Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
CHÉN TRÀ NGÀY XUÂN
Thích Viên Giác

Ngày xuân mà thiếu trà là thiếu hương vị đậm đà của xuân. Người xưa coi trà như lẽ sống, người nay cũng lấy trà làm bạn tri âm. Một người bạn hiền, một khung cảnh ấm áp, thư thái nâng chén trà ngon, cho nhau một chút tình đời ý đạo, còn gì thú vị hơn!

Trà là thức uống có từ rất xưa, gắn liền với đời sống con người Á Đông, nhất là người Việt Nam. Trà có mặt trong đời sống của ta từ khi ta sinh ra cho đến khi từ giã cõi đời (người chết được liệm bằng trà), trà như là một phần tất yếu của đời sống.

Uống trà là một tập quán, tập tục của người Việt Nam, từ hình thức uống đơn giản và thông dụng cho đến thực hiện nghi thức cúng tế đều có sự góp mặt của trà. Phải nói rằng, vai trò và tác dụng của trà trong đời sống của con người Việt Nam rất lớn.

Ngoài việc uống trà như là ăn cơm uống nước hàng ngày, trà còn có vai trò cao hơn là đem lại an lạc, thư giãn sau những giờ phút lao động mệt nhọc, căng thẳng. Uống trà để lấy lại thăng bằng tâm lý, cơ hội thưởng thức một thú vui; ở mức độ thấp gọi là giải trí, mức cao hơn là tập cho tâm hồn thanh cao, an tĩnh. Như vậy, uống trà đã trở thành nghệ thuật cao.

Nghệ thuật uống trà khá cầu kỳ và phức tạp, nó hình thành nghi thức uống trà như nghi thức của tôn giáo, có hẳn một lý thuyết về trà qua tác phẩm Trà kinh, một nghi thức uống trà gọi là Trà đạo. Có kinh, có đạo đó là tính chất tôn giáo của trà.

Nguồn gốc cây trà có từ xa xưa, nhiều huyền thoại bao quanh sự xuất hiện của cây trà, cho thấy người ta ưu ái cây trà như thế nào. Trà, theo huyền thoại, do Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, một hôm ngài không muốn bị sự buồn ngủ chi phối khi ngồi thiền nên đã cắt hai mí mắt vứt xuống đất, ở chỗ đó mọc lên cây trà. Huyền thoại tuy không đáng tin, nhưng điều đó nói lên một thực tế rằng, những người đầu tiên dùng trà là các thiền sư, mục đích là làm cho tâm trí được bình thản và chống lại sự buồn ngủ khi ngồi thiền. Mặt khác, nghệ thuật uống trà xuất phát từ chùa chiền và các thiền sư, các đạo gia.

Nghệ thuật uống trà thịnh hành từ thời nhà Đường, là thời đại thịnh vượng nhất của Trung Hoa, nhất là về mặt thi ca, văn học nghệ thuật, trong đó nghệ thuật uống trà cùng phát triển. Lục Vũ, tác giả của Trà kinh, được coi là Trà thần, ông là một cư sĩ ở trong chùa. Sau này, nghệ thuật uống trà truyền sang Nhật Bản gọi là Trà đạo. Thời bấy giờ, nghệ thuật trà sánh vai với các nghệ thuật khác như cầm, kỳ, thi, họa. Trà được coi là cao hơn tửu (rượu) và kỳ (cờ) vì phẩm chất thanh cao của nó.

Theo Trà kinh, nghệ thuật thưởng thức trà phải hội đủ 9 yếu tố:

1. Phải chế lấy trà.
2. Phải có khả năng chọn lựa loại trà và hương vị trà.
3. Phải có đầy đủ dụng cụ.
4. Phải sửa soạn lửa củi cho đúng cách.
5. Phải có nước pha trà thích hợp.
6. Phải sấy cho đúng cách.
7. Phải tán trà cho tốt.
8. Phải pha trà một cách khéo léo.
9. Phải uống trà đúng cách.

Vấn đề chủng loại trà cũng rất phong phú, nó cũng liên quan đến nghệ thuật thưởng thức trà. Có những loại trà nổi danh trong lịch sử được ghi chép lại như trà Long Tĩnh ở Triết Giang, trà Mông Đỉnh ở Tứ Xuyên… Càng ngày càng có nhiều loại trà nổi tiếng, không chỉ ở Trung Quốc mà ở Việt Nam ta cũng có nhiều loại trà đặc biệt được nhiều người ưa chuộng như trà móc câu, trà ướp sen, trà lài hoặc trà không ướp… thuộc các địa danh Bắc Thái, Thái Nguyên, Bảo Lộc…

Những loại trà nổi danh cũng có những huyền thoại thú vị như trà Mông Đỉnh ở Tứ Xuyên đã đi vào văn học Phật giáo. Trong nghi lễ tiến cúng các hương linh, nghi dâng trà có bài kệ:

Dương Tử giang tâm thủy
Mông Sơn đỉnh thượng trà
Hương linh tam ẩm liễu
Tảo sinh pháp vương gia

Tạm dịch:

Nước dòng sông Dương Tử
Chế bình trà Mông Sơn
Hương linh ba lần uống
Sinh qua cõi Phật liền

Tuy hơi cường điệu, nhưng muốn nói rằng một tách trà ngon đúng điệu sẽ làm cho tâm hồn vơi đi những muộn phiền, tâm hồn sẽ thanh tịnh và đạt được trạng thái siêu thoát.

Về nghệ thuật pha trà và uống trà, Trà kinh và các sách bàn về nghệ thuật pha tra, thưởng thức trà khá phức tạp, tựu trung có năm yếu tố căn bản để có được một tách trà ngon: 

1. Trà ngon, 2. Biết pha chế, 3. Thời gian và không gian, 4. Tâm trạng, 5. Bạn bè.

1. Trà ngon:

Tùy theo khẩu vị để mua loại trà có ướp hay không ướp. Nếu ướp như trà sen ở Huế (sen trắng) là tuyệt vời. Trà một lá, hai lá, ba lá. Một lá là ngon nhất. Phải biết bảo quản, đừng để hở gió, ẩm mốc.

2. Biết pha chế: 

a. Trà cụ: Bình và tách trà bằng đất nung hay sứ, không dùng kim loại và thủy tinh, gồm có: Bình, tách (một chén lớn và các chén nhỏ) thìa gỗ hay tre để lấy trà, khay trà (thêm trà thuyền), bình đựng trà. Tất cả đều phải sạch sẽ (nhưng không rửa bằng xà phòng) bày sẵn ở trên bàn. Ấm trà được mở nắp lật ngửa trên bàn hay trên dĩa để không bị dơ.

b. Tự mình pha chế trà: Khác với uống rượu có người hầu rượu, đối với trà thì tự mình sắp đặt bình tách, tự mình pha trà. Điều này nói lên cái lý khắc kỷ vô ngã, không kiêu kỳ cao sang, làm cho trà và tâm mình trở nên thanh khiết. Mỗi động tác chuẩn bị đều được kiểm soát, tỉnh thức và nhẹ nhàng.

c. Lấy nước sôi đổ vào bình trà và các tách trà cho nóng đều, xong đổ nước ra (thở vào thở ra 3 hơi).

d. Lấy thìa gỗ xúc trà bỏ vào bình, lấy nước sôi đổ vào chút ít để rửa trà và đổ ra ngay khi trà chưa kịp ngấm.

e. Rót nước sôi vào (nước khoảng 90o) nhẹ nhàng đậy nắp lại (thở 3 hơi).

Nếu pha với nước sôi chưa đủ độ (80o) thì hương trà chưa bốc. Nước nóng già quá thì hương bốc mạnh nhưng không bền, không có hậu; nấu vừa sôi lấy xuống ngay, sẽ nguội bớt còn khoảng 90o-93o là tốt.

g. Rót trà khoảng 2/3 bình ra chén lớn, chừa lại 1/3 để làm nước cốt dùng cho lần hai. Rót trà từ chén lớn ra chén nhỏ (thở 3 hơi). Nâng tách trà lên thưởng thức hoặc mời khách. Một ấm trà không nên pha quá hai lần.

3. Thời gian và không gian:

Uống trà vào lúc nào ở đâu? Người xưa nói: “Bán dạ tam bôi tửu, bình minh nhất trản trà” (Đêm về ba cốc rượu, sáng sớm một chén trà). Vậy, vào buổi sáng trước khi đi làm, thưởng thức một bình trà rất sảng khoái. Buổi chiều sau khi làm việc, thanh thản uống một hai chén trà cũng tốt. Vấn đề nơi chốn thì trong phòng hay ngoài sân, trong vườn đều tốt, chỉ cần sạch sẽ thoáng mát và yên tĩnh.

4. Tâm trạng:

Uống trà lúc tâm tư rối bời, lo lắng, sợ sệt hay hưng phấn, náo nhiệt đều không đúng. Tâm lý phải trầm ổn, thư thái và tỉnh thức. Sự cảm nhận hương vị một tách trà liên quan rất chặt chẽ với tâm trạng. Thiền sư Nhất Hạnh có bài kệ uống trà rất hay:

Chén trà trong hai tay,
Chánh niệm nâng tròn đầy,
Thân và tâm an trú,
Bây giờ và ở đây.

Một cảm xúc trọn vẹn là cảm xúc toàn diện thống nhất giữa tâm thân và hoàn cảnh. Một giây phút ngưng đọng vắng mặt mọi tư duy, đối chiếu, phân biệt, thất tình, lục dục… Một cảm giác siêu thoát có tác dụng nuôi dưỡng thân tâm. Hoặc như bài thơ của thi sĩ Quảng Từ Vân:

Hương trà quyện cả non sông,
Nước trong xanh biếc thấy dòng tử sinh, 
Không thời gian gánh nghĩa tình, 
Mây qua trăng tỏ thấy mình còn đây. 

Một cái nhìn trọn vẹn là một cái nhìn thấy rõ các mối quan hệ của tách trà với con người, vũ trụ, thiên nhiên, uống trà như uống cả vũ trụ.

Tuy nhiên, trong một hoàn cảnh đặc biệt, tâm trạng não nề, trà cũng làm cho người ta say như rượu: 

Vị trà pha nước mắt,
Tỏa mùi hương quanh đây,
Bạn bè giờ xa khuất,
Quê hương như bóng mây,
Cồn cào trong gan ruột,
Chén trà làm ta say.
(Mạc Đình Phương)

Trà, vừa có tác dụng thư giãn, thanh tĩnh tâm vừa có tác dụng làm vơi đi nỗi buồn đè nặng lên tâm tư của con người.

5. Bạn bè đối ẩm:

Nếu có bạn bè thì phải là bạn đồng cảm, đồng điệu có thể chia sẻ với nhau những vấn đề riêng tư mà không còn sự tự vệ nào. Khi đông người thưởng thức thì cần có người phục vụ, phải là người được tập luyện, tránh thô kệch, vụng về làm mất đi nhã hứng thưởng thức trà.

Trong đời sống hiện đại, con người phải đối mặt với tốc độ tăng trưởng về mọi mặt của xã hội. Sự đấu tranh, cạnh tranh sẽ tạo nên những áp lực, nhiều căng thẳng làm mất thăng bằng tâm sinh lý đưa đến bệnh tật, stress. Tìm cho mình cơ hội để thư giãn tinh thần là điều cần thiết. Thưởng thức trà là cơ hội trong tầm tay của mọi người.

Qua thưởng thức trà, như là một nghệ thuật thư giãn, sẽ đưa đến cho ta một sự hưởng thụ nhẹ nhàng, thú vui thanh nhã, làm quân bình đời sống tinh thần và sinh hoạt đời thường, nâng cao chất lượng và ý nghĩa sống cho con người. Được vậy, ngày nào cũng là xuân như Mãn Giác thiền sư: 

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước một cành mai

Thích Viên Giác 
(Giác Ngộ xuân Mậu Tý)

NGUỒN AN VUI LÂU DÀI
HT. Thích Thanh Từ

Tất cả chúng ta ai cũng mong muốn có được nguồn an vui lâu dài. Đời sống an vui mới có hạnh phúc, con người mới thảnh thơi nhàn hạ. Nhưng nếu chúng ta không biết thế nào là an vui lâu dài, thế nào là an vui tạm bợ thì chỉ hưởng được cái vui tạm bợ thôi, không bao giờ thấy được nguồn an vui lâu dài. 

Bây giờ tìm vui trong đạo Phật là thế nào? Phật dạy người tu có nhiều thứ vui, nhưng ở đây tôi nói giản lược hai thứ thôi. Thứ nhất là vui trong sanh tử, thứ hai là vui trong vĩnh cửu, nghĩa là thoát ly sanh tử. Vui trong sanh tử là vui thế nào? Với cái nhìn của Phật, Ngài thấy trong vòng luân hồi sanh tử có sáu đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, a-tu-la, trời. Ba đường khổ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ba đường lành là người, a-tu-la, trời. Người là vui bậc hạ, a-tu-la vui bậc trung, trời vui bậc thượng. Cho nên ai tu nhân đi theo ba đường này là tìm vui trong lục đạo. 

Khi quy y Tam bảo, kết quả thế này: “Quy y Phật khỏi đọa địa ngục, qui y Pháp khỏi đọa ngạ quỷ, quy y Tăng khỏi đọa súc sanh”. Đó là chúng ta tìm ra một lối để khỏi đọa ba đường khổ địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Muốn ra khỏi ba đường khổ đó không gì hơn là hướng về Phật, hướng về Pháp, hướng về Tăng. Nhưng muốn được làm người, Phật dạy phải giữ gìn năm giới cấm. Giữ năm giới là tư cách một con người tốt, con người sống vui tươi. 

Phật chế giới cấm là vì lợi ích của chúng ta, chớ không phải của Ngài. Đức Phật là Bậc Toàn giác, tâm hoàn toàn thanh tịnh, thoát khỏi ba cõi đâu cần phải giữ giới làm gì. Phật tử giữ giới không giết hại, không trộm cướp thì khỏi ở tù. Không tà dâm thì gia đình được hạnh phúc. Không dối gạt người thì mọi người tin tưởng, quý trọng mình. Không uống rượu say thì trí tuệ thông minh sáng suốt, được mọi người kính nể. Như vậy vì tư cách của mình, sống xứng đáng là một con người nên chúng ta phải giữ năm giới cấm. Giữ được năm giới thì bản thân mình bình an, láng giềng cũng bình an. Đó là cách tu để đem lại sự an vui cho bản thân, gia đình và xã hội.

Hiện tại Phật tử giữ tròn năm giới thì khi sắp ra đi có sợ không? Thật ra nếu chúng ta giữ tròn năm giới thì khi ra đi không có gì phải sợ. Tại sao? Vì giữ giới không sát sanh, đời sau sanh ra tuổi thọ dài lâu. Giữ giới không trộm cướp, đời sau sanh ra có nhiều của cải, không bị hao mất. Giữ giới không tà dâm, đời sau sanh ra gia đình đầm ấm vui tươi, bản thân được đẹp đẽ nữa. Giữ giới không nói dối, đời sau sanh ra nói năng lưu loát, ai nghe cũng tin quý. Giữ giới không uống rượu, đời sau sanh ra trí tuệ sáng suốt. Năm giới này giữ đủ, khi chết rồi sanh trở lại được làm người rất tốt đẹp, rất hoàn hảo. Đó là kế tìm an vui lâu dài. Nhưng lâu dài này chỉ là lâu dài trong cuộc sanh tử, theo ba đường lành. 

Bây giờ nói đến cái vui siêu thoát hơn, vui mãi mãi, vui vĩnh viễn, không bao giờ khổ. Tiến lên chỗ này hơi khó một chút, nhưng ai khéo tu vẫn có thể tiến được. Nhà Phật nói vui ra khỏi sanh tử là cái vui siêu thoát mà người đời ít ai biết đến. Trước khi nói cái vui đó, tôi xin hỏi “Tất cả quý vị thấy thân này phải thật là mình không?”. Không. Nếu không thật, có ai bẻ ngón tay mình nổi giận không? Điều này thật khó nói.

Nhà Phật phân tích thân này do bốn thứ đất, nước, gió, lửa hợp lại thành. Tuy nó có hình tướng, có bao nhiêu thứ tế bào nhưng thật ra cũng không ngoài bốn thứ đất, nước, gió, lửa. Chất cứng trong người là đất, chất ướt là nước, thở ra thở vào động là gió, hơi ấm là lửa. Trong bốn thứ không thể thiếu thứ nào hết, nếu thiếu một thứ thì chết ngay. Thân này đã do bốn thứ hợp thành, khi đủ duyên nó còn, thiếu duyên nó hoại. Còn và hoại là theo duyên chớ không phải quyền của chúng ta. Có ai muốn thân này hoại đâu, nhưng hết duyên nó phải hoại. Như vậy chúng ta sống chỉ bằng sự vay mượn. 

Thế thì quý vị định nghĩa hạnh phúc của thân này là gì? Mượn vô tốt trả lại dễ dàng, đó là hạnh phúc. Nếu trả lại trục trặc thì chở vô bệnh viện liền. Rõ ràng có cái gì là thật mình đâu. Nếu thật thì không mượn, đã mượn thì không thật. Thế mà người thế gian không hiểu, cứ ngỡ thân này là thật, không ngờ chúng ta đang vay mượn để tồn tại trong từng phút giây. Khi sự vay mượn đó dừng, tất cả chúng ta phải ra đi. Cho nên hạnh phúc của cuộc đời như người ta thường mơ ước chỉ là sự tưởng tượng mà thôi. Nếu nói thẳng hạnh phúc của cuộc đời là mượn vô tốt, trả ra dễ dàng. 

Thân này không thật, đến tâm có thật không? Ở đây tôi chỉ nói hai thứ tâm. Một là tâm tạm bợ giả dối, hai là tâm chân thật, danh từ chuyên môn là vọng tâm và chân tâm. Tất cả chúng ta đều có hai thứ tâm, nhưng mình chỉ biết vọng tâm sanh diệt, còn tâm chân thật thì quên mất tiêu. Bởi vậy trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật nói ví dụ, có anh nhà nghèo đi xin ăn gặp người bạn giàu. Sau khi tiệc rượu say sưa rồi, anh bạn giàu lấy một hòn ngọc nhét trong túi áo anh nhà nghèo, nghĩ rằng qua cơn say, anh ta sờ vào túi thấy hòn ngọc, đem đi bán sẽ được giàu sang, hết một kiếp nghèo. Anh bạn nghèo hết say, không thấy chủ nhà cũng từ giã đi luôn và tiếp tục lang thang ăn mày nữa. Qua một thời gian khá dài, anh nhà giàu bất chợt gặp lại người bạn cũ, thấy vẫn đi ăn mày, tức quá anh hỏi: “Trước tôi đã tặng cho anh viên ngọc nhét trong túi áo, sao tới giờ vẫn còn lang thang vậy?”. Nghe thế, anh nhà nghèo mò vô túi được viên ngọc, lấy ra xài, từ đó hết nghèo.

Viên ngọc dụ cho cái chân thật, quý như ngọc báu mà mình quên nên cứ sống lang thang theo tâm sanh diệt, tạo nghiệp luân hồi muôn kiếp. Chúng ta cứ luôn luôn đuổi theo buồn thương giận ghét, đời này khổ đời khác khổ, không biết bao giờ hết. Đó là nghiệp luân hồi sanh tử. Muốn ra khỏi nghiệp luân hồi sanh tử chỉ có tu thôi. Tu bằng cách nào? Là dừng hết những tâm sanh diệt, để tâm chân thật hiện ra, chừng đó mới ra khỏi vòng sanh tử nghiệp báo. 

Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa, có bốn câu châm ngôn dạy tu thế này:

Bất lập văn tự,
Giáo ngoại biệt truyền.
Trực chỉ nhân tâm,
Kiến tánh thành Phật. 

Nghĩa là: 

Không lập văn tự,
Truyền  ngoài giáo lý. 
Chỉ thẳng tâm người, 
Thấy tánh thành Phật.

Ngài không nói Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền gì hết. Như vậy con đường của Ngài thế nào? Ở đây Ngài chỉ thẳng một con đường để ra khỏi sanh tử, chấm dứt mọi khổ đau. Giải thoát sanh tử là nguồn an vui vĩnh cửu, không còn phiền lụy nữa. Đó là con đường đốn giáo hay nói cách khác là con đường Thiền tông. 

Con đường Thiền tông được truyền từ Tổ Ca Diếp dài xuống mãi cho tới Tổ Đạt Ma. Đó là chư Tổ ở Ấn Độ. Đến Tổ Đạt Ma, Thiền tông được truyền sang Trung Hoa, rồi tới Việt Nam. Chư Tổ ở Việt Nam nhận được yếu chỉ tu hành, các ngài cũng ngộ đạo, cũng được làm Tổ. Thế nên con đường thiền này rất thiết yếu.

Lâu nay chúng ta mê lầm nhận cái hư ảo là tâm mình thật. Từ nhận lầm nên cứ theo nó tạo nghiệp. Nó buồn, nó thương, nó ghét, nó giận, đủ thứ chuyện để tạo nghiệp. Tạo nghiệp thì đi trong luân hồi sanh tử. Bây giờ quay lại tìm xem nó ở đâu, có thật hay không? Quả tang nó mất tăm mất tích, tức là không thật, không thật thì có gì đâu phải an. Nhà thiền sau này dùng từ “Phản quan tự kỷ”, tức xem xét lại chính tâm mình. Tìm là chiếu soi lại, xem tâm bất an đang chạy đi đâu? Quay lại tìm tức là xem xét lại chính mình. Khi xem xét lại thì nó mất. 

Chúng ta vì mê lầm chấp thân hư giả làm thân thật, chấp tâm hư giả làm tâm thật của chính mình. Trọn cuộc đời đi trong mê lầm, rồi tạo nghiệp hư giả, sanh tử không cùng. Bây giờ tu theo Phật là phải trở lại, phải thấy đúng như thật thân này hư giả, tâm vọng tưởng không thật. Phật thường nói thân tạm bợ vô thường, duyên hợp hư giả mà chúng ta thấy thân này thật nên quý nó, khổ vì nó. 

Phật thấy rõ được lẽ thật nên Ngài là Bậc Giác ngộ. Còn chúng ta thấy mê lầm nên làm chúng sanh hoài. Vì bảo vệ thân tâm hư giả này mà con người tranh giành với nhau, rốt cuộc cả đời đau khổ dồn dập. Người biết thân hư giả, tâm hư giả không thật là tiến được bao nhiêu bước? Nếu ai thật sự thấy thân này rõ ràng hư giả tạm bợ, sống mượn nó để làm những điều tốt đẹp, ích lợi cho đời thì được. Dùng tâm hư giả để phương tiện giúp đỡ người thì được. Ngược lại nếu ai bảo vệ nó vì tưởng nó là mình thật, là chân lý thì sai lầm.

Chúng ta tu là cốt giác ngộ. Một khi tâm lăng xăng là hư dối không thật lặng rồi, tâm chân thật hằng ở bên mình. Nhưng vì chúng ta bỏ quên nó, cứ chạy theo cái giả dối nên khổ. Vì vậy Phật nói: “Chúng sanh mê lầm chìm trong sanh tử khổ đau”. Bây giờ trở về với tâm thật thì hết khổ đau. Sống với tâm chân thật, không còn giành hơn thua, phải quấy thì ngay đời này hết khổ rồi. Mai sau khi bỏ thân này được giải thoát sanh tử, đó là vui vĩnh cửu, chớ không phải vui thường. 

Phật dạy chúng ta tu là tìm đến chỗ vui vĩnh cửu, đó mới thật là người biết đạo, biết cầu giải thoát. Cho nên tìm về với tâm chân thật là  gốc của sự tu.

HT. Thích Thanh Từ 

QUỐC LỄ CẦU AN CHÚC THỌ ĐẦU NĂM
TRIỀU ĐẠI NHÀ LÝ
Thích Phước Đạt

Kể từ khi đất nước ta bước sang thời kỳ độc lập tự chủ hoàn toàn, đến triều đại nhà Lý thì Phật giáo đã tự khẳng định vai trò của  mình không chỉ trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng mà còn tham gia tích cực trong việc phục hưng mọi giá trị văn hóa của dân tộc.

Ta thấy, một trong những việc làm có ý nghĩa và giá trị thiết thực đối với dân chúng là tổ chức các lễ hội cầu an mang tính quốc gia vào các dịp đầu năm do Phật giáo tổ chức dưới sự bảo trợ của triều đình. 

Một mặt Nhà nước kết hợp với Phật giáo tổng kết các thành tựu của quốc gia trên mọi lĩnh vực, tuyên dương công đức của cá nhân và tập thể đã đóng góp cho nước nhà, cho dân tộc. 

Mặt khác, Nhà nước cũng muốn phô diễn và thị uy với các sứ giả lân bang biết về sức mạnh của Đại Việt. Qua đó, nhà vua cũng tuyên cáo những chủ trương và đường hướng hoạt động của nước nhà như là lời ước nguyện của dân tộc trước thời khắc trọng điểm của một năm mới. 

Theo sử sách ghi nhận, trong vòng gần 200 năm trị vì, nhà Lý đã tổ chức rất nhiều lễ hội kỳ an đầu năm cho toàn thể dân chúng Đại Việt. Nhưng nổi bật hơn cả, vào thời kỳ vua Lý Nhân Tông, mà chính sử Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử lược ghi về lễ kỳ an - hội đèn Quảng Chiếu. 

Cụ thể Đại Việt sử lược 2 tờ 20b8 và 22a4-5 ghi vào năm Canh Dần (1110): “Mùa Xuân tháng Giêng, tổ chức hội đèn Quảng Chiếu ở ngoài cửa Đại Hưng” và vào năm Bính Thân (1116) lại ghi “Mùa Xuân tháng Giêng tổ chức hội đèn Quảng Chiếu ở ngoài cửa Đại Hưng, chế tạo nhà sư bằng gỗ cột vào đánh chuông”.

Còn Đại Việt sử ký toàn thư 3 tờ 20b5 và tờ 24a9-b1 ghi vào năm Canh Tý (1120) “Mùa Xuân, tháng Hai, mở hội đèn Quảng Chiếu” và vào năm Bính Ngọ (1126) “Mùa Xuân tháng Giêng, mở hội đèn Quảng Chiếu bảy ngày đêm. Tha người có tội ở phủ Đô Hộ, xuống chiếu cho sứ thần của Chiêm Thành xem”.

Chính sử chỉ ghi như vậy thôi, chẳng có thêm thông tin gì cả. Nhưng may mắn thay, tư liệu đương thời là bài  Đại Việt đương gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh tháp bi của Thượng thư Nguyễn Công Bật, (Thơ văn Lý Trần, tập 1, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977) thì lại mô tả khá chi tiết về lễ kỳ an - hội đèn Quảng Chiếu để chúng ta nhận định về quy mô tổ chức, tính hoành tráng và ý nghĩa sự kiện trọng đại này trong đời sống văn hóa dân tộc.

Thực tế, dưới triều đại vua Lý Nhân Tông, thì cả dân tộc đang bước vào thời kỳ phục hưng mọi giá trị văn hóa sau hơn 1.000 năm bị phong kiến Trung Hoa xâm lược. Phật giáo trở thành quốc giáo, là hệ tư tưởng để thực thi các nhiệm vụ trọng đại mà nhu cầu lịch sử dân tộc đặt ra. 

Thế nên Lý Nhân Tông trong vai trò lãnh tụ tối cao của quốc gia, một Phật tử thuần thành đã đề xuất với Thiền sư Mãn Giác rằng “Bậc chí nhân thị hiện, tất lo việc cứu nước, cứu người, không hạnh nào chẳng đủ, không việc gì chẳng làm, không chỉ có sức định tuệ, mà cũng có công phò tá”. 

Và như thế, mọi người dân Phật tử Đại Việt không ngừng tu tập giới định tuệ mà còn phải tích cực tham gia đóng góp cho công cuộc tái thiết nước nhà, xây dựng quê hương. Vào thời kỳ này, ta thấy việc xây chùa, dựng tượng, đúc chuông được diễn ra khắp mọi nơi như biểu thị thành quả của đất nước trên các lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế. Lễ kỳ an chúc thọ hàng năm của triều đình trở thành lễ kỳ nguyện cả dân tộc “trấn giữ kinh đô của nhà vua” (trụ tích trấn vương kỳ), là nơi thể hiện khát vọng của cả dân tộc mà sử sách ghi “cầu phúc thọ”.

Văn bia Sùng Thiện Diên Linh mà Thượng thư Nguyễn Công Bật ghi nhận mục đích của việc xây chùa “để mồng một hàng tháng, để mùa Xuân hàng năm, nhà vua mình ngồi xe ngọc, đến mở tiệc chay, hương hoa bày lễ cầu an, bồn chậu để tắm Phật. Trang sức tinh thành cho năm chúng, hoặc hở vai tiến thoái nhịp nhàng, tạo đội ngũ thiên vương ở bốn phương, nâng khí cụ bồi hồi nhảy múa, tinh cần chẳng trễ, kính phụng nào ngơi. 

Vì vậy mà huyền tạo linh thông đều phù hộ. Đó là bệ hạ dựng chùa để cầu phúc thọ”. Rõ ràng việc kỳ an đầu năm, đầu tháng mà nhà vua xuống chiếu tổ chức để thành lệ hàng năm không còn ý nghĩa cho chỉ riêng mình vua và hoàng tộc mà cả dân tộc, của trăm họ muôn dân đang sống trong biên cương lãnh thổ Đại Việt bấy giờ. 

Và ta chẳng ngạc nhiên khi các thư tịch văn bia liên hệ đến việc xây dựng chùa chiền đều xác định rõ quan điểm nhất quán là, việc tạo dựng chùa chiền, tổ chức lễ hội kỳ an là nhằm thiết lập, thực thi ý nguyện xây dựng và phát triển dân tộc Đại Việt trở nên cường thịnh, đạo pháp được trường tồn. 

Cho nên, trong bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” do Chu Văn Thường viết vào khoảng năm 1100, đã không ngần ngại ghi vào “Nhóm người dựng chùa là để mãi mãi giữ lấy nước nhà” (mộ tu tượng pháp, vĩnh bảo bang gia).

Trong ý nghĩa đó, sự chuẩn bị lễ kỳ an - hội đèn Quảng Chiếu mà chính sử ghi nhận được tổ chức hoành tráng. Nếu không có sự bảo trợ của nhà nước phong kiến thì giới Phật giáo cũng không thể thực thi và hoàn thành được. Một đại lễ kỳ an chúc thọ gắn liền lễ hội đèn Quảng Chiếu 7 ngày đêm, cả hoàng gia và dân chúng Đại Việt được sống thế giới Phật quốc an lành. Tất cả đã nói lên tinh thần đoàn kết dân tộc, không phân biệt mọi thành phần, tầng lớp khác nhau trong xã hội, cùng nhau hướng nguyện xây dựng cuộc sống thật thanh bình, quốc gia thật vững bền. 

Văn bia Sùng Thiện Diên Linh tả như sau: “Dựng đài cao Quảng Chiếu, nhắm sân trước cửa Đoan Môn, trong nêu một cột, ngoài đặt bảy tầng, uốn mình rồng hình cung hiện ra mà đỡ lấy sen vàng, may lồng nhiễu mà che cho lửa nến, giấu máy nhỏ dưới đất, xoay tròn như bánh xe, tỏa ánh sáng giữa trời như mặt trời rực rỡ, lại có thánh báo nghiêm trang rõ ràng. Đền vàng điện báu nhờ thành ý mà dựng nên, đặt ngôi tượng Đức Phật cao vót, dáng vẻ văn thiên, hình thô vẻ lạ.

Lại có hai tòa lầu hoa trong treo chuông vàng, khắc hình nhà sư, mình đắp y phước điền, vặn máy ngầm giơ vồ chuông lên đánh… Lại có tháp thất bảo rực rỡ bày xếp một hàng, chính giữa đặt một ngọn núi vàng, đặt tượng lành Đa Bảo Như Lai, bảy chân hình xe pháp mấy tầng, mái hiên lấp lánh ánh mặt trời buổi sáng, mái ngói lung linh vẻ mây biếc ban chiều. 

Thứ đến là hai tòa Bạch Ngân. Bên trái đặt chân dung A Di Đà, bên phải dựng tượng Đức Diệu Sắc Thân, chiều cao mở ra thế khỏe, vẻ đẹp phô rõ mái cong, long lanh ngỡ tuyết đang tan, rực rỡ át trăng thu vằng vặc. 

Thứ nữa là hai tòa Điểu Văn. Bên trái đặt từ nhang tướng của Như Lai Quảng Bác Thân, bên phải thờ diệu tướng của Như Lai Ly Bố Úy, gác lớn đã hoàn thành, độ cao lại xây dựng, nóc che ngói quý, vách chạm hình rồng. 

Lại thứ nữa có hai tòa Tượng Xỉ. Bên tả đặt hình Đức Cam Lồ Vương, bên hữu thờ tượng đẹp Đức Bảo Thắng Phật, chất quý gọt mài, cột hiên cao dựng, các cạnh khám ngọc đẹp… 

Lại tả chín tầng trời bằng năm sắc, khắc bốn cột bằng cặp đối treo, hai bên nghìn đèn nhấp nháy, bốn mặt rực rỡ vàng son. Dốc lòng vui của thiên hạ, đêm trở thành ngày, thỏa lòng mắt của thế gian, già đổi nên trẻ. Ấy là công lao xây dựng thắng duyên của bệ hạ”.

Với cách mô tả như trên, ta thấy lễ kỳ an - hội đèn Quảng Chiếu thật hoành tráng, nó được thực thi theo mô hình thiết kế được rút ra từ trong các kinh điển nhà Phật mang một giá trị tâm linh, với mục đích nguyện cầu âm siêu dương thái. 

Hay nói cách khác đó là sự kết nối yêu thương của bao thế hệ cha ông và con cháu Đại Việt xưa nay mà nhà sư thường khấn nguyện trong các buổi lễ kỳ an với tâm thành mong muốn “quốc thái dân an”. 

Điểm nhấn của mô hình lễ hội này là ngôi tháp 7 tầng hùng vĩ với sự trang hoàng hết sức cầu kỳ bằng châu ngọc, được thiết kế với các thiết bị đặt ngầm bên dưới để có thể quay chiếc tháp 7 tầng. Điều đáng nói là bên trong ngôi tháp tôn trí tượng Đa Bảo Như Lai trên ngọn núi vàng. Hai bên tòa Bạch Ngân đặt tượng A Di Đà và Đức Diệu Sắc Thân. Thứ nữa là hai tòa Điểu Văn đặt hai tượng Đức Như Lai Quảng Bác Thân và Ly Bố Úy. Và cuối cùng là hai tòa Tượng Xỉ thờ Đức Cam Lồ Vương và Bảo Thắng. Bảy vị Như Lai này tuy thuộc hệ Mật giáo, nhưng lại được đề cập tới rất giới hạn như một hệ thống bảy Đức Như Lai. 

Theo các bản kinh như Du già tập yếu cứu A Nan nghi quỷ, Du già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi kinh và Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ Đà la ni thuộc Đại tạng kinh thì 7 vị Như Lai này có chung một chức năng độ trì được thực thi trong các nghi thức chẩn tế, bạt độ, cúng ngạ quỷ của Phật giáo. Và trong một lễ kỳ an - hội đèn Quảng Chiếu vui như lễ hội dân tộc nhằm “dốc hết hòa vui của thiên hạ, để đêm trở thành ngày” không thể không có mô hình “thất bảo Như Lai” vừa mang tính hoành tráng vừa mang giá trị tâm linh kết nối yêu thương các loài, các thế hệ với quan điểm đầy chất nhân văn “âm siêu dương thái”. 

Rõ ràng việc thờ tự và đỉnh lễ 7 vị Phật này trong lễ hội kỳ an trọng đại đầu năm như thế này là có lý do của nó. Bản kinh Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ đà la ni kể rằng có một con quỷ đói hiện ra trước mặt A Nan và báo rằng ba ngày nữa là chết. Trước cái cảnh bi thảm như thế, A Nan đã hỏi ngạ quỷ ấy làm sao thì khỏi chết. Quỷ bảo rằng phải bố thí cho nó. A Nan đến thỉnh cầu Phật và được Ngài chỉ cho nghi thức cúng quỷ đói. Nhờ việc bố thí đó mà A Nan đã không những thoát chết mà còn trường thọ. 

Đúng như bản kinh chép “Ban thức ăn cho quỷ đói thì liền có thể đầy đủ được vô lượng công đức, giống như công đức cúng dường cho trăm ngàn ức Như Lai không sai khác. Được thọ mạng lâu dài, tăng thêm sức lực và vẻ đẹp, căn lành đầy đủ. Hết thảy A tu la, Dạ xoa, La sát, các ác quỷ thần không dám xâm hại, lại thành tựu được vô lượng công đức thọ mạng”. 

Cho nên, trong một thời khắc quan trọng của ngày đầu năm, hẳn nhiên người ta càng mong muốn được Phật Thánh độ trì cho mình và mọi người được sống lâu trường thọ, sắc thân thêm tươi đẹp. Xem ra từ một nghi thức cúng cho quỷ đói, nó đã được đưa vào trong nghi lễ cầu an, cũng như trong các lễ hội dân tộc, phục vụ cho người còn sống. Tại đây ta dễ dàng hiểu tại sao một lễ hội đèn Quảng Chiếu rực sáng suốt đêm như ánh mặt trời chiếu ban ngày, nhộn nhịp và tưng bừng như thế lại có thêm nghi thức cúng quỷ đói của Mật giáo. Bởi vì có gì hạnh phúc hơn bằng khi con người được Phật độ trì sống lâu, mạnh khỏe và sắc đẹp thêm bội phần. 

Cũng vì lẽ này mà trong tâm thức người Việt Nam kể từ đó, bất cứ sự kỳ nguyện nào, nghi thức cúng cấp nào phục vụ cho người sống đều kèm theo nghi cúng cô hồn để nguyện cầu tăng phước và tăng thọ. 

Hơn nữa, trong xu hướng đất nước phát triển thịnh vượng thì đời sống văn hóa nước Đại Việt càng có nhiều cơ hội để thăng hoa từ văn hóa vật chất cho đến văn hóa tinh thần. Những lễ hội văn hóa dân tộc như lễ cầu an - hội đèn Quảng Chiếu mang âm hưởng màu sắc chủ đạo Phật giáo thường được tổ chức trọng thể dưới sự bảo trợ của chính quyền nhà Lý là một dịp dân chúng nước Đại Việt tiếp xúc và thông cảm hòa hợp giữa các thành phần trong xã hội. 

Bởi vì, dù là ai, hoàng tộc hay bần nông khi vào cửa Phật đều là con nhà Phật cả, nghĩa là con một nước theo nghĩa “đất vua - chùa làng - phong cảnh Bụt”. Trên hết, là sự biểu đạt tinh thần đoàn kết toàn dân, sự yêu thương, độ lượng khoan dung từ triết lý từ bi hỷ xả của đạo Phật được vận dụng trong chính sách chủ trương của Nhà nước.

Do đó, cứ vào dịp lễ hội nào, nhất là lễ kỳ an đầu năm theo thông lệ thì vua đều xuống chiếu phóng thích tha tội chết hoặc tha cho những tội phạm trong nước như Đại Việt sử ký toàn thư từng ghi. Nó được thực thi bởi những vị vua Phật tử đời Lý, lấy nhân từ làm gốc, đến nỗi sau này sử thần Lê Văn Hưu dưới cái nhìn Nho học mà phê bình khá gay gắt trong Đại Việt sử ký toàn thư về chính sách khoan dung độ lượng nhà Lý: “Nhân Tông thường nhân việc mở hội Phật mà tha cho người có tội, là không phải lẽ, nhưng mà còn mượn tiếng hội Phật. Còn như vua Thần Tông thì không có việc gì mà cũng tha bổng. Phàm người có tội phạm pháp, có kẻ nặng người nhẹ, năm bậc hình phạt, có trên có dưới, sao lại tha bổng được? Nếu nhất loạt tha cả thì kẻ tiểu nhân may mà được khỏi tội, đó không phải là phúc của người quân tử. Cho nên thời xưa nói về đạo trị nước, tuy nói rằng không thể không xá tội, nhưng cũng cho rằng xá tội là có hại. Tha lỗi thì được, tha tội thì không được. Kinh Dịch nói ‘Tha lỗi, giảm tội’. Kinh Thư nói ‘Lầm lỗi thì tha cho, cố phạm thì trị tội’. Thế là phải”. 

Chưa dừng ở đó, lễ hội kỳ an -đèn Quảng Chiếu mà sử sách và văn bia Sùng Thiện Diên Linh ghi nhận là một dịp không chỉ dân ta vui vẻ mừng năm mới đến mà còn là dịp để biểu dương sức mạnh cả dân tộc đối với các nước lân bang. Điều đó chứng tỏ Phật giáo không chỉ tham gia vai trò cố vấn chính trị mà còn có tham gia phò tá đóng góp công sức trên các lĩnh vực khác của đời sống dân chúng Đại Việt. 

Ta thấy chính sử ghi có 4 lần vua Lý Nhân Tông tổ chức lễ hội, trong đó có một lần xuống chiếu mời sứ thần Chiêm Thành tham dự. Văn bia Sùng Thiện Diên Linh diễn tả lễ hội Quảng Chiếu cực kỳ công phu để lại dấu ấn lớn trong lòng dân Đại Việt. Nó như biểu dương sức mạnh cả dân tộc đang vươn hình hài lớn dậy để bước sang thời kỳ hoàng kim, thắp sáng hàng nghìn ngọn đèn như tỏ ý kinh Thăng Long từ đây chấm dứt đêm dài thời trung cổ. Sự thật lễ hội kỳ an - đèn Quảng Chiếu đã minh chứng tinh thần sức sống Đại Việt “Khuynh thiên hạ chi ung hòa, dạ vi trú thưởng” (dốc lòng hòa vui thiên hạ thì đêm mới trở thành ngày) như tinh thần văn bia đề cập.

Hay nói cách khác, dân tộc Đại Việt hằng nguyện tiếng kinh cầu “Nguyện ngày an lành, đêm an lành. Đêm ngày sáu thời đều an lành. Tất cả các thời đều an lành. Xin nguyện Từ bi thường gia hộ” như kinh điển từng chỉ dạy. Đây là một thái độ sống của người dân Đại Việt luôn yêu chuộng hòa bình, đoàn kết, tương thân, tương ái. Cho nên trong 50 năm cầm quyền, vua Lý Nhân Tông đã hơn 18 lần làm chùa và tổ chức lễ hội. Cứ mỗi lần xây xong, nhân dân cùng nhà nước tự nguyện cùng nhau tổ chức lễ khánh tạ kỳ an, dân chúng có thêm một trung tâm phục vụ tín ngưỡng, văn hóa giáo dục đào tạo ra những mẫu người yêu nước thương dân, giàu lòng phụng đạo hơn bao giờ hết. 

Trên hết, chùa là nơi là thực thi khát vọng bình an nội tâm, là cơ sở toàn dân trấn giữ đế đô vương triều, bảo vệ chủ quyền đất nước mà Phạm Sư Mạnh đã ca ngợi trong văn bia tháp Báo Thiên ở Thăng Long:

“Trấn áp Đông Tây giữ đế đô, 
Ngang nhiên ngọn tháp vút lên nhô
Non sông vững chãi tay trời chống
Nay xửa khôn tiêu đất cắm vồ”

Vì thế, mỗi người dân ai cũng hưởng được trọn phúc lành nhiệm mầu từ ánh sáng từ bi và trí tuệ của Phật. Sự kỳ nguyện đầu xuân hàng năm của người con Phật, nó không chỉ trở thành lễ hội tín ngưỡng nữa mà là lễ hội văn hóa dân tộc tình người, trong ý nghĩa phát huy mọi giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, đúng như văn bia Sùng Thiện Diên Linh ghi: “Hương trầm khói tỏa quanh, Gấm vóc khoe xuân sắc, Phúc lành khắp chúng sinh, Gông cùm và tục ngục, Phá bỏ, đời thanh bình”.

Thích Phước Đạt 
(Giác Ngộ xuân Mậu Tý)

ĐOÁ HOA VÀNG THƠM NGÁT HƯƠNG XUÂN
Trần Quê Hương

Trước thềm Xuân Mậu Tý, chúng tôi mong và tin rằng “Trúc biếc hoa vàng… của Thiền sư Thiền Lão và “Đóa hoa vàng” của Thiền sư Huyền Quang sẽ hội tụ bên nhau trong nắng ấm mùa Xuân quê hương thân yêu tỏa ra ngàn hương hoa sắc để mừng đón mùa Vesak Phật lịch 2552 trong lòng tổ quốc Việt Nam thân thương muôn đời bằng những Đóa hoa vàng mầu nhiệm tuyệt tác long lanh… long lanh!

Nhân tiết mùa Xuân, trời xuân ấm áp lòng người… vua Lý Thái Tông cùng tùy tùng vào núi viếng thăm Thiền Lão Thiền sư. Gặp thiền sư vua hỏi:

- Bạch Hòa thượng, Hòa thượng trụ trì núi này được bao lâu rồi?

Thiền sư nhẹ nhàng đáp lời vua:

Đản trị kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu”

Dịch thơ:

Sống ngày nay biết ngày nay
Còn xuân thu trước ai hay làm gì?

Vua cảm nhận lời đáp của thiền sư lòng vua tràn ngập niềm hạnh phúc. Hàng ngày việc nước việc non vô cùng bề bộn, có nhiều lúc giải quyết không xong, quên ăn bỏ ngủ; vậy mà giờ đây lời đáp của thiền sư như đánh thức cả trời xuân, làm cho lòng người tươi tỉnh như ánh nắng bình minh ngày xuân. Thiền sư đã giúp đã gợi và trao cho nhà vua một phương cách sống với một lập trường kiên định vững vàng của một người làm chủ thiên hạ - Hãy nhìn thẳng vào thực tại và sống với thực tại:

Sống ngày nay biết ngày nay (Đàn trị kim nhật nguyệt). Thiền sư đã đưa nhà vua về với thực tại, hãy sống với thực tại, hãy sống với chính mình. Trong thực tế, có nhiều người đang sống nhưng không chịu sống với thực tại mà thích quay lui về quá khứ rồi vọng tưởng mông lung, sầu mơ tiếc nuối, tự mình làm khổ lòng mình, vì thế ở đây thiền sư nêu bật lên, đánh thức mạnh dòng tâm thức:

Còn xuân thu trước... ai hay làm gì? (Thùy thức cựu xuân thu). Lời thơ nhẹ nhàng như gió xuân, nhưng sức mạnh ý tuởng thì vô cùng uy vũ, có năng lực làm phấn chấn lòng người. Cho nên nhà vua rất cảm khái và hỏi tiếp thiền sư:

- Bạch Hoà thượng, như vậy hàng ngày Hòa thượng làm việc gì?

Và lời đáp của thiền sư như nâng tâm thức của nhà vua hòa nhập vào nắng ấm của mùa Xuân, vào đại thể thiêng liêng của đất trời:

Trúc biếc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân”

Dịch thơ:

Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng trong mây trắng hiện toàn chân.

(TS.Thích Thanh Từ)

Mùa Đông có trúc biếc, mùa Xuân có mai vàng… cho chúng ta thấy khi đứng trước dòng thời gian, hiện tượng sinh diệt thì có mùa Đông, mùa Xuân, mùa Hạ, mùa Thu; và trước cảnh sắc thiên nhiên thì có trúc biếc, có mai vàng và cả cúc trắng hay lan tím nữa… trong nhất thời tưởng chừng như có khác nhưng đối với tâm thể an tịnh, bất sinh bất diệt (trăng trong mây trắng) thì mọi sự mọi vật (Trúc biếc hoa vàng) thoạt nhìn tưởng chừng như có khác đó, đều cũng chỉ là một mà thôi, không hải không khác. 

Và chính điều này, trong nét đẹp thẩm mỹ kỳ diệu của thơ ca… đặc biệt là thơ ca thiền… đã đưa hai nhà thơ bậc nhất trong giới thiền tông hai thời đại Lý Trần, dù cách nhau ba trăm năm vẫn như bên cạnh nhau, không có khoảng cách:

Thiền sư Huyền Quang, qua bài thơ Hoa cúc đã cho chúng ta thấy trong nắng ấm mùa Xuân, trong núi rừng tịch lặng sự hội nhập kỳ diệu đã tỏa hương:

Hoa tại trung đình nhân tại lâu
Phần hương độc tọa tự vong âu
Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh
Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu

Dịch thơ:

“Người ở trên lầu hoa dưới sân
Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông
Hồn nhiên… người với hoa vô biệt
Một đóa hoa vàng chợt nở tung!”

(Nguyễn Lang)

Trước thềm Xuân Mậu Tý, chúng tôi mong và tin rằng “Trúc biếc hoa vàng… của Thiền sư Thiền Lão và “Đóa hoa vàng” của Thiền sư Huyền Quang sẽ hội tụ bên nhau trong nắng ấm mùa Xuân quê hương thân yêu tỏa ra ngàn hương hoa sắc để mừng đón mùa Vesak Phật lịch 2552 trong lòng tổ quốc Việt Nam thân thương muôn đời bằng những Đóa hoa vàng mầu nhiệm tuyệt tác long lanh… long lanh!

TP.HCM, Phù Vân am, Xuân Mậu Tý -2008

Trần Quê Hương 

BƯỚC NHẢY THỜI GIAN
Ngô Khắc Tài

Ta mê ngủ, ngủ nhiều đâu hay nó đã làm cho cuộc đời ta ngắn đi, tâm sẽ rơi vào chỗ mờ tối trở nên ngu si. Hãy tỉnh thức. Thời gian trôi một dòng, trôi không trở lại. Quà tặng của thời gian là dành cho những ai quên nó, có nghĩa là quên chiều dài để vươn tới chiều cao thời gian cũng chính là không gian cao rộng.

I.

Mới có mùng mười tháng Chạp chưa gì con tôi đã kêu - Tết rồi tía ơi. Ngày hai mươi ba lo sửa soạn cúng ông Táo, vừa nghĩ ngợi việc tiền nong không biết mình có bao nhiêu nhuận bút để lo sắm sửa gia đình, lo mối quan hệ bên ngoại, bên nội, bên vợ cần phải có một năm một lần xuân cho vui vẻ, ngặt nỗi giá cả thị trường cứ như con ngựa chạy. 

Mấy thầy tu coi vậy mà sướng không phải lo đám cưới, đám hỏi những việc hiếu hỷ gì hết, các thầy lo việc khác để trả nợ cho đời. Cõi nhân gian, cái gì cũng có hai, riêng cái miệng chỉ một nhỏ xíu lại đẻ ra lắm điều, từ đó còn sinh ra đủ thứ vui buồn. 

Ông con đã tám tuổi, lớn trọng cãi sao mà còn thơ ngây, có xôi chè thôi thì ăn đi, đằng này vừa ăn vừa nhìn quanh ngẫm nghĩ - Tết vui quá hả tía - có mày vui, mà Tết hồi nào còn bảy tám ngày nữa. Bực mình tôi trả lời con để rồi quên đi mình khá vô lý trước con trẻ ngây thơ. Cũng như tôi quên bao thứ khác, trong những đêm cuối năm êm đềm như vậy gió chuyển mùa rì rào, cây mai trước sân nhà không ngủ đang rung theo gió nhẹ chuyển mình nở ra một nụ, hai nụ rồi ba bốn nụ. 

Vì quên nên buổi sáng mở cửa ra cảm thấy bất ngờ nhìn những đóa hoa vàng như đến đúng hẹn. Nay đã lo xong mọi thứ vừa đủ, ăn Tết xong việc gì nữa tính sau, bụng dạ trống trải nên có chỗ để nhìn hoa bâng khuâng ngẫm nghĩ, và trí não sau khi dứt điều vụn vặt mới sáng ra. Hỏi mình hay là hỏi ai, chính xác xuân len lén tìm đến trong lúc nào. Có phải lúc mình đang lo lắng bận rộn đó lại là mùa Xuân. 

Hay đợi đến lúc hoa nở rộ, ngày mùng một, tháng Giêng mới gọi bắt đầu vào xuân. Mùa đến mang ý nghĩa gì, sao nhà thơ Xuân Diệu kêu lên - Xuân đã tới nghĩa là xuân đã qua “đi”. Đến rồi đi cặp hành trình song đôi không tách rời nhau nên một nhà thơ khác đã viết - Ôi đẹp quá mùa Xuân trong mùa Hạ. Ông này viết lạ quá có phải là một vị thiền sư không. Như vậy tâm xuân nằm trong tất cả, trong đất, trong gió, trong bốn mùa. Sao tôi đã không nhận ra, trong khi đứa nhỏ lại nhận ra. 

Điều này nó như xác định - ai là người vui nhất mùa Xuân, có thể chính là nó, tuổi thơ ngây không như người lớn vừa nặng nề với quá khứ, vừa lo lắng cho tương lai mà vẫn chưa biết bao giờ xong việc. Mùa Xuân chỉ tiếp nhận những ai biết vui, bằng lòng với hiện tại. Còn ta hay còn bao nhiêu người khác nữa đợi đến khi hoa nở thẩn thơ tìm tới ngắm nghía rồi ngơ ngác, từ cội hoa như phát ra tiếng nói chê trách - thưa anh đã già.

II.

Đó là lời phát ra từ hoa hay đó là tiếng thì thầm của ai. Kiếp người rồi chỉ hữu hạn so với thời gian một dòng chảy không biết bắt đầu từ lúc nào và kết thúc ở đâu. Rồi thời gian nhập với không gian trở nên vô hạn. Tự nhiên đâm ra thương lấy mình và thương cho người khác. Tỷ như thương cho Văn Cao những năm cuối đời làm bài thơ:

Thời gian qua kẽ tay
Làm úa những chiếc lá
Kỷ niệm rơi như tiếng sỏi …

Rơi mất tăm. Thời gian khép lại màu trắng lạnh lùng rồi tiếp tục mở ra với người khác. Thời gian có màu điều này thật là hý luận. Màu sắc tùy theo con mắt lăng kính người ta, tỷ như có lúc người nhìn nó là màu vàng, lúc nhận ra nó là màu hồng như Đoàn Phú Tứ trong bài thơ Màu thời gian, cùng một lúc thấy “màu thời gian xanh xanh - màu thời gian tím ngắt”. 

Thật ra bản chất thời gian là màu trắng vì màu trắng là tổng hợp của màu sắc (thí nghiệm Newton để 7 màu lên chiếc dĩa quay nhanh nó hóa ra màu trắng). Con số 7 cũng thật là trùng hợp khi Đức Phật nói tâm người chứa những điều lục dục thất tình. Những tham, sâm, si, biện (luận) nghị, kiến, thủ dẫn tới những điều hỷ nộ ái ố. Để rồi mái tóc ai cũng trở nên bạc phơ đó chính là màu thời gian. Thời gian như bóng câu bay qua cửa sổ ngày xưa Tô Đông Pha cũng đã thấy:

Xuân sắc tam phần
Nhị phần trần thổ
Nhất phần lưu thủy
Tế khán lai… (ngó lại càng)

Dựa theo đó ta ngó lại thời gian tính theo. Thường ta nghe sống đến “thất thập cổ lai hy” xưa nay hiếm, ta thử nâng nó lên 80 năm cuộc đời thống kê người còn được điều gì cho mình. Trong 80 năm phải bỏ ra bao nhiêu năm dành cho các khoản lao động, ăn, ngủ, đi chơi, chuyện trò, vệ sinh, yêu đương. 

Ngay chuyện ngủ mỗi ngày mất 8 tiếng là đi đứt 27 năm, đời còn lại 53 năm. Để cho dễ hình dung, một ngày sau khi ngủ còn lại 16 giờ, dành cho 6 giờ kiếm miếng ăn, 2 giờ nấu nướng, 1 giờ tắm rửa vệ sinh, chuyện trò, trang điểm, uống cà phê… 

Sau khi trừ ra các khoản như vậy một ngày ta chỉ có được hai tiếng dành cho riêng ta là đã nhiều. Cuối cùng trong 53 năm ta thử tính ta còn được bao nhiêu năm để ngồi một mình trầm ngâm để hiểu coi mình là ai, chạy đuổi theo ảo ảnh cuối cùng cái thật, cái tâm kia nó là gì. 

Đó là chưa kể khoản yêu đương, cái này thì khoa học đã tính rất là kỹ giùm cho ta, từ lúc phát đến già con người phải bỏ ra khoảng thời gian dành cho ì ạch yêu đương là 4 năm. Kể ra cũng thích thú tuy nhiên phải thấy là nó chiếm quá nhiều thì giờ vô ích trong khi cuộc đời quá ngắn, lại sinh ra nhiều hệ lụy mệt mỏi. Đó cũng là lý do những nhà chủ trương tiết dục phải hạn chế để cuộc đời được dài hơn, dành thời gian đó cho tâm hồn, trí tuệ - nơi chứa niềm vui không dứt cần cho ta hơn.

III.

Nói dông nói dài cốt để hiểu sâu vì sao Đức Phật dạy hai chuyện trọng đại của con người là sống và chết ngầm mang ý nghĩa bên trong thời gian nó dành cho ta rất là ít, sống không hiểu mình là ai tất nhiên chết cũng chẳng nhẹ nhàng.

Ngài cũng đã chỉ ra con ma hôn trầm tức con ma ngủ luôn rình rập lấy đi thời gian của ta. Ta mê ngủ, ngủ nhiều đâu hay nó đã làm cho cuộc đời ta ngắn đi, tâm sẽ rơi vào chỗ mờ tối trở nên ngu si. Hãy tỉnh thức. Thời gian trôi một dòng, trôi không trở lại. Quà tặng của thời gian là dành cho những ai quên nó, có nghĩa là quên chiều dài để vươn tới chiều cao thời gian cũng chính là không gian cao rộng. Một ngày có 24 giờ ta bối rối thấy ngày trôi qua rất nhanh, không nhớ ta đã mất quá nhiều với những việc thừa thãi vô ích. 

Giả sử ta bớt đi những điều thừa thãi vô ích, thời gian như có bước nhảy rút ngày ngắn xuống còn 22 tiếng việc gì sẽ xảy ra ta không đủ thời gian chăng? Không thí dụ có một ngày ngắn ngủi như vậy cuộc sống vẫn đầy đủ vì ta làm chủ được thời gian và đã sống trọn vẹn cùng nó theo hiện tại từng giây phút trôi qua, cũng chẳng thừa mà cũng chẳng thiếu. Chẳng phải có những người tuổi tác đã cao mà tâm hồn vẫn luôn còn trẻ trung đó sao. Đây cũng là bí mật lớn của thời gian.

Ngô Khắc Tài 
(Giác Ngộ xuân Mậu Tý)

Mục Lục Tuyển Tập Xuân
Thư Viện Hoa Sen