XUÂN CỦA
HÀNH GIẢ PHÁP HOA
HT
Thích Trí Quảng
Xuân
đến trăm hoa đua nở, cây cỏ xanh tươi, vạn vật bừng lên
sức sống. Ngắm nhìn cảnh xuân tươi đẹp, luân chuyển theo
dòng sanh diật của định luật thời không, hành giả Pháp
Hoa liên tưởng đến sức sống vui tươi của mùa xuân bất
diệt vĩnh hằng, mùa xuân chào đón những hành giả Pháp Hoa
đắc đạo, bước vào pháp hội không trung thuyết pháp, chiêm
ngưỡng Bảo tháp sáng rực bảy báu, tỏa ngát hương thơm
chiên đàn. Cả một thế giới thuần tịnh an vui trải ra vô
tận. Cảng giới xuân nơi đây còn tuyệt diệu hơn nữa với
sự hiện hữu của Ðức Phật Ða Bảo, một vị Phật quá
khứ cách đây vô lượng kiếp, vẫn an nhiên tự tại mĩm
cười mời đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni của chúng ta cùng
lên ngự trên tòa bảy báu của Ngài.
Thật
vậy, sau khi trao cho đại chúng hành trang nhà Như Lai, áo Như
Lai, tòa Như Lai nghĩa là hành giả đã hoàn thiện đạo đức
và tri thức mới hội đủ tư cách để thâm nhập thế giới
xuân vĩnh hằng, thế giới kỳ diệu của chư Phật. Bỗng
nhiên, tất cả đều KHÔNG, chỉ duy nhất có tháp Ða Bảo
hiện ra, trụ giữa hư không, vang ra lời khen ngợi đức Thích
Ca Mâu Ni diễn nói pháp chân thật. Ðức Phật Thích Ca cũng
trụ trong hư không, mở Bảo tháp và ngồi chung pháp tòa với
Phật Ða Bảo, đồng thời Ngài dùng thần thông tiếp đại
chúng lên hư không. Tất cả đều trụ ở hư không nghĩa là
tất cả đều chứng trí Bát Nhã, thấy các pháp đều KHÔNG
hay mọi việc trên cuộc đời không còn chướng ngại đối
với hành giả vì đã nhận chân rõ bản thể các pháp. Thế
giới chân không thật hữu này của Bồ tát hoàn toàn khác
với thế giới không của Nhị thừa, tưởng tượng cái có
thành ra không. Hành giả trụ hư không tức trụ đại định,
không còn bị vật chất chi phối, thân tâm hoàn toàn tự tại,
bỉ ngạn thử ngạn hay thế giới siêu thực và thế giới
hiện tượng thông thành một cõi. Bấy giờ, tháp Ða Bảo
và Phật Ða Bảo hiện ra, trải dài một thế giới tinh luyện
bằng bảy báu, tiêu biểu cho những gì quý giá nhất được
hình thành từ sự giác ngộ của đức Phật mà kinh Lăng Nghiêm
diễn tả là "Không sanh đại giác trung". Thiết nghĩ đối
với hành giả đem cả sinh mạng hành Bồ tát đạo, nỗ lực
công phu thiền định, phát sinh được Như Lai huệ, quan sát
pháp giới thấy tháp Ða Bảo hay vào được thế giới giác
ngộ của chư Phật, chắc chắn đó là niềm vui vô tận, là
mùa xuân vô cùng. Pháp hội không trung không có gì khác ngoài
tháp Ða Bảo, duy nhất tháp Ða Bảo, là tinh ba của thế giới
Phật, là bảo sở của hành giả đã vượt 500 do tuần đường
hiểm. Ba đời mười phương Phật hành đạo tích luỹ công
đức, kho thánh tài vô tận của chư Phật, tạng bí yếu Như
Lai, đều có đầy đủ trong Bảo tháp. Vì vậy, tháp báu này
quý giá vô song, bảy báu thế gian không thể so sánh được,
dưới mắt người tu, bảo vật thế gian vô nghĩa vì càng
có nhiều càng chuốc họa vào thân. Trái lại, thấy được
tháp Ða Bảo nghĩa là nhận ra tháp chân thật, sống với tháp
chân thật mà đức Phật truyền trao, mọi việcđều thành
tựu theo ý nguyện. Cuộc đời đức Phật đã chứng minh rõ
điều này, Ngài không cần cất giữ một đồng nhưng Ngài
là vua trên các vua, vì đức Phật đã tìm được kho báu,
sử dụng được kho báu làm phước lạc cho trời người.
Ngày nay, hành giả bước theo dấu chân Phật tất yếu phải
thâm nhập thiền định để phát sinh trí tuệ mới có thể
sử dụng kho báu. Hàng lậu tận La Hán thấy kho báu ví như
người có mắt mà không có tay nên không lấy được. Hàng
Bồ tát từ sơ phát tâm cho đến đệ bát địa ví như có
tay nhưng không có mắt nghĩa là chỉ có niềm tin đối với
Phật, đảnh lễ cầu nguyện thì việc giải quyết dễ dàng,
phước báu đến liền. Ðiều này dễ kiểm chứng, trên bước
đường tu có lúc tâm chúng ta thanh tịnh chí thành đến mức
tạo thành độ cảm, liên hệ được với Phật nên được
Phật hộ niệm, công đức sanh ra. Tuy nhiên, cầu xin lần thứ
hai thì lại không được, không có cách gì để nhận được
phước báu như lần trước. Riêng đối với hàng Bồ tát
đã đến Bảo sử tức Bồ tát vừa giải thóat, giải thót
tri kiến và có niềm tin kiên cố được ví như người có
tay có mắt đầy đủ, vào kho báu tuỳ ý lựa chọn, sử dụng
thánh tài vô tận của đức Phật để phục vụ lợi lạc
cho mọi người. Ðó là chân thật pháp trong kinh Pháp Hoa mà
đức Phật muốn truyền trao, đồng thời nhắc nhở tất cả
hành giả Pháp Hoa cần phát triển trí tuệ để có thể củng
cố niềm tin theo chánh pháp, vì niềm tin không được trí
tuệ hướng dẫn dễ trở thành mê tín. Hành giả an trụ chánh
định, giữ tâm vắng lặng trong sáng, từ đó phát sinh trí
kiến Như Lai. thấy được kho báu hay ngộ được pháp chân
thật, tạo thành thế giới quan tràn đầy niềm vui, hình thành
mùa xuân kỳ diệu, không bao giờ tàn phai héo úa vì tác động
của mê lầm, tham sân, dục nhiểm. .
Ðại
chúng nhìn thấy tháp Ða Bảo nhưng không ai có khả năng mở
tháp, lấy kho báu trang nghiêm bản thân, làm lợi ích cho người.
Hàng A La Hán, Bách Chi Phật cũng vậy, hoàn toàn tuyệt phần.
Chỉ rie6ng đức Phật Thích Ca có thừa sức mở tháp báu bằng
một ngón tay mặt. Ngài cho đại chúng biết muốn mở được
Bẳo tháp cần phải tập trung phân thân. Phân thân của Phật
Thích Ca tiêu biểu cho tâm từ bi của Ngài đến với muôn
loài, biến tất cả thành thân của Phật gọi là pháp thân.
Hàng A La Hán, Bích Chi Phật không thể tạo phân thân được,
nghĩa là không đủ tâm từ bi, không đủ lực tác động cho
người vì Bích Chi Phật, A La Hán hay nói chung tất cả mọi
nhười thường đóng khuôn môi trường sinh hoạt của mình,
ai sống theo giai cấp, chủng tộc đó. Thí dụ giới thương
gia thân thiện với nhau, người làm thuê mướn kết bạn vớ
người làm thuê mướn, chánh khách sinh hoạt với chánh khách.
Mọi người đã quen với nếp nghĩ nếp sống phân biẹt giai
cấp rõ rệt, khó sống chung, khó hòa hơ5p thật sự, dù trò
chuyện với nhau cũng chỉ miễn cưỡng, hoặc có tình thương
đến giúp đỡ người nghèo, xong vị6c rồi thôi, ta và họ
không còn liên hệ, mỗi người lại có cách sống riêng, không
nhớ nghĩ đến nhau. Ðức Như Lai thì hoàn toàn khác hẳn,
Ngài là vha lành của muôn loài, đến với tất cả mọi người
thuộc mọi tầng lớp, nhưng ai cũng nghĩ Phật là của riêng
họ, thương họ nhất, thậm chí chúng ta sống cách Phật gần
3000 năm cũng vẫn còn cảm nhận được tình thương vô hạn
của Phật chan hòa cho. Vì vậy, điều quan trọng đối với
hành giả Pháp Hoa nếu muốn thấy Bảo tháp, vào sống với
Phật Ða Bảo, sử dụng được của báu đài hỏi hành giả
phải thành tựu pháp ấn này trước tiên, trong kinh diễn tả
là nhà Như Lai. Ðiều này dễ hiểu vì thực tế chúng ta nhận
thấy rõ bất cứ ai được nhiều người thương mến sẽ
dễ dàng thành co6ng việc lớn, ngược lạ người bị oán
ghét nhiều, dù có giỏi cũng trở thành vô dụng. Tình thương
của đức Phật trang trải đồng đều cho tất cả các loài,
là chất keo gắn bó tất cả các thành phần xã hội só6ng
chung hài hòa, trong khi có thể hàng Bồ tát không chấp nhận
cách tu tiêu cực của Thanh Văn hay ngược lại Thanh Văn không
đồng ý cách hành đạo phóng khoáng của Bồ tát, nhưng cả
hai đều phục tùng thương kính Phật, sống hòa hợp dưới
sự chỉ đạo của Ngài vì đức PHật đầy đủ trí tuệ
sáng suốt, xứng đánh làm thầy của Thanh Văn, Bồ tát, chư
Thiên. Bằng tâm từ bi trí tuệ bao la, đức Phật mở được
cánh cửa Bảo tháp. Trí tuệ và lòng từ bi của Phật soi
rọi đến Thanh Văn, Bồ tát, chư Thiên thì họ biến thành
thân phân PHật. Phân thân Phật trong khắp mười phương giảng
nói không giống nhau nhưng cũng không chống trái nhau. Như Lai
ở phương tiện môn thích cho mọi hoàn cảnh không thiếu một
pháp nào và trở về chân lý cũng hoàn toàn tự tại không
vướng mắc pháp nào. .
Khi
Bảo tháp mở ra, đức Phật tiếp độ đại chúng lên hư
không và dạy rằng ai muốn tu Pháp Hoa, ngay bây giờ nên phát
nguyện trước hai đức Như Lai. Ðiều này gợi nhắc chúng
ta phải đến trước hai đức Như Lai trụ giữa hư không để
phát nguyện, nhằm diễn tả trạng thái thâm nhập chân lý
của người đắc đạo, không phải là việc làm đơn sơ,
tu bằng hình thức. .
Hành
giả trụ chánh định nghe Phật thuyết pháp đồng nghĩa với
tới được Bảo sở hay đến trước hai đức Phật để phát
nguyện độ trì kinh Pháp Hoa. Ngài Từ Ân kiến giải ý nghĩa
PHật quá khứ Ða Bảo và Phật hiện tại Thích Ca Mâu Ni ngồi
chung pháp tòa là cổ kim bình đẳng bất nhị, Phật xưa và
nay không khác, ba đời mười phương Phật hiểu biết chân
lý, vận dụng chân lý, và sống với chân lý đều giống
nhau. Trên bước đường hành đạo, chúng ta cần cân nhắc
điều này, chúng ta tuyên dương chánh pháp có thể diễn nói
lời khác người trước nhưng không sai ý họ nên hiện tại
và quá khứ là một, còn chấp y quá khứ thì hiện tại đã
tự biến thành quá khứ, không còn đúng. Tuy nhiên lập y lời
Phật sẽ phạm tội huỷ báng Phật, nhưng bỏ lời Phật,
coi chừng lạc tà thuyết. Vì vậy để giới thiệu pháp chân
thật, đức Thích Ca phải kéo Phật quá khứ Ða Bảo trở
lại hiện tại để chứng minh rằng Ngài thuyết đúng chân
lý. Thiết nghĩ trên đường tu học, hành giả đến bờ giác,
nhận được ấn chứng của đức Ðạo Sư truyền trao, chắc
hẳn không còn gì sung sướng hơn, từ đây chân trời Xuân
mở rộng cho hành giả thẳng tiến không sợ chướng ngại
.
Tháp
Ða Bảo xuất hiện, phân thân Phật tập trung, tất cả đều
nhằm diễn tả lực tác động vô hạn của tâm từ bi bao
la và trí tuệ tuyệt vời của đức Phật, bấy giờ Ta Bà
biến thành Tịnh độ. Từ đây Ngài giới thiệu cho chúng
ta loại hình thế giới mà đức PHật xây dựng hoàn toàn
bằng chất liệu tình thương chân thật và hiểu biết chính
xác trọn vẹn. Ðược vào sống trong thế giới điều động
bằng tình thương và trí tuệ của người đắc đạo, theo
tôi, không có gì hạnh phúc, an lạc hơn cho hành giả đang
tiến bước trên đường thể nghiệm Bồ tát pháp. .
Tóm
lại Bảo tháp đã khép kín, ẩn mình từ vô lượng kiếp,
nay nhờ lực tác động của bậc toàn giác toàn trí Thích
Ca Mâu Ni, Bảo tháp xuất hiện và đức PHật đã mở Bảo
tháp lấy của báu ban phát cho chúng hội, sử dụng muôn đời
không hết. Nói khác, Phật pháp hằng hữu ngàn đời từ chư
Phật quá khứ, đã được đức Thích Ca Mâu Ni khai thị ở
Ta Bà và Thánh tài pháp bảo Ngài truyền trao trải qua hàng
ngàn năm vẫn còn là kim chỉ nam hướng dẫn cho đệ tử khắp
năm châu xây dựng cuộc sống an lạc, giải thoát, mở ra chân
trời Xuân vĩnh hằng, mãi mãi là nơi an trú ấm áp cho những
hành giả mang hạnh nguyện thượng cầu Phật đạo, hạ hóa
chúng sanh, Bảo tháp vẫn mãi mãi hiện hữu như những chứng
nhân siêu tuyệt cho mọi tâm hồn quyết lòng theo bóng Thế
Tôn mang an vui cho muôn loài.
NAM
MÔ PHÁP HOA KINH CHỨNG TÍN THI HIỆN ÐA BẢO NHƯ LAI.
HT
Thích Trí Quảng