MÙA
XUÂN HẠNH PHÚC
HT.
THÍCH-ĐỨC-NIỆM
Người
sống trên đời ai cũng có một thời xuân xanh, ai cũng mong
cầu hạnh phúc mãi mãi với mình. Nhưng trên thực tế thì
thời xuân xanh rồi cũng qua đi và hạnh phúc cũng chẳng trường
tồn.
Tại
sao thời xuân xanh lại trôi qua và hạnh phúc chẳng trường
tồn? Bởi tâm chúng sanh vô thường biến đổi không cùng,
như ngựa không cương rong ruổi đồng nội, như vượn khỉ
chuyền cây không phút giây ngừng nghỉ. Tâm người phút
trước nghĩ như thế nầy, phút sau lại nghĩ như thế khác.
Giờ trước vui, giờ sau lại buồn. Ngày hôm nay thương,
ngày hôm mai lại ghét. Tháng này phát tâm hành thiện tu học,
tháng sau thối thất đạo tâm. Tâm ý lăn xăn như ngọn sóng
triều trong cơn gió lốc. Bởi tâm biến chuyển không ngừng,
nên hình thành thân vô thường và theo đó ảnh hưởng đến
hoàn cảnh vật đổi sao dời, ruộng dâu bải bể.
Tâm
là chánh nhơn đã bất định, nên hình thành vạn cảnh muôn
hình sự sự vật vật chuyển biến đổi thay, và cứ như
thế quay cuồng muôn đời suốt kiếp không bao giờ chấm dứt.
Tâm biến chuyển sự vật đổi thay tạo thành kiếp sống
của chúng sanh từng giây từng phút hồi họp lo âu không tìm
thấy đâu là bóng hình của mùa Xuân hạnh phúc chân thật.
Một
trẻ thơ sống với cha mẹ ngày ngày được sự nuông chìu,
mọi điều ước muốn đầy đủ, không thiếu một thứ gì,
cực kỳ hạnh phúc êm đềm. Nhưng sau đó khởi lòng yêu
đương ái tình vương vấn, nên sanh ra lắm chuyện hẹn hò
nghi kỵ hờn dỗi nói dối mẹ cha, xa dần tình thương gia
đình anh em, xem thường xao lãng học hành, tâm thần bất an,
đầu óc hoang mang suy tư nghĩ nhớ bóng hình vớ vẩn dẫn
đến tâm lo trí rối, thân thể mỗi lúc mỗi mòn ốm gầy
xanh xao tạo thành bệnh hoạn v.v…. Từ đó kết thúc thời
xuân xanh, tan tành hạnh phúc, chỉ vì một phút móng khởi
vọng tâm. Do tâm vọng động biến đổi dẫn đến thân
chuyển thay, hình thành dây chuyền ảnh hưởng đến gia đình
xã hội hoàn cảnh. Thế nên Kinh Hoa-Nghiêm nói: “Tâm sanh
nên các pháp sanh; tâm diệt thì các pháp diệt; người thể
đại lý nầy đồng giác tánh như Phật”.
Một
chú điệu (chú tiểu ở chùa còn gọi là khu ô sa di) từ thuở
bé theo thầy học đạo suốt mười mấy năm trời, tâm hồn
thư thới sống bên cạnh thầy, ngày ngày vui với thú rừng
chim muôn dã thú không gợn chút âu lo tư lự, lòng nhẹ như
ánh mây bay, tâm thanh tịnh thơm lành như hoa rừng buổi sáng,
trí trong mát nhẹ nhàng như những hạt sương sáng sớm lóng
lánh trên cành, suốt mười mấy năm với cuộc sống thanh
đạm an nhàn giải thoát:
Thoát
trần một gót thiên nhiên
Cái
thân ngoại vật là tiên trong đời
Có những
đêm trăng, sau giời nghe thầy giảng đạo, chú điệu một
mình dưới mái am tranh thưởng thức ánh trăng thanh mát dịu.
Thỉnh thoảng vài chú thỏ rừng, đôi ba con nai tơ, năm bảy
chàng khỉ tung tăng đến gần bên chú, chúng ngửi tay liếm
chân cắn áo lôi chú ra ven rừng giởn với chúng như bạn
cùng bầy. Đôi lúc những thú rừng nầy mang đầy trái cây
rừng đến cho chú mà chúng đã hái từ non cao rừng thẳm
xa xăm mang về. Nhờ vậy mà chú có trái cây xanh tốt dâng
thầy và chú cũng có dịp hưởng đủ trái cây rừng thơm
ngon mà chợ đời đô thị không có. Cuộc sống như thế
hạnh phúc gấp muôn triệu lần hơn những mùa xuân xác pháo
đầy đường ồn ào huyên náo của nhân thế. Nhưng với
người trần tục thử hỏi mấy ai cảm thấy được mùa xuân
tuyệt vời của chú? Chính vì không cảm thấu được sự
an lành trong cảnh sống tịch tĩnh, sợ chú hành đạo trốn
núi rừng quạnh hiu khổ cực, nên đã bao lần cha mẹ anh em
chú đến dùng đủ lời ngon ngọt khuyên dụ chú hoàn tục
về với gia đình cùng hưởng cảnh đoàn tụ hạnh phúc những
thú vui dục lạc ở đời.
Mỗi
lần bị dụ dỗ như thế, chú im lặng để từ chối. Chú
thấy cuộc sống nơi am tranh thanh tịnh với thầy quá thanh
thoát hạnh phúc, không một chút bận lòng. Thời gian bao
nhiêu ngày tháng qua chú chả cần để tâm đến, sống vô
tư lự không vướng mắc sự đời. Nhưng cha mẹ chú nào
có biết sự giải thoát an vui ấy, nên dùng đủ mọi thứ
khổ nhục kế để quyết thuyết phục chú xiêu lòng. Anh
chị em chú có lúc đã quỳ hằng giờ lại ôm chân chú ràng
rụa nước mắt nỉ non khiến cho chú xúc động lòng nao núng,
tâm rung cảm chí không còn kiên trì, nên một ngày nọ chú
xiêu lòng vào lạy thầy từ tạ để theo gia đình về lại
với thế tục. Chẳng bao lâu sau đó chuyện trăm năm môn
đăng hộ đối, chú gặp phải người bạn đời (vợ) tánh
tình không tương hợp, lý tưởng không dung hòa, lối sống
mỗi người mỗi ngã, vô hình chung tạo thành cảnh đồng
sàng dị mộng, tuy câm lặng khổ đau, sống là sống gượng
vì thương các con và gia đình. Thực tại cảnh sống gia
đình làm cho chú âm thầm khổ tâm ray rức, bực bội ngày
biến ăn, đêm trằn trọc khó ngủ và dần dần chú ít nói
không còn thích thú tiếp xúc với mọi người. Nhiều đêm
một mình một bóng suy tư, nghĩ lại tiếc cái thời sống
ở am tranh với thầy, đùa giởn với dã thú, hoa rừng:
Ta,
ta muốn về nơi cảnh tĩnh
Vui
lại thiền thống xưa
Trang
nhìn qua kẻ lá
Hoa
rừng ngát hương đưa
Suối
reo tròn năm tháng
Hoa
dại nở suốt mùa…
Nhưng
cảnh sống thực tế quá phủ phàng, vợ con nhà cửa buộc
ràng đủ thứ phiền lụy. Chỉ vì một niệm khởi tâm bất
giác mà dẫn đến sự tan tành hạnh phúc mùa xuân đạo hạnh
đã có. Chú không dám trách tình thương của cha mẹ anh chị
em đã đặc biệt dành cho chú lôi kéo chú xa lánh cuộc đời
giải thoát an vui trong chốn thiền môn, để ngày nay phải
rơi vào cảnh tục lụy thê thằng tử phược chán chường
như thế nầy mà chú chỉ trách mình không kiên tâm vững chí
chỉ một phút khởi vọng tâm nghe lời dụ dỗ ngon ngọt không
nhận chân rõ ý nghĩa của “thương ái là hại” để phải
hủy hoại một đời thăng hoa thánh thiện đánh mất mùa xuân
hạnh phút miên viễn.
Cửa
chùa vốn thanh tịnh hiền hòa dù đó là mái tranh vách lá,
nhưng không vướng vết bụi nhơ hơn thiệt thị phi của thế
nhơn. Người Phật tử đến với đạo, nếu biết vận dụng
tâm thành gạt bỏ lợi danh, một lòng chánh niệm để chuyên
việc tu tâm dưỡng tánh, thì công quả vung bồi phước đức
vẹn toàn thanh tịnh thành tựu. Một khi tâm thành chánh niệm
thì sẽ tạo cho mình mùa xuân vạn hạnh vô biên.
Đến
chùa học đạo tu tâm mà còn thấy mình có công có danh có
quyền có lợi, muốn thầy phải nghe lời mình thế nầy thế
khác để được lòng mình, được lòng vợ con bạn bè mình,
những người như thế muôn đời lòng vẫn cảm thấy bất
an, mùa xuân hạnh phút vẫn mãi mãi xa ngút ngàn và cửa hang
ba đường ác đạo sẵn sàng mở chờ đón họ bước vào.
Bởi vì một khi thấy có thì sẽ thấy không, thấy được
thì sẽ mất. Tâm bệnh của chúng sanh không tu thì dày đặt
u muội nên phải khổ lụy vì những thứ có không còn mất
đắc thất khen chê. Chính vì tâm chấp trước có không được
mất đắc thất khen chê đã làm não nề thê thảm khách trần
danh lợi ái tình, họ mãi mãi sống trong những mùa đông điêu
linh băng giá và ngàn đời không bao giờ được sưởi ấm
ánh xuân dương hạnh phúc.
Kẻ
hám danh trục lợi dục tình, dù thân họ có mang đầy chuổi
hạt anh lạc, mặc áo Phật thì áo chuổi pháp khí đó cũng
biến thành ma khí, chỉ có che đậy cái thân xác dục vọng
mà thôi. Thậm chí họ có giả trang ngồi tòa sen hay phóng
hào quang thì những thứ đó cũng trở thành đồ vàng mã rơm
rác. Kẻ tà niệm cho dù có thuộc lào Kinh điển thì những
lời họ diễn nói ra thì cũng trở thành lời của tà ma, bởi
bản chất của họ là tà tâm dục vọng, chẳng khác nào là
bình chứa rượu lâu năm, đem đổ nước vào thì nước đó
hôi mùi rượu. Huống chi họ nhận là Phật tử thì đó
là loài ma vương dục vọng ngụy hình để dự vào hàng tứ
chúng đệ tử Phật với ý đồ cầu lợi tìm danh tranh dành
lủng đoạn khiến cho người hoài nghi Phật Pháp. Kinh Phật
dạy: “Kẻ tà nói chánh Pháp, chánh Pháp biến thành tà.
Người chánh nói tà Pháp tà Pháp biến thành chánh”.
Những người đã có tà niệm lợi danh thì ở đâu, đến
đạo tràng nào trước sao gì thì cũng tạo sự ồn loạn phiền
não nghi kỵ cho đại chúng, và cuối cùng dùng thủ đoạn
ăn không được khuấy cho hôi, được làm vua thua làm giặc,
làm như thế tặc tâm ác ý họ mới an vui hả hê. Ngày xưa
Phật còn tại thế cũng đã có xảy ra những chuyện tương
tự. Ngày nay vào thời mạt pháp nhơn tâm lại càng vọng
động, đạo tâm suy vi, thì tình trạng phiền nhiễu này thì
lại thêm dầy đầy. Vì vậy, những kẻ còn nặng tâm phàm
phu không đủ nghị lực tịnh tâm để cảm thấy được mùa
xuân hạnh phúc.
Xuân
Tết nhà Phật thường gọi là Xuân Di Lặc. Tại sao gọi
là Xuân Di Lặc? Lý do là vía của đức Di Lặc đúng vào
ngày mùng một Tết, với đức tánh hỷ xả của Ngài, nụ
cười cởi mở, gương mặt tròn đầy, thân hình nở nang của
Ngài hiển lộ trạng thái an nhiên tự tại, ai nhìn vào cũng
sanh tâm hoan hỷ. Đức Di Lặc tượng trưng cho niềm an vui
hạnh phúc muôn thuở. Ở nơi Ngài tỏa ra bầu trời Xuân
an lạc. Ngày Xuân Tết là ngày vui mừng hoan hỷ hạnh phút
của thế nhân. Thế nên lấy niềm hoan hỷ của đức Di
Lặc tượng trưng cho mùa Xuân hạnh phúc bất diệt của trần
thế.
Nếu
mùa Xuân là mùa cho mọi người vui cười hạnh phút, cho hy
vọng tương lai tươi sáng, thì chính hạnh hỷ xả của nhà
Phật nụ cười cởi mở bất diệt của đức Di Lặc hình
dung mùa xuân hạnh phúc muôn đời.
Người
có đức tánh hỷ xả là người có bầu trời xuân hạnh phúc.
Xả là xả bỏ không luyến tiếc, không chấp nê, cái gì qua
thì cho qua, dứt khoát như gió thoảng, như tiếng vang, như
nhạn bay qua mặt hồ để cho lòng thánh thoát. Chẳng hạn
như người có lầm lỗi với mình thì mình xả bỏ tha thứ,
không chấp trách, không hạch sách, không hận thù. Như thế
thì mình và người thông cảm hòa vui. Và như vậy tạo cho
nhau mùa xuân an lành hạnh phúc chân thật:
Người
có lỗi lầm ta thứ tha
Khoan
dung đại độ tánh ôn hòa
Đã
không buồn tức mà yên tĩnh
Mở
rộng lòng thương sống vị tha.
Những
ai trong cuộc đời khi những thứ quyền cao chức trọng danh
vọng giàu sang rơi khỏi tầm tay mà lòng vẫn thản nhiên không
mảy may xao xuyến luyến tiếc, thì người đó tự nó thể
hiện được tâm lý xem nhẹ danh lợi ái tình như cánh hồng
gai từ tay rơi xuống đất. Những người như thế lòng tràn
đầy hạnh phúc. Các bậc thánh nhơn giác ngộ xem danh lợi
ái ân như rác bụi trong con mắt, nên các Ngài lúc nào cũng
thoải mái tự tại an vui trước cảnh đời thịnh suy tan hợp
qua lời khuyên của các bậc cổ đức: “Ngộ thanh ngộ sắc
như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh như nhãn trung
trước tiết”. Đại ý rằng, tài hoa sắc đẹp trên đời
chẳng qua là trò chơi bóng nước, cây mọc trên đá, danh vọng
tiền tài làm hại đạo tâm như rác bụi dính vào mắt.
Người biết xem nhẹ lợi danh, khi danh lợi mất như rũ sạch
bụi áo, thì người ấy chắc chắn sẽ tạo cho mình mùa xuân
hạnh phúc bất diệt và cũng biết thưởng thức vẻ đẹp
muôn hình muôn sắc của mùa xuân.
Những
ai trong chúng ta nếu thể đạt được cái thân này là giả
họp tạm bợ còn mất chẳng khác nào như bánh đất của
trẻ con chơi thì có người đó liễu thoát sanh tử; cái thân
này sống qua hơi thở, thở ra mà không hít vào là bước vào
cõi đời khác. Mạng sống mong manh như sương trên đâu cành
sáng sớm, như áng mây hồng vào buổi hoàng hôn. Hôm nay
còn chưa chắc được ngày mai, giờ phút trước mạnh khỏe
khó lường được giờ phút sau. Sự đời thay đổi chóng
mau trong khoảnh khắc. Thân này không chắc thật, điều này
rõ như ban ngày. Thân đã không chắc thật thì cảnh vật
chung quanh nào có trường tồn? Người có tâm chí cầu đạo
Bồ Đề sao không lãnh hội để sớm đổi cái giả tạm mà
nhận lấy cái chân thật, đó là xuân hạnh phút miên trường?
Để
cho thế nhân triệt ngộ bộ mặt thật sự vật ở đời
ngõ hầu tạo cho mỗi người bầu trời xuân hạnh phúc, nên
Vạn Hạnh Thiền Sư có bài kệ khai thị đại chúng rằng:
Thân
như bóng chớp chiều tà
Cỏ
xuân tươi tốt thu qua rụng rời
Xá
chi suy thịnh cuộc đời
Thịnh
suy như hạt sương rơi đầu cành.
Kinh Kim
Cang đứ c Phật cũng dạy rằng:
Xưa
nay vạn vật trên đời
Bọt
bèo mộng huyễn có rồi hoàn không
Kìa
xem điện chớp trên không
Hạt
sương buổi sớm đem lòng quán xem.
Người
biết sống trong chánh niệm, biết điều tâm khiển thân chân
thành hành đạo tu tâm dưỡng tánh tạo thành phước đức,
như thế mặc sức hưởng mùa xuân hạnh phúc. Ngược lại,
kẻ không biết sống trong chánh niệm, lệ thuộc tà tâm thân
dục thì sẽ trôi lăn trong đường danh lợi thị phi ái ân
dục vọng, sống chỉ tạo thêm tội lỗi. Kinh Bát Đại
Nhân Giác đức Phật dạy: “Tâm là nguồn ác, thân là rừng
tội” (Tâm thị ác nguyên, hình vi tội tẩu).
Người
đắm chìm trong vô minh dục vọng vĩnh viễn không bao giờ
có được mùa xuân hạnh phúc. Mùa xuân hạnh phúc lúc nào
cũng tràn ngập trong cuộc sống của những ai biết sống trong
chánh niệm, biết sống thúc liễm thân tâm, biết sống với
cõi lòng từ bi hỷ xả.