Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện

XUÂN DI LẶC
Hòa Thượng Thích Thanh Từ

Ngày mùng Một tháng Giêng là ngày vía Ðức Phật Di Lặc, chúng ta tụng và lễ : Nam mô Long Hoa Giáo chủ Ðương lai hạ sanh Di Lặc tôn Phật là chúng ta thể theo lời huyền ký của Ðức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni, Ngài nói Bồ tát Di Lặc sẽ thành Phật dưới hội Long Hoa nên gọi Ngài là Long Hoa Giáo chủ.

Xuân đến người đời chúc lành cho nhau, trong chùa Tăng Ni Phật tử chúc nhau hưởng mùa Xuân Di Lặc hay mùa Xuân hạnh phúc. Ðức Phật Di Lặc có liên hệ gì đến mùa Xuân mà chúng ta chúc nhau như thế ?

Ngày mùng Một Tết là ngày vía Ðức Phật Di Lặc, cũng là ngày mở màn cho năm tới tràn đầy hứa hẹn hạnh phúc của chúng sinh. Tăng Ni thì hứa hẹn mình sẽ thành Phật, đây là cái hứa hẹn cao siêu thoát tục; Phật tử thì hứa hẹn hưởng hạnh phúc, hạnh phúc này là hạnh phúc giải thoát khổ đau ra khỏi luân hồi sanh tử, chớ không phải hạnh phúc hưởng dục lạc tầm thường của người đời. Thế nên, ngoài lòng thành kính lễ Phật Di Lặc, Tăng Ni và Phật tử còn nương ảnh tượng Ngài để tự hứa hẹn với lòng mình nỗ lực tu hành mai kia sẽ thành Phật như Ngài. Do đó gặp nhau chúc cho nhau hưởng một mùa Xuân Di Lặc, để nhắc mình tu hành được thành Phật. Ðó là ý nghĩa thâm sâu của ngày vía Ðức Phật Di Lặc vào sáng mùng Một Tết.

Phật Di Lặc có nhiều mẫu tượng : có tượng mập mạp bụng phệ cười toe toét, có tượng mập ngồi trần bụng ngực với sáu đứa bé, đứa ngoáy tai, đứa móc mũi, đứa moi rún v.vẦ mà miệng Ngài vẫn cười tươi không phiền giận. Hình tượng này nói lên ý nghĩa gì ?

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm có ghi mười phương chư Phật dị khẩu đồng âm nói với tôn giả A Nan và đại chúng rằng : Chính sáu căn làm cho con người luân hồi sanh tử, cũng chính sáu căn khiến cho con người chứng Vô thượng Bồ đề. Như vậy cội gốc sanh tử là sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và cội gốc Bồ đề Niết bàn cũng là sáu căn. Ðến Bồ đề Niết bàn và đi trong luân hồi sanh tử chỉ có một đường, đi theo chiều thuận thì luân hồi sanh tử, đi theo chiều nghịch thì chứng Bồ đề Niết bàn. Ví dụ quốc lộ Vũng Tàu - Sài Gòn, người ở Long Thành muốn đi Sài Gòn thì đi xuôi về Sài gòn, nếu đi Vũng Tàu thì đi ngược lại. Chỉ khác ở chỗ đi xuôi và đi ngược mà thôi. Cũng vậy, nơi sáu căn nếu chúng ta thuận chiều thả sáu căn chạy theo sáu trần nhiễm ô tạo nghiệp thì đi trong luân hồi sanh tử. 
Ngược lại, sáu căn không chạy theo sáu trần, không nhiễm trước tâm an định thì chứng Bồ đề Niết bàn

Phật Di Lặc là Phật sẽ thành. Hình tượng Ngài với sáu đứa bé, đứa ngoáy tai, đứa móc mũi, đứa moi rún mà Ngài vẫn cười không tỏ vẻ phiền giận, nói lên hạnh tu của Ngài, chúng ta nếu có ai ngoáy lỗ tai, hay móc lỗ mũiẦ không đánh thì cũng la, không la thì cũng nhăn nhó, không nhịn chịu được, nên bị chướng ngại. Danh từ chuyên môn thường gọi sáu đứa bé là lục tặc tức là sáu đứa cướp.

Chúng cướp của bằng cách nào ?

Nếu bị móc lỗ tai mà không cảm thấy khó chịu, lại thấy đã ngứa thì không bị chướng ngại. Ða số chúng ta hầu như bị chướng ngại bởi những lời nói bên ngoài. Những lời chửi mắng gièm pha nguyên ruảẦ tới tai, mình thấy lời đó là mỉa mai sâu độc hiểm ác thì tức tối sân giận. Ðón nhận nó với tâm niệm sân giận đen tối thì nó sẽ trở thành thuốc độc làm mê mờ tâm trí phá hoại của báu nhà mình. Nếu mình coi nó như gió thổi cành dương lá liễu, tùy nó bay đi đâu thì bay, lòng không vướng bận thì an bình tự tại, hoặc tai nghe tiếng khen, lời thanh nhãẦ chúng ta xem thường vì lời nói như gió thổi qua tai không thật có, chính bản thân mình còn không thật, huống là tiếng nói bên ngoài. Nghe như vậy thì không bị nhiễu hại bởi đứa bé ngoáy lỗ tai.

Mắt thấy người cảnh liền phân biệt đẹp xấu. Ðẹp thì thích ưa muốn ngắm nhìn hoài, lo sợ nó tàn phai mất đi. Xấu thì không thích sanh tâm khó chịu ghét bỏ, người cảnh xấu trước mắt không lúc nào cũng là người cảnh của phiền não. Xét kỹ, người cảnh không có đẹp xấu, mà đẹp xấu là tại lòng mình. Thấy người cảnh mà không phân biệt đẹp xấu, không yêu thích đam mê hay ghét bỏ thì không có lỗi gì. Lỗi ở tại tâm phân biệt đẹp xấu và yêu ghét. Khi tâm khởi niệm yêu ghét thì trí tuệ lu mờ, ắt bị đứa bé móc mắt làm chướng ngại. Ngược lại, thấy người cảnh trước mắt tâm không phân biệt đẹp xấu, lòng yêu ghét, dửng dưng không dao động, người cảnh là người cảnh tâm không dính mắc an nhiên, thì đứa bé móc mắt không làm gì được mình.

Mũi ngửi mùi phân biệt thơm hôi, thơm thì thích muốn ngửi hoài, hôi thì bịt mũi khó chịu, tự dấy phiền não, che mờ trí tuệ, là bị đứa bé móc mũi làm chướng ngại. Nếu ngửi mùi thơm mùi hôi coi như khói quyện gió bay, qua rồi mất không thật có thì được an ổn tự tại, không bị đứa bé móc mũi làm nhiễu hại.

Lưỡi nếm vị cay, đắng, mặn, ngọtẦ. Món nào hợp với lưỡi thì vui thích, món nào không hợp với cái lưỡi thì buồn bực không vui. Mỗi khi lên mâm cơm món nào ngon vừa với lưỡi thì ăn, món nào không hợp với lưỡi thì chê, đòi món ngon vật lạ làm phiền lòng người chung quanh. Chính cái ngon dở vui buồn đó làm chướng ngại khiến cho mình bất an. Chúng ta tu, tập làm sao khi ăn lưỡi cảm nhận món ngon vật lạ hay đồ dở đồ hư không khởi niệm quý trọng khen chê. Vì ngon nuốt qua khỏi cổ cũng mất, dở nuốt qua khỏi cổ cũng không còn. Ăn cốt trị bệnh đói nuôi thân được khoẻ mạnh để tu hành. Aên như thế mới không bị đứa bé móc miệng nhiễu hại.

Thân ở chỗ cao ráo mát mẻ xúc chạm với cái trơn láng êm mịnẦ. thì ưa thích vui vẻ. Còn ở chỗ chật hẹp, nóng nực, xúc chạm với cái thô nhám, sần sùi.. thì khó chịu bực bội. Như thế là bị phiền não ngăn che trí tuệ, bị đứa bé moi rún nhiễu hại. Ngược lại ở đâu cũng cảm thấy bình thường, vui nhận với mọi hoàn cảnh thì đứa bé moi rún không nhiễu hại được.

Tuy nói sáu căn, chứ kỳ thật chỉ có năm căn là tiếp xúc với trần cảnh bên ngoài. Ý căn theo năm căn mà phụ hoạ để thương ghét buồn giận. Nếu năm căn tiếp xúc với năm trần đúng pháp thì căn thứ sáu (ý căn) không làm phiền ngại. Nói sáu căn là lục tặc là căn cứ trên phần tiếp xúc ô nhiễm của nó. Vì tiếp xúc ô nhiễm nên ý sanh phiền não tâm trí mê mờ, do đó của báu nhà mình bị chúng cướp đi. Ví dụ tai nghe tiếng khởi phân biệt tiếng khen tiếng chê, rồi sanh thương ghét, mừng giận. Khi khởi niệm thương ghét mừng giận thì bị giặc cướp mất của báu. Quý vị có biết của mình để ở đâu, nó lấy bằng cách nào, mang đi đường nào không ?

Nếu không biết của mình để ở đâu, giặc cướp bằng cách nào, mang đi đường nào thì không giữ của được.

Ðây là hình ảnh tượng trưng, thực sự nó không mang đi đâu cả. Chúng ta quen nghe ví dụ rồi kẹt trên ví dụ nghĩ có lấy là có mang đi. Nếu nó mang đi thì ngày sau dù có đóng cửa để giữ cũng là giữ cái kho không, vì giặc đã cướp hết rồi. Chúng ta phải biết rõ tuy nói cướp mà không cướp gì cả. Do năm căn tiếp xúc với năm trần bên ngoài, rồi ý căn phụ hoạ để thương ghét buồn giận bất an. Thương ghét buồn giận bất an là mây đen che khuất mặt trời trí tuệ gọi là giặc cướp của báu nhà mình. Khi năm căn tiếp xúc với năm trần ý căn không phụ họa khởi niệm thương ghét buồn giận thì không có mây đen, mặt trời trí tuệ sáng tỏ của báu không mất nên chúng ta giàu. Lúc trí tuệ bị phiền não che mờ thì chúng ta mất của báu nên nghèo.

Khi phiền não che mờ trí tuệ nếu chúng ta biết nương theo pháp Phật dạy phá tan phiền não khơi sáng trí tuệ thì không mất của báu, nghèo tạm thời. Ngược lại người không chịu dẹp phá phiền não cứ để nó dấy mãi thì tuy có trí tuệ mà cả đời vẫn cứ sống trong đen tối. Ðời này đen tối đời sau đen tối và cứ tiếp tục như thế mãi thì không bao giờ hế t nghèo. Người biết tu và không biết tu khác nhau ở chỗ đó.

Tuy bị phiền não ngăn che, nhưng chúng ta tin chỉ che trong phút giây rồi sẽ sáng trở lại. Do đó niệm danh hiệu Ðương lai Hạ sanh Di Lặc tôn Phật, để hứa hẹn với lòng mình là trí tuệ sẽ sáng ở ngày mai, chớ không tối mãi. Có lắm người tu theo Phật mà cứ chất chứa phiền não trong lòng, tai nghe tiếng phân biệt hay dở, mắt thấy sắc phân biệt đẹp xấu, mũi ngửi mùi phân biệt thơm hôi rồi yêu ghét buồn vui khiến cho trí tuệ lu mờ nên chịu khổ mãi, đó là hứa suông. Người biết tu khi trí tuệ bị che khuất thì hối hận ăn năn tinh tấn tu hành phá tan phiền não để cho trí tuệ sáng ra, không bị che khuất phút giây nào, đó là hứa hẹn thực.

Phật Di Lặc được gọi là người hạnh phúc của hiện tại. Dáng người mập mạp vui tươi biểu hiện cho trí tuệ không bị phiền não che khuất, dù sáu đứa bé có ngoáy tai móc mũi Ngài vẫn hoan hỷ cười tươi. Chúng ta vì còn chướng ngại, nên trán nhăn mày cau, mắt đỏ, gương mặt lúc nào cũng hiện nét buồn khổ. Sở dĩ như thế là do mình không kham chịu sáu đứa giặc phá phách. Nếu nó phá mà mình không thấy chướng, thì nó không thành phá nữa mà là bạn thân vui đùa. Người tu không ai không có sáu đứa giặc đó, nhưng nó thành giặc hay là bạn thân là do mình. Người biết tu đối với sáu đứa giặc mà biết chuyển thành bạn, dù chưa thành Phật, hiện đời cũng hạnh phúc tràn trề, ngày nào tháng nào cũng là ngày tháng vui tươi, năm nào cũng là năm đẹp đẽ.

Người có mùa Xuân Di Lặc thì trong lòng không có phiền muộn lo âu, còn lo âu phiền muộn thì không có mùa Xuân Di Lặc. Thế nên nhớ đến Phật Di Lặc với sáu đứa bé móc mắt, ngoáy taiẦ chúng ta phải tự kiểm lại mình hàng giờ hàng phút, xem coi sáu đứa giặc có cướp của nhà mình không. Nếu ở trong mọi trường hợp đi đứng nằm ngồi tiếp duyên xúc cảnh, chúng ta đều sống đúng với hạnh Phật Di Lặc, thì sáu đứa bé không phá hại được. Như thế, chúng ta không muốn an vui cũng tự an vui, không muốn thành Phật cũng tự thành Phật. Ngược lại, dù có thiết tha nguyện cầu thành Phật mà cứ chạy theo sáu đứa giặc mãi thì không bao giờ thành.

Hôm nay là ngày vía Ðức Phật Di Lặc và cũng là ngày Tết Nguyên Ðán tôi xin chúc tất cả Tăng Ni và Phật tử kể từ hôm nay cho đến trọn năm và mãi mãi về sau hưởng được mùa Xuân hạnh phúc của Phật Di Lặc.

(Tuần báo Giác Ngộ số 50/2001)

Tuyển Tập Xuân
Thư Viện Hoa Sen