sắc diện phải xấu xí, là tăng thượng
quả (Câu xá, quyển 17). Vô luận là thiện hay ác, tác dụng
của nó đều suy giảm dần dần, nếu không có sự tu dưỡng
đặc biệt thì khó có thể biến đổi nó một cách mau chóng
được.
Thứ
năm, là cõi thiên thượng, nếu nói một cách tóm tắt thì
nhờ nghiệp thượng thượng thiện mà được sinh lên đó,
nhưng thiên thượng cũng có nhiều loại nên không giống nhau.
Ở Dục Giới Thiên, tức đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại,
cho dù cũng là thiện nhưng do trình độ động cơ thuần tịnh
và các loại thiện sự như thế nào mà quả báo cũng có nhiều
loại khác nhau. Tiên lên đến Sắc giới, Vô sắc giới thì
vì đây duy chỉ là định xứ nên nhân là thiền định. Nghiệp
sinh ở cõi Sơ thiền tuy có nhân phụ nhưng chủ yếu là do
tu Sơ thiền, cho đến cõi cao tột là sự tu dưỡng Phi-tưởng-phi-phi-tưởng
định. Điểm này đã được nói rõ trong Ni Kha Da rồi. Dù
là thượng giới sinh địa, hay Tứ thiền tam vô sắc định
tu địa, tất cả đều như nhau (Trung a hàm, quyển 34, Phân
biệt ý hành kinh, Đại chính, 1, trang 700, trung, M. 120 Sankhàruppatti
Sutta).
A-tỳ-đạt-ma
cố gắng nghiệp và quả dị thục, nếu nói một cách chặt
chẽ thì trong đó có nhiều điểm khó khăn, nhưng đứng về
phương diện chỉnh lý hình thức mà nói, ta phải thừa nhận
đó là một nổ lực rất lớn. Thế rồi, nếu lại theo cách
phân loại về tính chất của nghiệp thì, như ai cũng biết,
có thuyết Bốn Nghiệp (1). Đó là: Hắc hắc dị thục nghiệp,
Bạch bạch dị thục nghiệp, Hắc bạch hắc bạch dị thục
nghiệp, Phi hắc phi bạch dị thục nghiệp. Thứ nhất, Hắc
hắc dị thục nghiệp (2) nghĩa là nghiệp tự nó là đen (tức
là ác), do đó mà chiêu cảm quả dị thục ở ác thú. Thứ
hai, Bạch bạch dị thục nghiệp nghĩa là thiện nghiệp ở
Sắc giới (Vô sắc giới) hệ. Thứ ba, Hắc bạch hắc bạch
dị thục nghiệp nghĩa là thiện nghiệp ở Dục giới hệ,
chủ yếu cảm chiêu qiả báo ở cõi người, cõi trời. Thứ
tư, là nghiệp vô lậu không cảm dị thục, tức là chỉ cái
công dụng của sự đã vĩnh viễn đoạn diệt nghiệp hữu
lậu. Trong bốn nghiệp, có thể nói thứ tư là nghiệp giải
thoát và đứng trên lập trường tu dưỡng, dĩ nhiên, nó có
giá trị của nó. Phật giáo bảo bạch bạch dị thục nghiệp
nếu ngưng ở ba cõi thì vẫn là còn chướng ngại đạo giải
thoát. Trong kinh gọi tắt phiền não, nghiệp dị thục là ba
chướng chính (3) là vì thế.
(1)
Xuất xứ của bốn nghiệp (hắc, bạch v.v…) Trung a hàm quyển
27, Đạt Phạm kinh (Đại chính, 1, tr. 690, thượng). Tập Dị
Môn Túc luận, quyển 7 (Đại chính, 26, tr. 396, thượng); Bà
sa, quyển 114 (Đại chính, 27, tr. 599, hạ); Câu xá, quyển 17;
Thành Thật, quyển 8 (Tứ nghiệp phẩm 107).
(2)
Visuddimagga XIX, p. 601 giới thiệu bốn nghiệp bất đồng. Tức
Sinh nghiệp, Chỉ trì nghiệp, Ức chế nghiệp, tức khi nghiệp
quả sinh khởi thì, ức chế sự khổ vui của nó; phá hoại
nghiệp, tức phá hoại nghiệp khác để tự khai phóng vận
mệnh.
(3)
Về ba chướng, xin xem Bà sa quyển 115 (Đại chính, 27, tr. 519,
trung trở đi); Câu xá, quyển 17; Thành Thật, quyển 8 (Tam chướng
phẩm 106).
6-
DẪN NGHIỆP VÀ MÃN NGHIỆP.
Về
nghiệp quả báo vẫn còn một vài điểm nữa cần phải bàn
qua, đó là: trong các nghiệp người ta tạo tác, quyết định
nơi sinh như thế nào? Nói khác đi quyết định thứ sinh hay
thứ thứ sinh là các nghiệp tổng hợp hay là một nghiệp
rõ rệt? Về điểm này, A-tỳ-đạt-ma bảo có dẫn nghiệp
và mãn nghiệp (1). Dẫn nghiệp là nghiệp quyết định nơi
sinh, còn mãn nghiệp là nghiệp, dù cùng một nơi sinh, như
ở cõi người, chẳng hạn, cũng chia vận mệnh thành nhiều
loại. Song, cứ theo A-tỳ-đạt-ma thì dẫn nghiệp là một
nghiệp rõ rệt nhất trong cuộc sống;còn mãn nghiệp là các
nghiệp khác. Do đó, nói một cách đơn giản, bảo là: “Một
nghiệp dẫn một đời, nhiều nghiệp có thể viên mãn” (2).
Cái mà ta bảo là “tối hậu nhất niệm” dẫn đến thứ
sinh chính là căn cứ vào giáo lý này. Song, nói thật thì cái
nghiệp hiển trứ nhất trong một đời là gì? Vấn đề này
người thường thật khó mà quyết định được, cho nên trong
Bà sa, quyển 19 (Đại chính, 27, tr. 98, thượng), đã phát sinh
ra luận đề “Dẫn nghiệp trước hay Mãn nghiệp trước”.và
kết quả, cho là bất định. Rồi đến Bà sa 20 (Đại chính,
27, tr. 99) dẫn nhiều kinh luận bảo rằng do một nghiệp thù
thắng chiêu cảm thiện ác nhiều đời để luận cứu ý nghĩa
vấn đề này. Vấn này tuy rất phức tạp, nhưng trên đại
thể, theo A-tỳ-đạt-ma, không thể quên lập trường “Một
nghiệp dẫn một đời, nhiều nghiệp có thể viên mãn”.
(1)
Xuất xứ của Dẫn nghiệp và Mãn nghiệp; Bà sa quyển 19 (Đại
chính, 27, tr. 98, thượng); như trên, quyển 20 (Đại chính,
27, tr. 99, thượng); Câu xá, quyển 17.
(2)
Bà sa quyển (Đại chính, 27, tr. 99, trung); Câu xá, quyển 17.
Trong Yogssutra II, 13 (chú thích của Vyasa) lần lượt nói thuận
hiện thụ, bất thuận hiện thụ, định nghiệp, bất định
nghiệp, luận về quan hệ giữa nhất, đa (nghiệp) và nhấ,
đa (sinh), có thể tham khảo.
7-
TÚC NGHIỆP CHUYỂN HAY KHÔNG CHUYỂN.
Theo
Phật giáo thì vận mệnh của người ta là do nghiệp hiện
tại định đến vị lai, nói khác đi, là vận mệnh hiện
tại do kết quả của nghiệp quá khứ, như vậy, chung cùng,
Phật giáo đã chẳng biến thành Túc Mệnh luận rồi sao? Như
đã nói trước kia, đức Phật đã bác bỏ Túc Mệnh luận,
nhưng căn cứ theo quan điểm trên đây, A-tỳ-đạt-ma đã biến
thành khuynh hướng Túc Mệnh luận, đó là sự thật không
thể che dấu được. Trong bộ phái Phật giáo, như Vương sơn
bộ, Nghĩa thành bộ thuộc Đại chúng bộ, bảo: “Tất cả
đều do nghiệp” (K. V. XVII, 3). So với quan điểm này, chủ
trương Túc Mệnh luận cũng rõ ràng. Song. Nói một cách tổng
quát tuy A-tỳ-đạt-ma túc nghiệp, nhưng thừa nhận rằng tùy
theo những nỗ lực hậu thiên ra sao mà nghiệp có thể chuyển
hóa. những điều được trình bày trên kia chủ yếu nói về
hành vi theo ý muốn, chứ không phải khảo lự về nỗ lực
đặc thù. Không những thế, nhận xét về mặt pháp tướng,
ngoài Tam Thời Nghiệp ra, Hữu-bộ còn lập Bất định nghiệp,
Tam Thời Nghiệp là định nghiệp không thể chuyển nhưng bất
định nghiệp thì nhờ nỗ lực, có thể chuyển. Cứ theo thuyết
Tám nghiệp nói ở trên thì phạm vi của Bất định nghiệp
rất rộng, như Tam Thời Nghiệp, thời kỳ tuy quyết định,
nhưng các loại dị thục thì đều không quyết định. Trong
tám nghiệp đến năm nghiệp, ít ra, không thể không thừa
nhận có tính chất chuyển quả báo. Vả lại, chủ trương
của các nhà Thí Dụ là hết thẩy nghiệp đều có thể chuyển
(Bà sa, quyển 114, Đại chính, 27, tr. 593, cột giữa). Nếu
bảo Tam Thời Nghiệp rốt cục là chỉ quá trình như thực
thì, khi cố gắng, không thể không thừa nhận hết thảy là
bất định. Tuy không nói rõ, vì nghiệp tất kính không ngoài
tính cách của ý chí, nên tập khí cho dù sâu dày đến đâu,
nhưng do sự cố gắng liên tục cũng có thể biến cải được.
Theo ý nghĩa ấy, Thành Thật luận, kế thừa Thí Dụ Sư đã
dẫn lời trong Kinh, nói: “Nếu người chăm tu thân giới,tâm
tuệ, thì báo nghiệp địa ngục cũng có thể giảm khinh”.
Lại như bài kệ nói: “Tu tâm từ bi, vô lượng vô ngại,
tất cả trọng nghiệp không thể sánh kịp”. Dẫn chứng
trong Kinh, thừa nhận túc nghiệp có thể chuyển. Đương nhiên,
Thành Thật chủ yếu luận về các bậc Thánh (1) (Bà sa) giới
hạn trong các bậc Thánh vô học) nếu là Thánh hữu học thì,
vì gần với phàm phu, tuy là người phổ thông, nhưng nhờ
sức cố gắng phi thường mà tự tiến đến bậc Thánh, chủ
trương hết thảy túc nghiệp đều có thể chuyển: tôi cho
rằng có thể giải thích vậy. Phật giáo chủ trương “sám
hối diệt tội” lý do chính là ở đó. Ta cần ghi nhận điểm
này. Tương truyền, khi Đại Thiên phạm vào ba tội nghịch
thì lòng thường bất an. Một hôm, ông nghe thấy một vị
Tỷ khưu ngâm bài kệ rằng: “Nếu kẻ gây trọng tội, tu
thiện để diệt trừ, họ có thể sáng chói, như trăng không
mây che” (Bà sa, quyển 99, Đại chính, 27, trang 511, cột trên)
và đó chính là động lực đã thúc đẩy ông xuất gia. Trường
hợp của Đại Thiên trên đây cho thấy Phật giáo thừa nhận
trọng tội cũng có thể được miễn trừ nếu người ta biết
ăn năn, tu thiện. Điều này cứ xem ý nghĩa trong bài kệ trên
thì đủ rõ.
Tóm
lại, nói một cách đại thể, Phật giáo tuy thừa nhận túc
nghiệp, nhưng chưa thể quyết định được là túc nghiệp
ấy có giống như cái gọi là Thần Ý luận hay Túc Tác luận
không. Ở hiện tại, con người có ý chí tự do, đồng thời,
tuy có túc nghiệp quá khứ, nhưng nhờ nỗ lực, tập quán,
tín ngưỡng và giác ngộ nó có thể được biến đổi. Thừa
nhận thuyết Nghiệp mà không biến thành Túc Mệnh luận, có
thể nói, đó là đặc trưng của Phật giáo vậy.
(1)
Nếu họ không hăn hái tu đạo để thành A la hán thì sẽ
đọa địa ngục để chịu nhân quả ; nếu hăn hái tu đạo
A-la-hán thì có thể lấy các nổi khổ ở địa ngục trong
bản thân để chịu nghiệp này (Bà sa quyển 20, Đại chính,
27, trang 109, thượng).