XUÂN
HOAN HỶ
HT
Thích Trí Quảng
Kinh
Pháp Hoa lấy pháp làm chủ đề và Kinh Hoa Nghiêm xem Phật
là trọng tâm, từ đó chúng ta kết hợp 2 bộ Kinh này sẽ
hội đủ Phật pháp. Theo tôi, đó là mô hình lý tưởng để
chúng ta nương theo xây dựng cuộc sống tu hành. Trên bước
đường thành đạo, sau nhiều năm thuyết giảng kinh Pháp Hoa,
năm nay tôi khai giảng Kinh Hoa Nghiêm. Do nhân duyên hội ngộ,
thi sĩ Trụ Vũ nghe pháp cảm nhận đuợc và đã đề tặng
bài thơ mà tôi thấy có những lý tưởng liên hệ đến Kinh
Hoa Nghiêm:
Vào
tâm hoan hỉ địa
Thể
hiện nụ cười thơ
Trí
Quảng Thiên Sư độ
Ba
ngàn giọt lệ khô
Bài thơ
trên đến vào thời điểm tư tưởng Hoa Nghiêm đang được
truyền bá, đã gợi cho tôi liên tưởng đến mùa xuân của
hành giả thâm nhập pháp giới Hoa Nghiêm. Thật vậy, tụng
Kinh Hoa Nghiêm, tôi cảm nhận sâu sắc trên lộ trình hành
Bồ Tát đạo từ sơ phát tâm đến thành Vô Thượng Đẳng
Giác, cứ mỗi chặng đường đi qua của Bồ Tát là một mùa
xuân. Từng đóa hoa xuân nở theo bước chân hoằng hóa độ
sanh của các Ngài hay nói khác, những đóa hoa lòng, những
nguồn vui nối tiếp nhau trong cuộc sống thanh tịnh, giải
thoát, vị tha của những hành giả đang tiến dần đến Tỳ
Lô Giá Na lâu các trong Hoa Tạng thế giới.
Khởi
đầu lộ trình Bồ Tát, theo Kinh Hoa Nghiêm, trước tiên hành
giả nhận được nguồn vui phát xuất từ niềm tin chân thành
hướng về Tam Bảo. Chính vì tầm quan trọng căn bản của
niềm tin mà đức Phật đã khẳng định rằng: "Niềm tin là
mẹ sanh ra tất cả công đức". Ở đây cần ghi nhận niềm
tin không có nghĩa là mê tín hay cuồng tín vì cuồng tín và
mê tín đều là trạng thái của những người thiếu suy nghĩ,
không có trí tuệ, thường đưa đến hành động tội lỗi.
Niềm tin theo kinh Hoa Nghiêm đặt trên căn bản tri tánh hay
hiểu biết hướng về chân lý. Từ tận đáy lòng hành giả
cảm thấy khao khát một cái gì vượt lên trên thực tại
bình thường, cộng thêm nhân duyên căn lành giữa hành giả
và Phật tạo thành một sự thu hút tình cảm khiến hành giả
phải hướng tâm về Ngài và muốn làm được như Ngài. Khi
tín tâm sanh ra từ thế giới Phật, tự nhiên tâm hành giả
đổi khác nhiễm ô tự lắng đọng, chỉ còn niềm an lạc
thanh thoát dâng tràn trong tâm. Tiếp nhận được sự thanh
tịnh này, tầm nhìn cũng bắt đầu đổi khác. Hành giả không
còn thấy bằng suy nghĩ tính toán của vọng thức nhưng thấy
bằng trực giác hay bằng trực trí tuệ nên không thấy giống
người thường nữa, một cái thấy mà Thiền sư thường nói:
thấy núi không phải là núi, sông không phải là sông. Bằng
thức phân biệt, chúng ta chia ra núi sông nhưng đưa về lý
tánh tuyệt đối thì không còn người, núi, sông. Hành giả
thâm nhập thế giới Không, một loại hình thế giới của
người đạt Bát Nhã ba la mật.
Duyên
nào thế giới vô hình thuần lý đó lâu ngày nên tham vọng
tình cảm, trần lao nghiệp chướng cũng tan biến theo, mọi
vật trên cuộc đời không còn sức hấp dẫn nữa. Từ đây
hành giả có một thế giới quan viên để sống, thế giới
của lý tánh mà kinh Hoa Nghiêm gọi là Lý Pháp giải, tạo
nên nguồn vui kỳ diệu, nguồn vui không còn lệ thuộc ngoại
cảnh hay tha nhân, nguồn vui mãnh liệt khó mà giải bày cho
người ngoại cuộc. Từ lẽ sống riêng tuyệt đẹp của thế
giới này, hành giả nhìn ra cuộc đời thấy tất cả đều
dễ thương, từ những hạt mưa rơi hay một nụ chồi non cho
đến con sâu cái kiến đều chứa chan sức sống, giữa nó
và hành giả như có mối liên hệ gắn bó hỗ tương. VơÙi
tầm nhìn nhất quán theo Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật không còn
giới hạn ở sanh thân loài người Thích Ca Mâu Ni. Ngài đã
trở thành Tì Lô Giá Na Pháp Thân vô cùng tận có thể biến
chiếu vào tất cả các loài hữu tình và vô tình, chẳng hạn
như khi ngắm cảnh thanh bình, tâm bồ đề chúng ta được
khơi dậy, Ngài Nhật Liên gọi là vô tình thuyết pháp. Hoặc
nhìn đàn cá tung tăng trong dòng suối Giải Oan, chúng ta cảm
thấy nhẹ nhàng theo, nghe tiếng chim hót, lòng chúng ta chợt
thanh thản, đó là cá chim thuyết pháp như trong Kinh Di Đà
diễn tả. Dưới kiến giải của Hoa Nghiêm cá, chim, cây, cảnh
đã làm cho hành giả phát tâm, nói khác là Tỳ Lô Giá Na Phật
đã hiện thân trong các loài đó hay các loài đó đã tiếp
nhận tác động của Tỳ Lô Giá Na Phật vì trên mặt pháp
tánh tất cả đều đồng một thể. Ảnh hưởng của Tỳ
Lôi Giá Na Phật vào sanh thân của loài người chúng ta cũng
vậy, niềm tin chúng ta lớn thì Phật gia bị lớn, niềm tin
nhỏ thì nhận sự gia bị nhỏ và không có niềm tin thì chẳng
bao giờ thấy Phật. Phật tùy sát na tâm hiện và mất là
Tỳ Lô Giá Na Phật không thấy bằng mắt nhưng chúng ta phát
tâm thì Phật hiện , thối tâm thì Phật biến mất, cũng giống
như dòng điện không nhìn thấy nhưng máy nổ thì biết có
điện. Kinh Hoa Nghiêm chỉ cho chúng ta pháp thân Tỳ Lô Giá
Na biến chiếu hay Đại Nhật Như Lai tất ví Phật như tia
nắng mặt trời, tất cả loài hấp thụ ánh sáng mặt trời
mà tồn tại, cũng vậy chúng ta tu hành phát tâm bồ đề là
do tiếp thu Phật lực từ Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na. Trên lập
trường Hoa Nghiêm phát tâm bồ đề nhìn ra cuộc đời đối
với hành giả, sinh hoạt muôn màu muôn vẻ của tất cả các
loài không có gì không phải là Phật, tất cả đang tuần
tự tiến về Vô Thuợ øng Đẳng Giác. Từ kiến giải này,
Tam Bảo của Hoa Nghiêm lấy tâm làm chính-Đức Phật dạy
tâm chúng ta có thể sanh tất cả pháp giống như tất cả
hoa màu đều sanh ra từ đất. Sanh từ tâm nên hành giả điều
chỉnh mảnh đất tâm xong thì trồng pháp nào sẽ có pháp
đó. Phát khởi lên niềm tin huớng về Tam Bảo, trong tâm hành
giả đã có Tam Bảo hội nhập đầy đủ, tuy 3 nhưng thực
là một, từ bản tâm thanh tịnh an vui hiện ra tướng giải
thoát là Phật, từ bản tâm thanh tịnh an vui nên ngôn từ
lưu xuất ra là pháp và tâm thanh tịnh an vui phát sinh ra mọi
sự hòa hợp là Tăng.
Trụ
tâm trong niềm tin ở Tỳ Lô Giá Na Phật, ở thế giới Phật,
ở sự chung sống hài hòa hổ tương của muôn loài hành giả
tận hưởng niềm vui thanh thoát. Tín tâm của hành giả từng
bước phát triển từ sơ tín trải qua 10 cấp bậc khác nhau,
giúp cho hành giả huân tập công đức cho đến thành tựu
tín tâm kiên cố bất hoại của Thập tín là niềm tin vững
chắc tuyệt đối không gì lay chuyển được như Ngài Anan
bạch với Phật: "Dù hư không có mòn, nguyện của con cũng
không bao giờ thay đổi".
Khi
có nguồn vui nơi tín tâm, trụ được tâm, bất ngờ bắt
đầu tiếp thu pháp Phật, lòng hành giả lại nở ra nguồn
vui sống trong Pháp. An trụ chánh pháp, hành giả tự cảm thấy
vui, một nguồn vui lặng lẽ thầm kín niềm an lạc phát triển
lần trong tâm giúp cho hành giả vui trong thanh tịnh, hoàn toàn
khác với thú vui theo động loạn bên ngoài của chúng sanh
và cũng khác hẳn với người tụng ngàn bộ kinh mà vẫn không
vui. Vui vì chạy theo vật chất bên ngoài thì càng vui họ càng
mau cạn túi và lại càng phải khổ nhiều hơn. Vui lệ thuộc
tha nhân hay vật chất thì có nó chúng ta vui, mất nó chúng
ta khổ, nói chung bám vào thú vui trần tục để sống, ta không
bao giờ thỏa mãn và đời đời ờ trong sanh tử. Ngược lại
người tu hành cả ngồi yên càng vui, nói khác hành giả tiến
sâu vào thiền định sống với pháp, hoàn toàn thanh tịnh
vượt thức nhiểm, nhận được nguồn vui sâu xa vô tận của
chính tâm hồn mình. Đặt tâm vào pháp Phật, say mê đọc
tụng kinh điển theo dõi bước chân hành đạo của các Bồ
Tát, Phật huệ phát sinh hành giả quan sát cuộc sống thấy
được chân lý. Mỗi ngày như pháp tu hành, niềm vui lớn dần
theo sự thấy biết mở rộng, bất ngờ chẳng còn gì trên
đời này đáng cho hành giả quan tâm thậm chí đến ý niệm
thời gian cũng trở thành vô nghĩa như Thiền sư Thuyền Lão
nở nụ cười hàm tiếu, nhẹ nhàng khai ngộ cho vua Lý Thánh
Tông:
"Đản
tri kim nhựt nguyệt, thùy thức cựu xuân thu".
Hạnh
phúc tuyệt diệu cảm nhận từ dòng Pháp lưu xuất không thể
nào diễn tả cho người khác hiểu được:
"Mùi
Thiền trong ấy nào ai biết"
Vâng,
"múi Thiền trong ấy" là lực hấp dẫn, thu hút vua Trần Thái
Tôn bất kể mạng sống, băng rừng trèo non lội suối lên
Yên Tử an trụ trong cuộc sống tâm tưởng siêu đẳng quá
đẹp, chẳng màng đến ngai vàng, bỏ nó như bỏ chiếc giày
rách.
Từ
thế giới hiện tượng, hành giả từng bước thoát ly cuộc
đời, đi sâu vào Thiền quán để đến thế giới lý tánh
tiếp nhận được niềm vui thấy Phật, vui sống Pháp tánh,
vui trong Thiền. Và từ thế giới lý tánh mang theo cả nỗi
niềm thanh thản an vui ấy trở lại cuộc đời hành đạo,
đem tặng cho tha nhân nguồn vui của tri thức và giải thoát.
Đó là pháp tu hồi hướng mà đức phật dạy các Bồ Tát.
Về phần hồi hướng có 10 pháp nhưng chúng ta gom lại thành
3 tụ điểm chính.
Trước
hết, hành giả tu hồi hướng pháp giới chúng sanh nghĩa là
hồi hướng cho những người có thiện căn công đức, có
nhân duyên vì chúng ta không thể làm được cho tất cả. Ở
bước đầu giáo hoá chúng sanh, hành giả chỉ lo cho những
người có cảm tình, hết lòng với mình, nuôi dưỡng tâm
bồ đề họ vì tự biết những người nhiệt tình này có
nhân duyên căn lành từ đời trước nên phải giáo dưỡng
họ để làm nhân cho đời sau tiếp tục tu hành. Hồi hướng
nhằm bảo toàn tốt số quyến thuộc nồng cốt xong, hành
giả mở rộng vòng thứ 2, hồi hướng cho những người không
thân không thù. Những người này nhận thấy quyến thuộc
của ta tu có kết quả, thấy pháp tu của ta đúng nên hướng
tâm về cầu học, bấy giờ ta mới nghĩ đến giúp đỡ họ.
Ở giai đoạn 2, việc giáo hóa tương đối dễ hơn bước
thứ nhất vì đã có thêm sức mạnh của quyến thuộc. Theo
tôi, điều này chúng ta nên lưu tâm. Trên thực tế tôi thấy
nhiều người không có quyến thuộc nhưng ham làm chuyện bao
đồng nên thường thất bại chuốc lấy đau khổ. Chúng ta
cần ghi nhớ trên bước đường tu hành, bản thân chúng ta
phải thành tựu ở mức độ nào rồi mới dìu dắt quyến
thuộc đi lên và quyến thuộc vững rồi, chúng ta mới mở
rộng vòng đai cảm tình ra Pháp giới. Khi thành phần nòng
cốt đủ mạnh và người khách quan cũng được nương nhờ
phát triển, bấy giờ thành phần chống đối, ngoại đạo,
kẻ ác không thể hại được ta, được như vậy ta mời thể
hiện trọn vẹn hồi hướng pháp giới chúng sanh từ hẹp
đến rộng.
Tuy
nhiên, trong lúc tu hồi hướng cho chúng sanh, hành giả đã
thực hành Pháp hồi hướng cho Vô Thượng Bồ Đề của chính
mình. Thật vậy, hai pháp hồi hướng này tác động hỗ tương
lẫn nhau. Nhờ tiếp cận giáo hóa chúng sanh hành giả mới
có nhận thức đúng về loại hình chúng sanh trên cuộc đời
biết được căn tánh hành nghiệp của chúng và hóa giải
được thì phước đức trí tuệ của hành giả theo đây tăng
trưởng, nuôi lớn Báo Thân, tiến gần đến phật quả. Vì
vậy Kinh Hoa Nghiêm dạy quả Bồ Đề thuộc về chúng sanh,
không có chúng sanh, Bồ Tát không thể thành tựu tâm Bồ đề,
không thể thực hiện hạnh Bồ Tát. Đức Phật ví Bồ tát
hành đạo không có chúng sanh giống như trồng cây trong hư
không. Trong giai đoạn tu Thập Trụ, Thập Hạnh, không khác
gì trồng cây trong hư không. Nay đến giai đoạn tu Thập Hồi
Hướng phải đem cây trồng xuống đất. Đất chỉ cho chúng
sanh, hành giả đem hạt giống bồ đề gieo vào mảnh đất
tâm chúng sanh nhưng chúng sanh không có nghiệp và phiền não
giống như đất không có phân và nước thì cây cũng không
lên được. Từ đó, Bồ Tát hành đạo phải tiếp xúc với
nghiệp và phiền não của chúng sanh. Chính 2 thứ này là đối
tượng cho hành giả trắc nghiệm xem khi bị nghiệp hoặc,
phiền não chúng sinh đổ trút lên, ta có bị mê đắm, ô nhiễm
theo hay không. Va chạm thực tế phũ phàng mà hành giả vẫn
bình thản, không khởi sân si là biết có Phật xuất hiện
hay sen nở trong bùn. Trên tinh thần này, chúng sanh, chúng sanh
nghiệp, chúng sanh phiền não là ân nhân của Bồ tát, từ
đó nhận chân được mặc dù làm việc cho chúng sanh nhưng
thực là phát triển trí khôn và đạo đức cho chính mình,
giúp Bồ Tát mau thành Vô Thượng Đẳng Giác.
Tuy
nhiên nếu chỉ giới hạn pháp tu hồi hướng trong phạm vi
phát triển trí giác và xây dựng quyền thuộc để làm lợi
ích cuộc đời, sẽ dẫn hành giả đạt đến địa vị của
Chuyển Luân Thánh Vương mà thôi. Đối với Phật đạo, Pháp
tu thứ 3 quan trọng hơn cả là Pháp hồi hướng Chơn Như Thật
Tướng. Giai đoạn trước phải học mới giỏi, có giúp đời
mới được kính trọng, nhưng đến đây Phật dạy hành giả
nâng lên một nấc, phải xả bỏ tất cả chúng sanh và kinh
nghiệm học hỏi, nói chung tất cả công đức tạo được
đều phải xóa sạch. Có người nghĩ rằng tạo công đức
không dễ nhưng tạo rồi lại bỏ thì thà đừng làm còn hơn.
Tuy nhiên, đức Phật dạy mặc dù chúng ta xả bỏ nhưng không
mất và nếu không xóa bỏ phước hữu lậu sẽ không thể
nào có quả Bồ Đề. Ngài dạy bỏ bằng cách chuyển đổi
pháp hữu lậu hữu vi thành pháp vô lậu vô vi vì số vốn
phước đức trí tuệ vô lậu tích lũy luôn gắn liền với
đời sống tâm linh, hành giả tái sanh nơi nào nó cũng đi
theo và tạo đủ những điều kiện ưu việt. Từ trên pháp
giới hay Chơn Như Thật Tướng trở về hiện thực, ở bất
cứ thế giới nào, hành giả cũng an lành, sanh trong dòng dõi
cao quý, có nhiều người thương mến và nhiều của cải,
có saün hạt giống trí tuệ, nhờ đó hành giả dễ dàng hành
Bồ Tát đạo và nhanh chóng đạt đến Phật quả. Trường
hợp điển hình như Phật Thích Ca do tu hạnh Bồ Tát từ vô
thỉ kiếp nên sanh ra làm Thái Tử, có hảo tướng, khỏe mạnh
phi thường, bản chất thông minh vượt trội hơn người cùng
vô số Thanh Văn Bồ Tát thị tùng hỗ trợ.
Thành
tựu pháp tu hồi hướng mới bắt đầu đăng địa Bồ Tát
và trong phần Thập Địa của Bồ tát, giai đoạn sơ địa
còn gọi là Hoan Hỉ địa. Đứng ở vị trí Hoan Hỉ địa,
bồ tát giáo hóa chúng sanh bằng niềm tin kiên cố và tâm
hoan hỉ của người đã an trụ trong Phật pháp và đầy đủ
công đức. Tiếp nhận tâm hoan hỉ hay nguồn vui thanh tịnh
từ chơn tâm Bồ Tát thông qua chơn tâm của tha nhân niên họ
nhìn thấy hình dáng, nghe được ngôn ngữ, âm thanh, biết
việc làm của Bồ Tát đều phát tâm hoan hỉ thanh tịnh theo.
Đó là cách giáo hóa nhẹ nhàng đúng pháp của Bồ Tát nên
Ngài Kim Cang Tạng khuyên tất cả Bồ Tát sơ địa phải gắng
gìn giữ tâm hoan hỉ cho kiên cố, không gì phá vỡ được,
có như vậy mới tiếp tục vững bước dấn thân hành 4 pháp
nhiếp và 6 pháp ba la mật.
Trước
thềm năm mới, dõi theo bước chân Bồ Tát trong vườn Xuân
đạo hạnh của Hoa Tạng thế giới, tôi cầu nguyện cho Tăng
Ni Phật Tử tiếp nhận được tâm hoan hỉ và đời đời
kiếp kiếp gìn giữ tâm này vững chắc để chúng ta mãi mãi
an trú trong niềm vui thấy Phật, vui sống trong pháp và vui
làm lợi ích chúng sanh.
Nam
Mô Thường Hoan Hỉ Bồ Tát Ma Ha Tát
TT
Thích Trí Quảng
Source:
Tuần Báo Giác ngộ