THIỀN VÀ
THI CA
TRONG THI KỆ
MÃN GIÁC THIỀN SƯ
Như
Hùng
"Ðừng
tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Ðêm
qua sân trước một cành mai".
Mãn
Giác, một thiền sư mang đầy nghệ sỹ tính đã để lại
trần gian đóa mai vụt nở trước sân mà ngàn năm vang vọng
trong vô cùng vẫn không hề tan rã, ở đó hương sắc quyện
vào hư không tô thắm khung trời nghệ sỹ, trong ấy còn lại
những vần thơ mang mang bao phủ đất trời.
Cả
cuộc sống được dựng nên từ lời thơ, thế giới núp mình
trong đóa mai chớm nụ và tính chất nghệ sỹ đượm nhuần
trong hương sắc phảng phất đi vào cõi tĩnh mịch trong vô
cùng. Chỉ có lúc đêm khuya bặt hết tiếng côn trùng, mọi
vật chìm lặng trong màn đen cô tịch mờ ảo, chỉ còn đóa
mai hé nụ điểm tô cho đêm trường, những rung cảm bỗng
chốc đi vào từng thớ thịt làm ấm lại sinh động cho tâm
thức, cuối cùng những tinh hoa của đất trời từ từ tuôn
chảy dệt nên những vần thơ tiếng nói trong thời không.
Bóng
dáng và dấu vết của chặng đường đó bật tung ra khỏi
ngưỡng cửa quyền năng, còn lại những biến hóa phù thủy
quyện vào đôi tay tung ra những vần thi kệ, mà cho đến bây
giờ cành mai của năm xưa bỗng hiện hình làm tươi mát cho
đất trời cho cuộc sống hôm nay.
1.
Con người và thi ca, biên giới của mộng và thực:
Sự
hiện hữu của con người được kể như vô nghĩa nếu không
nhờ thi ca làm đẹp cuộc đời. Con người vốn là dòng sinh
mệnh trôi lăn giữa những phong ba bão tố, thỉnh thoảng dừng
lại với những biến động trá hình cuả hạnh phúc, mà đúng
ra là cửa ngõ của những nghịch cảnh khác. Hạnh phúc mà
chúng ta đang trực diện nếu có, chỉ là bóng dáng giữa mộng
và thực, ranh giới của nó tựa như đường tơ kẽ tóc, như
nhát kiếm chém phăng vào dòng nước đang chảy, biên giới
nầy mong manh như chính thân phận con người.
Thực
cũng chỉ là mộng được dệt nên từ có của thời gian,
những khởi động đi qua nhanh như tia chớp, tạo cho ta tưởng
chừng đó là hiện thực, sự thấp thoáng mờ ảo đó, biến
thế nhân trở thành đối tượng chỉ sống với cảm quan
phong phú, được dệt nên và hình thành từ cuộc sống vốn
tràn ngập phi thực. Ý tưởng nhận thức được hưng khởi
theo chiều hướng sai sử tác động, không nằm nơi nguyên
ủy của lý lẽ vượt thoát.
Con
người sống với niềm kiêu hãnh, ôm giữ những gì có được
trong đôi tay, yên mình theo nghĩa thực hữu, quan cảm nếu
được xuất hiện trở thành định lý bất di bất dịch,
vì thế chặng đường đập vỡ thành trì cứng nhắc của
tưởng quan lắm lúc trở nên bất lực.
Biên
giới được xem là ngăn cách không tạo cho con người cảm
thông với sự biết và không biết, giữa say với tỉnh, giữa
mộng với thực. Khi nào ranh giới này bị san bằng tiêu hủy
thì mộng và thực ấy còn lại một khối duy nhất, vượt
ra ngoài những biên kiến, say bới tỉnh như cơn lốc cuốn
hút vào hư vô. Có ai tỉnh hoài mà không say? Có ai say hoài
mà không tỉnh? nhưng, nếu tỉnh theo nghĩa tỉnh của thực
tại thì điều này cũng chỉ trá hình của say, bởi lẽ hiện
thực được dựng nên từ cảm quan, tưởng chừng chứ không
phải là một thực tại với những tra vấn khám phá, những
đặt lại nếu có, thì thực tại này trở thành phi thực
ngay. Nếu trở thành phi thực thì sự có mặt của con người
há không phải đang say hay sao?
Biên
giới thi ca nằm ngay khoảng đó, tạo cho con người cách thức
nhìn sự vật theo những cảm xúc lạ thường, vượt ra khỏi
cuộc đời bên cạnh lối nhìn thi vị. Với thi nhân, nếu
trăng là trăng thì trăng không còn thơ mộng, huyền ảo nữa
và Lý Bạch đâu có tự mình nhảy xuống sông vì chỉ muốn
ôm giữ một vầng trăng. Vầng trăng mà họ Lý muốn có được
trong đôi tay bé nhỏ của mình chính là vầng trăng của mộng
và thực. Vì nếu, họ Lý biết là trăng chiếu rọi bóng ở
dưới nước, thì đâu tự mình tìm lấy cái chết oan uổng.
Còn nếu bảo rằng trăng là thực thì ông cũng thừa hiểu
rằng cỏi thực ấy chỉ có ở trên nền trời trong xanh chứ
đâu nằm ở dưới nước, nhưng họ Lý đã thoát ra ngoài
tương quan, nên tìm đến vầng trăng mà không cần biết trăng
ấy từ cõi nào. Chừng đó cũng đủ rồi, tra vấn nhiều
thì trăng không còn thơ mộng nữa.
Nhưng
không có nhĩa nhìn trăng và thấy đó là đơn thuần thì cuộc
sống và thi nhân hóa ra vô vị sao? Ngôn ngữ thi ca trở thành
một thứ quyền năng biến hóa không lường. Có như thế Hàn
Mặc Tử mới bắt "trăng nằm sóng sõi trên cành liễu" hay
Xuân Diệu mới bắt "gió hôn trên má". Không phải thi nhân
có quyền năng, nhưng sự sáng tạo để dệt nên thi ca trở
thành quyền biến và đưa tri giác của thi nhân thoát ra ngoài
những sai biệt mà một con người bình thường không thể
tìm được. Thi nhân là kẻ cố gắng khám phá những gì đang
bị che dấu, khuất lấp trong thực tại. Sự cố gắng này
không có nghĩa phải nặn óc để có những vần thơ, mà điều
này là cách nhìn mới lạ vốn đã được un đúc sẵn trong
thi nhân, có cơ hội nhìn ngắm đối tượng thì cảm xúc trào
dâng, vui buồn đối với thi nhân cũng chỉ là sự pha trộn
giữa mộng và thực, khám phá truy tìm những mới lạ không
có nghĩa để từ đó chạy trốn cuộc đời mà phải sống
thực và gần gủi với đời. Trong niềm hoan lạc hay trong
khổ đau ngôn ng 919? thi ca đều có mặt, diễn tả những trạng
huống nầy thơ mộng ngay lúc khổ đau đến độ dư thừa:
"Một
chiếc cùm lim chân có Đế"
Ba
vòng xích sắt bước thì Vương"
(Cao
Bá Quát)
Điều
quan trọng là phải hoán chuyển những thực trạng đó trở
thành ngôn ngữ mà đối tượng thưởng thức tìm thấy giá
trị siêu việt. Thi nhân không cần phải áp dụng đến nghệ
thuật, vì thi nhân vốn đã là một siêu nghệ thuật rồi,
nếu sự chuyển hóa phải có nghệ thuật thì sự trào dâng
để có thi ca trở nên đè nén trong nghệ thuật. Thơ được
xuất hiện khi đi qua quá trình cảm nhận và rung cảm, nếu
muốn xử dụng nghệ thuật thì phải xử dụng trước khi
rung cảm. Một khi rung động xuất hiện, thi nhân không nỡ
chèn ép dù đó là nghệ thuật để thi vị lời thơ. Nhưng
nếu thơ được xuất hiện trong ngăn ngại thì hồn thơ trở
nên tức tưởi và ngôn ngữ thi ca không còn dệt từ những
cảm quan tuyệt diệu nữa. Nó trở thành công lệ của nghệ
thuật.
2.
Thiền trong thi ca:
Thiền
là thực thể của những sinh động, biến hóa liên tục, gây
chấn động tâm thức để từ đó đạt được giác ngộ.
Thiền hướng đến trực ngộ, chứng nghiệm thực trạng trong
những sinh khởi bình thường, không qua lăng kính phân biệt
mà phải nhìn thẳng bằng định lực, không đắm chìm trong
những lý luận huyền ảo, quán chiếu mọi tương quan hiện
tượng bằng đôi mắt cảm thông không ngần mé, nhưng hẳn
chắc không gì ngăn trở nổi.
Trong
hầu hết những công án của Thiền đều ẩn mang cốt cách
văn chương thi ca, như một câu nói lơ lửng, một bài thơ
không hiểu nổi. Nhưng, chính cái lửng lơ ấy tạo cho kẻ
đối diện hoang mang, ray rứt, bí lối trước những suy luận
và cuối cùng bỗng nhiên lăn mình trường tới cửa ngõ rỗng
không.
Thiền
bao phủ len lõi bàng bạc trong thi ca khá nhiều, nhất là thi
nhân một khi muốn hiểu cảm thông đối tượng, trước hết
phải cảm thông chính mình, và để từ đó bắt nhịp, phơi
bày trao gởi lời thơ. Thơ là một cách hiểu, lối sống với
sự vật trong mọi hoàn cảnh gợi hứng cho thi nhân, tuy nhiên
sự hiểu lắm lúc vẫn còn kẹt vào những so đo phán xét,
theo bản năng lôi kéo những hiện vật trở thành sản phẩm
đơn thuần lý trí. Chỉ có sự hiểu biết của siêu nhgiệm,
vượt thoát ra ngoài biên giới mọi tương quan thường nghiệm,
thì mới có thể đạt tới đích của Thiền là tạo năng
lực thể nhập vào thi ca, không còn nhị nguyên mà là một.
Bởi vì trí huệ hình thành là nhờ phá tan đi chủ thể, khách
thể, những lý luận nếu không tiêu hủy sẽ thành ngăn ngại,
như thế chặng đường tìm đến sự dung hòa hội nhập biến
thành hố thẳm chôn chặt cuộc đời.
Thiền
có công năng linh diệu trong việc hướng tri thức khi nhìn
muôn vật trở nên siêu thực, nhìn với cách nhìn, lối nhình
như thị, không thành kiến mà phải ly khai ra khỏi những đối
lập, phải biến sở hữu của riêng mình thành chung của vạn
hữu - Thi nhân nếu không khơi dậy con đường cảm xúc, rung
động toàn triệt thì thi ca không đạt được tận cùng vi
diệu và như vậy lời thơ không trài hương, ươm mật. Thi
nhân cũng có thể dệt những rung cảm của mình trên lối
về thăng hoa hiện hữu, nhưng cũng có thể biến ray rứt của
mình nhuộm đen tối khổ đay thêm cho đời. Điều này hoàn
toàn tùy thuộc vào bản năng đang ngự tiềm ở thi nhân.
Chúng
ta thử tìm những sắc thái đặc thù trong một vào công án
bằng thi ca của Thiền, như Viên Chiếu Thiền Sư có lần đáp:
"Gốc
tùng trổi gió âm buồng
Mưa
qua lối đó vấy bùn nẻo đi".
Ngài
diễn tả thực trạng nhưng, trong ấy có một cái gì nhắn
gởi bất động như chính cái yên lặng trổi buồn của cây
tùng. Và cũng lần khác ngài đáp khi được hỏi về "Chân"
"Hoa
rừng vướng lệ nữ thần
Gió
xao cành trúc tiếng đàn Bá Nha"
Có
ai hiểu được tiếng đàn Bá Nga ngoài Tử Kỳ ra? Cái lơ
lửng của Thiền như chính cái lơ lửng của thi ca vậy. Nếu
nhìn nước với con mắt của khoa học, của lý trí thì nước
được cấu tạo bởi H2O nhưng, với nhãn quan thi nhân lại
thấy nước là bến đò tiễn biệt, những hẹn hò chờ đợi
hoang vắng, cô quạnh trong buồn đau, lững lờ trôi như dòng
nước v.v... cách nhìn đó xuyên qua thực thể, chặng đường
nầy gần giống với Thiền trong việc tìm những bí ẩn đằng
sau mọi tương quan. Nhưng, thi nhân hầu hết từ đó khởi
lên những hoài cảm, xót xa, thương tức, dĩ nhiên vẫn hơn
những đối tượng không tìm thấy được lý lẽ này, vì
còn cơ may nhìn lại sư đau thương ấy. Ngược lại, với
Thiều truy cứu về hiện tượng bằng những cung cách nầy
nhưng, vượt lên trên ở điểm Thiền không phải là thực
thể chết cứng lặng thinh, mà rất linh diệu, tươi sáng,
nhìn sự vật trôi qua, biến hiện, bằng con mắt thờ ơ, lãnh
đạm không hề lo sợ mảy may nào.
Ngoài
những điều trông thấy như nước chẳng hạn, nếu sự đơn
thuần nước là nước thì bình thường quá, nhưng mặt trái
nuớc vẫn là cái gì có thể là điểm nhớ nhung, hy vọng,
tùy theo trạng huống mà đối tượng đã gặp. Thiền lột
trái bộ mặt ấy và đưa con người nhìn thẳng vào đó, đừng
lo sợ vu vơ và đặt tra vấn ngay nếu, mặt trái là sự hẳn
nhiên thì tại sao không từ đó để thấy rằng đàng sau những
xô bồ, tan rã có một cái gì rất thực, rất thi vị, mà
ngôn ngữ không diễn tả được. Đừng run rẩy phải đối
diện với hùng lực sẵn có trong mỗi người, dung hòa được
điều này thì cuộc sống không còn đau khổ triền miên nữa,
mà phải bắt nhịp cảm thông như thi nhân đã thi vị cuộc
đời bằng chất liệu lời thơ, phải vượt ra khỏi trói
buộc, như những Thiền sư đã từng vượt, thì cuộc đời
không còn phù vân mộng ảo nữa, có một cái gì đáng yêu
nên thơ trong ấy.
3.
Sự dung hòa giữa thiền và thi ca trong Mãn Giác:
Mãn
Giác Thiền Sư (1052-1096) đã tổng hợp dung hòa những sắc
thái độc đáo của Thiền tác động và hưng khởi cho thi
ca. Trong ấy ta tìm được những vần thơ theo hình thái thi
kệ một cách bình dị, thường nhật, thanh thoát, nhưng đã
chứa những nghĩa mầu thầm kín, vén mở chân trời huyền
nhiệm mà thi ca ẩn mình trong đó.
Mãn
Giác khơi dậy sự vật hiện hữu trước mắt với lối nhìn
đặt nguyên vị trước và sau chính nó đã nằm, không hẳn
phải tách rời ra khỏi tư thế. Điều quan trọng từ đó
thăng hoa và đưa nó trở nên biểu tượng tối cần để ngắm
nhìn. Mãn Giác đặt vấn đề hết sức dung dị, sự tồn
tại, diệt vong của nó theo quan điểm con người và thi nhân,
cũng như giữa thi nhân với Thiền Sư. Tra vấn của Mãn Giác
được xuất hiện đồng lúc với thời điểm ngự trị của
thời gian, nhưng điều này đã mở bày khi hình hài, hương
sắc chính nó hiện diện ở trần thế.
Người
nghệ sị thi nhân đến giữa cuộc đời không nhất thiết
phải để lại những vần thơ bất hủ, sự có mặt của
họ chính là vần thơ tô thắm cho những giá trị mà con người
ít tìm thấy. Có làm thơ cũng chỉ dệt nên những rung động,
và sự nói năng nầy là những tiếng vọng lên, sau đó vụt
tắt qua mau, nhưng có ai dám bảo rằng kẻ ấy không gởi gấm
cả một tấm lòng cho nhân thế? Hồn thơ khi đã được xuất
hiện, nó bàng bạc ăn sâu và thâm nhiễm vào chính ngay đối
tượng. Nếu, sự vật được đôi mắt thi nhân ghé qua dù
không dệt nên thi ca thì nó vẫn in dấu và tỏa ra những sắc
hương hơn những sự vật khác, sự vươn lên cuả nó đã
tô thắm, làm đẹp cuộc đời bằng ngữ ngôn im lặng. Sắc
vị ấy phảng phất bay chập chờn trong hư không, một lúc
nào đó chúng ta thật sự nhìn ngắm giải lục trắng trên
nền trời xanh, hay ánh trăng lung linh huyền ảo, màu sắc và
yên lặng đó cho chúng ta những rung động mà chính nó đã
được un đúc những cảm nhận của thi nhân từ trước.
"Cổ
nhân bất kiến kim thời nguyệt
Thời
nguyệt năng thường chiếu cổ nhân"
Người
xưa không thể trông thấy được vầng trăng hôm nay, nhưng
ánh trăng hôm nay trước đó vốn đã chiếu rọi người xưa.
Để rồi bây giờ hương sắc người xưa vẫn còn đó, ẩn
mình trong thăm thẳm mênh mang. Cổ nhân đã đi qua nhưng ánh
trăng còn ở lại để điểm tô và làm đẹp cho con người.
Sự ngự trị rung động của thi nhân có mãnh lực phi thường,
hoán chuyển sự vật theo cách nhìn và tạo cho con người duyên
theo đi vào lối khác tràn ngập màu sắc âm thanh kỳ ảo.
Mãn
Giác thiền sư người đã để lại một bài thơ mà ngàn năm
trôi qua giá trị vượt ra ngoài tử sinh. Âm vang của nó tựa
như tiếng thì thầm được cất lên từ đỉnh cao chất ngất
vang vọng xuống trần gian. Làm cho con người sực nhớ đến
sự tàn phá hủy diệt của thời gian, nhưng trong đó âm hưởng
vẫn tồn tại trong vô cùng, vượt thoát có không.
Xuân
khứ bách hoa lạc
Xuân
đáo bách hoa khai
Sự
trục nhãn tiền quá
Lão
tòng đầu thượng lai
Mạc
vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai
Dịch:
Xuân
trỗi, trăm hoa rụng
Xuân
đến, trăm hoa cười
Trước
mặt, việc đi mãi
Trên
đầu, già đến rồi
Đừng
tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm
qua sân trước một cành mai
(Ngô
Tất Tố)
Thời
gian là mấu chốt cột chặt, được con người lập nên và
cũng chính từ đó hủy hoại những hình ảnh không chút tiếc
thương. Nhưng với Thiền sư kẻ thoát ra ngoài cõi sống chết
thời gian không còn động đến, bốn mùa không duyên theo lấy
gì mà lập. Khi tạo cho đời sự dung hòa, Thiền sư y cứ
nơi đó hé mở cho thế nhân đàng sau những chồng chất tàn
phá ấy còn lại một cái gì rất là thơ, rất là thực. Hoa
tàn rơi rụng để rồi chìm lặng ẩn mình trong hư vô, tạo
nên kiếp lang thang trước ngưỡng cửa chờ đợi tiếp nối.
Nhưng, đó là sự chuyển mình để sinh thức tồn tại ở
môi giới khác. Với nhãn quan của Thiền sư nó đã bị chiếu
vào tận cùng nguyên thể mà chính nó đã đi qua, đây cũng
là phương cách huân trưởng cho sự vươn lên một lối và
cách tồn tại khác. Sự hiển lộ nầy vẫn trá hình len lõi
chứ không hẳn kết thúc một đời. Hoa tan biến theo bản
năng thông thường được dựng nên theo những nguyên lý thành,
trụ, hoại, diệt. Nhưng đêm qua sân trước một cành mai nở
rộ, mãi mãi tồn tại trong vô cùn! g, khð4ng ai có thể tàn
hủy mà chính nó đã hiện hữu trong vượt thoát. Cành mai
Mãn Giác thi sỹ trông thấy, không được dựng lên từ thời
gian, nó đã xuất hiện tồn tại ngay trong mọi sinh diệt của
cuộc đời. Bóng dáng của nó không nằm ở đâu trong hay ngoài
nhưng, tất cả chính là sự có mặt phi thường của nó.
4.
Tính chất nghệ sĩ trong con người Mãn Giác:
Mãn
Giác được mệnh xưng là con người nghệ sỹ, nhưng vượt
lên trên tất cả những gì được gọi là nghệ sỹ. Nghệ
sỹ ở đây được hiểu theo nghĩa những rung động, những
cảm hứng vụt khởi, để rồi còn chỉ lại lời thơ, một
chút gì đẹp thấp thoáng ẩn hiện trong vô cùng. Và nghệ
sỹ ở đây theo nghĩa lãng quên, làm tất cả nhưng không hề
nhớ mình đã làm cái gì cũng như không có cái gì để làm
cả, không một vật nào có thể trói buộc ngăn ngại được.
Nếu có nhớ thì sự nhớ ấy chỉ là cách để quên và đôi
khi sự nhớ nầy trở thành vô niệm trong đó. Vượt lên trên
những phê phán ngộ nhận, đạp tung những gì được gọi
là định thước. Những thứ ấy không cần thiết và không
làm trở ngại nhất là con người nghệ sỹ giải thoát.
Mãn
Giác đã đẩy lui thời gian ra khỏi ngưỡng cửa chờ mong,
phóng mình tới đích phi thời gian. Đêm trước sân cười
một nhánh mai đã chấn động cả đất trời, như tiếnng
vang đinh tai nhức óc làm con người chơi vơi giữa khoảng
tử sinh.
Con
người đo lường cuộc sống và sự sống bằng thời gian,
chờ đợi để được trả lời những nghi vấn, thực ra nó
hình thành cũng do chúng ta muốn kiểm chứng đo lường, để
rồi sau đó chính nó gây nên những tác động, làm con người
trở nên lệ thuộc và đau khổ khi bị đào thải, tàn phá,
như Xuân Diệu chẳng hạn, xuân vừa đến bỗng sợ xuân mất.
Dù rằng Xuân Diệu đã thấy được sự vô thường trong đó.
"Xuân
đang đến nghĩa là Xuân đang qua
Xuân
còn non nghĩa là Xuân sẽ già
Mà
Xuân hết thì đời tôi cũng mất!"
Trái
với Mãn Giác bỏ đi thời gian, quên đi mọi vật, chỉ còn
cành mai đang phơi sắc tồn tại mãi nơi tâm thức, không còn
gì có thể chi phối được nữa. Bản thể khi đã thấu rõ,
đâu còn băn khoăn lo lắng, thương đau, ngược lại có thái
độ bình tĩnh, tự tại, an nhiên trước những đổi thay biến
hiện. Con người nếu đạt được điều này có thể vẫy
tay chào tạm biệt thời gian không một luyến tiếc như Tản
Đà Nguyễn Khắc Hiếu với mấy vần thơ:
"Người
đời ai cảm? Ta không biết
Ta
cảm thương ai viết mấy lời
Thôi
thì: Cùng thu tạm biệt
Thu
hãy tạm lui
Chỉ
để khách đa tình đa cảm
Một
mình thay cảm những ai ai?
Tính
chất nghệ sỹ ấy nếu được khơi mở đúng lúc thì cuộc
đời là một cuộc thơ, thăng hoa trên lối về, làm nở những
đóa hoa trong vô cùng mà hình ảnh của nó tô thắm khung trời
mơ. Mãn Giác đã ý thức một cách thân thiết trọn vẹn về
con người, những tương quan hiện hữu nếu không được buông
bỏ ra khỏi cuộc đời thì trở thành gánh nặng cho mình.
Chỉ có tính chất nghệ sỹ mới dám đạp tung ra khỏi đôi
vai và tâm tư chính mình. Nếu, áp dụng Thiền trong sự pha
trộn thì nghệ sỹ này rong chơi dạo khắp nẻo luân hồi
hỗn độn mà không hề bị hề hấn chùng bước. Đi vào cuộc
đời tựa như đến khu vườn với trăm ngàn hương thơm cỏ
lạ đang chờ đón. Nếu trong ấy có những đóa hoa nào tàn
rơi rụng thì với nghệ sỹ tính không khởi lên mối thương
đau, vì đó là cách biến dạng để đến môi sinh khác. Và
nếu có thương đau thì sự thương đau ấy chỉ là rung động
để từ đó dệt nên lời thơ, chắc hẳn sau đó bỗng như
gió thoảng mây bay, còn lại chút gì nghệ sỹ truyền cho nhân
thế. Đôi lú! c thi nhân không cần đến sự thưởng thức
của kẻ khác, bởi lẽ mấy ai rung động trọn vẹn như thi
nhân đã từng rung động, và nếu có, chắc gì hiểu được
ý thơ. Với nghệ sỹ thơ nếu được trào dâng thì điều
ấy có nghĩa là thông lệ, không nhất thiết để người thưởng
ngoạn mà không bắt đúng nhịp.
Một
bài thơ được kể như hay nhất là bài thơ không bao giờ
được viết nên lời.
5.
Tại sao Mãn Giác để lại cho đời bài thơ:
Đối
tượng của thi ca là sự vật sinh động trong im lặng nhiều
nhất, chính sự vô ngôn nầy tạo cho thi nhân những tiếng
nói trở thành tiếng nói dùm cho đối tượng, theo nghĩa diễn
tả những rung động bắt nguồn từ đối tượng.
Sự
rung động tuyệt diệu chỉ xuất hiện một lần độc nhất
trong một cuộc đời, ngoài ra nếu có rung động thì sự rung
động ấy được hiểu theo nghĩa rung động để trào dâng
nguồn thơ chứ không phải điều đắc ý nhất của thi nhân.
Cuộc đời thi sỹ chỉ để lại một bài thơ đắc ý của
mình, được hình thành trong một lần tung mình tới đích
cảm xúc trào dâng. Truy tìm bài thơ tuyệt tác của thi nhân
độc giả phải có những giây phút tiếp nhận những khởi
cảm mà thi nhân đã từng rung động, thì mới có thể nhận
được những gì thi nhân đã trao gởi trong đó. Và kẻ thưởng
ngoạn nếu không đạt tới chiều sâu vi diệu, chính là mức
độ thưởng ngoạn của mình bị giới hạn trước những
dệt nên của thi nhân. Quả tim con người duy nhất một lần
rung động tuyệt hảo, lúc người ấy tiếp nhận một cách
trọn vẹn sâu xa, ngoài ra nếu có chỉ là dư hưởng còn lại.
Mãn
Giác Thiền Sư thoáng gặp lần vụt mình trên những chấn
động một cách toàn triệt đó là giao điểm thời gian giữa
đông và xuân, ở đó tìm về quá khứ của đông sự vật
và con người co mình trước những giá buốt, tâm hồn trơ
trọi run rẩy như những thân cây phủ tuyết đứng bất động
ngoài đường. Ý thức trở nên băng giá khô cứng do thời
gian tạo nên. Nhưng với Mãn Giác mùa đông ấy là chất liệu
đang được huân trưởng trong ngài. Sự lạnh lùng băng tuyết
là thực thể đang dội mạnh vào tâm tư của mình, như dòng
nước từ cao điểm đổ xuống tung tóe lên những bông hoa.
Mùa đông ấp nụ để chờ cơn gió xuân thổi qua, nụ hoa
bổng nhiên bùng lên trong khí trời ấm áp. Nếu không có giao
điểm đông tàn thì sự xuất hiện của mùa Xuân không làm
cho cuộc đời trở nên đẹp, sỡ dĩ mùa xuân của hy vọng
của muôn hoa, vì nhờ những tàn phá của Đông trước đó
làm cho con người có ước vọng tìm đến mùa Xuân, để vơi
đi những bẽ bàng run rẩy trong cô liêu.
Nhưng
mấy ai thực sự hưởng trọn một mùa Xuân đúng với ý nghĩa
của nó nhất. Nếu Xuân đến để rồi ra đi mang theo những
đóa mai tàn rơi rụng, thì thà nàng Xuân không đến hay hơn.
Nhưng rồi Xuân đến và ra đi như chính thân phận tan hợp,
con người còn lại những nuối tiếc hoang mang, thương đau,
hoài vọng, những dư hưởng vẫn còn phảng phất đâu đây
để nhớ dâng chồng chất, để nuối tiếc cho một đời.
Với
Mãn Giác mùa xuân không còn nằm nơi khe cửa, không phải chờ
đợi chúa Xuân ngự đến, mà bất chợt khi đóa mai vụt nở
trước thềm cả sự cảm xúc tuyệt hảo phi thường xuất
hiện trong chớp nhoáng, để rồi dệt nên bài thơ trao lại
cho đời, một đóa mai không tàn phai theo năm tháng.
Duy
nhất và chỉ một lần đắc ý mà trong cuộc đời Mãn Giác
đã tìm được, nếu không phải là lần cùng cực rung động,
hẳn đã không có những vần thơ bất hủ như thế. Sự giác
ngộ được kể như gõ thẳng vào tâm điểm để đạt đến
sự thể nhập tuyệt cùng. Sự rung động cũng là cách cần
phải thể nghiệm trọn vẹn mới có thể tìm hiểu được
những gì mà đàng sau đó đang ẩn chứa. Và biết đâu chính
những nguyên lý đó đưa đến giác ngộ?
Thiền
sư là những con người có được sự bén nhạy nhanh và năng
cảm nhất, vì khám phá uyên nguyên sự vật trước hết, trên
hết phải chuyển mình trở thành sự vật đang hiện hữu,
không thể đứng ngoài sự vật mà tìm thấy những thầm kín
trong ấy, muốn tìm ra gốc rễ phải sống và thở như chính
nó đã sống. Nếu không có những điều nầy thì làm sao có
thể thành tựu trong việc truy lùng uyên nguyên vật thể.
Thiền
sư là những kẻ đang thở và sống trong tất cả mọi hiện
tượng và sự vật, hoán chuyển để trở thành nguồn sống
nuôi dưỡng cho những trổi dậy, vượt thoát ra ngoài tương
quan hiện thực.
Đoá
mai không tàn phai khi mai chính là chất liệu được ngự trị,
và Mai đã được nở một lần thể nhập vào vô cùng, thì
cuộc đời lúc nào không có đóa Mai, không có mùa Xuân? Ý
của Xuân và hương sắc quyện vào hư vô chỉ tan loãng nhưng
không hề nhạt phai trong trời đất. Phải có cái nhìn như
thật vượt thoát thì mới có thể trông thấy được những
gì mà kẻ khác không trông thấy. Cái nhìn đó phải là cái
nhìn của thi sỹ của Thiền sư của nghệ sỹ thì sự vật
mới lộ nguyên hình.
"Nếu
không là nghệ sỹ thì không là thiền sư
Nếu
không là Thiền sư thì không là thi sỹ"
Nhưng
tất cả cuối cùng rồi chỉ còn trên đường về của im
lặng, những lời thơ không bao giờ được cất lên, nhưng
ở đó một khung trời huyền nhiệm đang ngự tác. Mãn Giác
để lại một bài thơ hay nhất, đắc ý nhất, và rung động
tột cùng nhất. Và rồi sau đó tất cả đang mờ dần, kể
cả những lần chấn động kế tiếp, nhưng không còn làm
cho cảm tác dâng cao độ. Một khi nó đã ở từ đỉnh cao
thì chặng đường sau không phải chỉ là cách gượng ép hay
sao? Đúng ra không còn hứng thú nữa?
Lời
thơ ấy cho đến bây giờ vẫn còn vang vọng và vang vọng
cho đến khi nào bặt hết mọi ngôn từ, lúc ấy nó mới trở
về từ nơi mà nó đã xuất hiện. Im lặng.
Như
Hùng
Từ
cuốn THIỀN SƯ và TƯ TƯỞNG, GIÁC NGỘ xuất bản 1987
01-10-2008
11:23:56