TỪ
ĐỌC KINH TỚI NHÌN KINH
Cư
Sĩ Nguyên Giác
Bắt
đầu một năm mới, khi chúng ta nhìn thấy hình ảnh trẻ em
mặc áo mới rủ nhau đi mừng tuổi người lớn, cũng là lúc
chúng ta nhìn thấy trận gió vô thường cụ thể hơn, thấy
trứơc mắt những chùm tóc trắng hiện lên không gì ngăn
cản nổi, thấy những tháng ngày trôi qua lạnh lùng không
gì chụp bắt được. Vô thường biến hiện, cuộc sống lưu
chảy không ngừng, hết đông rồi xuân. Và chúng ta đang đứng
trong dòng chảy thời gian bất tuyệt này, cảm nhận ngọn
gió lạnh buốt trong xương thịt từng giây phút, từng khỏanh
khắc không ngừng. Hãy tự nhắc nhở rằng đừng để trôi
qua một ngày vô ích, hãy làm những gì tốt đẹp nhất trong
đời này, và lợi ích nhất cho mọi người – trong đó, tu
sửa tâm mình vẫn là pháp tối thắng nhất để biến cõi
đầy kham nhẫn này trở thành tịnh độ an lành.
Năm
Bính Tuất đã tới. Hình ảnh con chó đã từng được xuất
hiện qua những chuyện nào trong kinh luận nhà Phật? Xin mời,
hãy mở ra từng trang Kinh luận, đọc lại trong những ngày
xuân.
Trong
Tạng Pali, Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikàya), Tập V, bản Việt
dịch thực hiện bởi Hòa thượng Thích Minh Châu và Giáo sư
Trần Phương Lan, truyện thứ 142 nhan đề “Chuyện Con Chó
Rừng (Tiền thân Sigàla)” được kể như sau.
“Câu
chuyện này, khi trú ở Trúc lâm, bậc Đạo Sư kể về Đề-bà-đạt-đa
âm mưu sát hại Phật. Khi nghe câu chuyện các Tỷ-kheo họp
ở Chánh pháp đường bàn luận, bậc Đạo Sư nói:
-
Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay Đề-bà-đạt-đa mới
âm mưu sát hại Ta. Trong quá khứ kẻ ấy cũng đã âm mưu
như vậy rồi. Nhưng nó không thể giết Ta được, nó chỉ
tự làm cực nhọc mình thôi.
Nói
vậy xong, bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
Trong
thời quá khứ, khi vua Brahmadatta trị vì nước Ba-la-nại, Bồ-tát
sinh ra làm con chó rừng rồi trở thành chó rừng chúa, với
đàn chó rừng vây quanh, sống tại một ngôi rừng dùng làm
bãi tha ma. Lúc bấy giờ, ở Vương Xá có ngày hội lớn. Phần
đông người ta đều uống rượu. Tại đây, một số người
ăn chơi, cho đem nhiều rượu và thịt, mặc áo quần đẹp,
uống rượu ăn thịt. Vào canh một, họ ăn hết thịt và còn
lại nhiều rượu. Một người trong đám ấy nói:
-
Hãy cho tôi thịt.
Khi
nghe nói là thịt hết rồi, anh ta nói:
-
Khi ta còn đứng ở đây thì thịt không thể hết được.
Ta sẽ giết các con chó rừng đến ăn xác chết trong nghĩa
địa này và đem thịt về.
Nói
vậy, anh ta lấy một cái vồ, theo con đường ống cống, đi
ra khỏi thành, đến bãi tha ma, cầm cái vồ và nằm xuống
giả bộ chết. Lúc bấy giờ Bồ-tát với các con chó rừng
đến vây quanh người ấy. Thấy người ấy, Bồ-tát nói:
-
Người này không chết. Ta sẽ quan sát kỹ lưỡng hơn.
Bồ-tát
đi đến phía dưới gió, ngửi mùi thân thể, biết đúng sự
thật là người ấy chưa chết, liền suy nghĩ: "Ta sẽ làm
cho nó xấu hổ", liền đi đến, cắn đầu cái vồ và kéo.
Kẻ ăn chơi ấy không thấy Bồ-tát đến, cứ nắm chặt cái
vồ lại! Bồ-tát liền đến gần anh ta và nói:
-
Hỡi ông kia, nếu ông đã chết thì khi ta kéo cái vồ, ông
sẽ không nắm chặt lấy. Chính vì vậy, ta biết ông chưa
chết.
Rồi
Bồ-tát đọc bài kệ:
Như
vậy, khó biết ngươi,
Khi
ngươi nằm giả chết,
Khi
ta kéo gậy ngươi,
Ngươi
không thả chiếc gậy,
Do
vậy ta biết được,
Nhà
ngươi chưa thật chết!
Nghe
nói vậy, kẻ ăn chơi ấy đứng dậy, lấy gậy ném Bồ-tát
và nói:
-
Con vật này biết ta chưa chết.
Cây
gậy ném không trúng. Người ăn chơi ấy nói:
-
Hãy đi đi, lần này ngươi thoát khỏi tay ta.
Bồ-tát
quay lại và nói:
-
Này con người kia, phải, ta thoát tay ngươi. Nhưng ngươi không
thể thoát được mười sáu địa ngục nhỏ trong đại địa
ngục.
Nói
vậy xong, Bồ-tát bỏ đi. Kẻ ăn chơi ấy không được một
chút gì, đi ra khỏi bãi tha ma. Sau khi tắm trong một vũng nước,
anh ta đi vào thành theo con đường đã đi tới trước.
Sau
khi kể pháp thoại này, bậc Đạo Sư nhận diện Tiền thân:
-
Lúc bấy giờ, kẻ ăn chơi là Đề-bà-đạt-đa, còn con chó
rừng chúa là Ta vậy.”
Đọc
truyện trên, cũng như đọc các truyện khác trong Tiểu Bộ
Kinh, chúng ta mới biết thâm cảm được ơn của Đức Phật,
người tu hạnh Bồ Tát qua vô lượng kiếp để tìm độ chúng
sinh. Và Ngài cũng giữ tâm bình đẳng, nhìn người oán kẻ
thân với cùng một lòng đại bi, tìm cứu độ ngay cả những
kẻ nghịch duyên. Chúng ta nhân truyện này cũng thấy một
phần của hiện tượng nhân quả trùng trùng, dù là người
thân hay kẻ thù thì nhiều kiếp sau rồi chúng ta cũng sẽ
gặp lại họ vì các nhân duyên đã khởi dù có cố ý xô
ra hay đẩy vào thì cũng là buộc vào nhau. Nhưng cái vừa được
gọi là “chúng ta” và cái vừa được gọi là “họ”
thì cũng đã biến hiện thành các tập hợp chúng sinh khác
rồi – trong khi các mối phiền não ân óan vẫn trùng trùng
buộc vào nhau. Trong cõi kham nhẫn này.
Chỉ
Là Một Cội Cây Thôi
Ngày
xưa, Đức Phật và các đệ tử thường sống ở ven rừng.
Và sau đây là một câu truyện về một con chó rừng, nhân
đó Phật mới dạy cho các đệ tử về pháp an tâm, để đừng
lăng xăng khổ đau nữa.
Trong
cuốn sách “Chỉ Là Một Cội Cây Thôi” của đại sư Ajahn
Chah, bản Việt dịch của Tỳ khưu Khánh Hỷ, có truyện thứ
36 nhan đề “Con Chó Chóc” kể rằng.
“Một
lần nọ Đức Phật và các học trò thấy một con chó chóc,
đó là một loại chó sống trong rừng. Con chó chạy ra khỏi
rừng, nơi cư ngụ của nó. Nó đứng một lát lại chạy vào
bụi rậm. Sau đó lại chạy ra, rồi lại chạy vào một bộng
cây. Sau đó lại chạy ra khỏi bộng cây, đứng một lát,
chó lại chạy, rồi lại nằm, nằm một lát, nó lại nhảy
đi. Thì ra con chó chóc này bị lác. Lác làm nó ngứa ngáy
khó chịu, bởi thế nó chạy cho đỡ ngứa, nhưng rồi vẫn
không hết ngứa nó bèn đứng lại. Vẫn cảm thấy khó chịu,
nó bèn nằm xuống, rồi lại nhảy vào bụi rậm, vào bộng
cây. Chẳng bao giờ nó chịu ngừng nghỉ. Đức Phật thấy
thế dạy các đệ tử rằng: Này các thầy tỳ khưu, các thầy
có thấy con chó chóc lúc chiều không? Lúc đứng, nó đau khổ;
lúc chạy, nó đau khổ; lúc ngồi, nó đau khổ; lúc nằm, nó
đau khổ. Nó than trách: đứng làm nó khổ, ngồi làm nó khổ...
nó than trách chạy, nó than trách nằm, nó than trách bộng cây,
nó than trách bụi rậm.
Thật
ra không phải những điều trên làm nó bất an. Cái làm cho
nó bất an chính là bệnh lác. Chúng ta chẳng khác nào một
con chó chóc. Sự bất mãn, sự không hài lòng của chúng ta
phát sinh từ tà kiến hay sự hiểu biết sai lầm của chúng
ta. Bởi vì không thực hành pháp thu thúc lục căn nên ta than
trách sự đau khổ bên ngoài. Dầu sống ở Thái Lan, ở Mỹ
hay ở Anh quốc, chúng ta đều không hài lòng. Tại sao không
hài lòng? Bởi vì chúng ta có sự hiểu biết sai lầm. Chỉ
có vậy thôi. Thế nên, bất kỳ đi đến đâu ta cũng không
hài lòng. Khi con chó chóc lành bệnh lác thì đi đâu nó cũng
thoải mái, cũng hài lòng. Cũng vậy, khi không còn tà kiến,
không còn hiểu biết sai lầm, thì đi bất kỳ nơi đâu, ta
cũng cảm thấy thoải mái, cũng thấy hài lòng.”
Truyện
trên cho thấy, căn để vấn đề chính là bệnh bất an trong
mỗi người, chứ không phải là bệnh ngòai tâm thân này.
Vậy thì an tâm ra sao? Đại sư Ajahn Chah nói rằng chỉ cần
thu thúc lục căn thì xong. Nói thì chỉ có vài chữ, nhưng
diễn giải chi tiết thì thành ra cả ngàn trang kinh luận. Thế
mới biết, đường tu đơn giản nhưng cực kỳ là khó.
Hư
Hư Lục
Mượn
tích truyện để giáo hóa cũng là một truyền thống của
các tăng ni tại Việt Nam. Một trong những vị có tài kể
truyện là Ni Sư Thích Nữ Như Thủy, và một cuốn truyện
nổi tiếng của Ni Sư là Hư Hư Lục. Điều tình cờ
là hai truyện liên hệ về con chó ghi sau đây cũng được
Ni Sư sọan vào năm Nhâm Tuất.
Cần
chú thích rằng chữ “Thầy” trong truyện là chỉ cho Thiền
Sư Thanh Từ, và chữ “PC” là viết tắt chữ “Phụ Chú,”
ghi lời bình luận của Ni Sư.
Truyện
đầu như sau.
HƯ
HƯ LỤC
Thích
Nữ Như Thủy
Thiền
viện VIÊN CHIẾU 6-8 Nhâm Tuất, 1982
Con
Chó Vô Ơn
Thầy
kể chuyện:
“Tu
viện có nuôi một con chó tên là Tiểu Bạch, nó bị xà mâu
ăn lỡ loét cùng mình. Sư khám bệnh thấy vậy động
lòng trắc ẩn, chế thuốc bôi cho nó, thuốc thật công hiệu
nên chỉ mới xức có một lần mà ghẻ đã khô mặt.
Nhưng cũng từ dạo đó, mỗi lần thấy bóng “ân nhân”
Tiểu Bạch bèn hậm hực bỏ đi nơi khác.”
Xong,
thầy kết luận:
“Mấy
đứa tụi con, khi có lỗi được huynh đệ nhắc nhở, đâm
ra tức tối, tìm cách trả đũa lại... thì coi chừng giống
con Tiểu Bạch.”
PC:
Chúng sanh trong cõi này dù là nhân đạo hay súc sanh đạo cũng
giống nhau chỗ này. Nhớ ân và đáp ân là một điều
thật khó, trong khi đem oán trả ân là một chuyện dễ ợt.
Có lẽ vì thế mà chúng thường thắp hương đảnh lễ những
kẻ biết ghi ân chăng? Và trong kinh, Đức Phật cũng thường
tán thán tôn giả Xá Lợi Phất là người mà “một chút
ân nhỏ xíu cũng không quên!”
Cũng
trong sách Hư Hư Lục, một truyện khác như sau:
Dê
Hóa Chó
Thuở
xưa, có một tu sĩ Bà La Môn ra chợ mua dê về tế thần.
Nhìn con dê béo tốt, một bọn lưu manh rắp tâm đánh cắp.
Sau một hồi bàn tính, một tên bước ra, giả bộ ngạc nhiên
hỏi ông Bà La Môn:
-
Ủa, sao ngài cõng chó lên lưng mà đi như thế kia? Nó
bị đau chân hả?
Tu
sĩ nổi cáu quát:
-
Mắt với mũi, dê mà mi dám bảo là chó à?
Tên
lưu manh bỏ đi sau cái nhún vai bất cần. Chập sao, một
tên khác lại chận đường hỏi tu sĩ:
-
Thưa ông Bà La Môn, chó là một con vật khả ố, sao ông lại
để nước miếng nó dây vào người thế kia?
Tu
sĩ cãi:
-
Này cậu, đây là dê chớ không phải là chó.
Gã
lưu manh lắc đầu, mỉm cười bỏ đi. Ông Bà La Môn
bắt đầu nao núng, đặt con dê xuống đất buộc vào cổ
nó rồi kéo đi. Tên lưu manh thứ ba bước đến hỏi:
-
Thưa ngài, chắc ngài chuẩn bị dắt chó đi săn?
Vị
tu sĩ cãi:
-
Đây là con dê mà!
Gã
lưu manh bỏ đi sau một chuỗi cười dòn dã. Ông Bà La
Môn ngơ ngẩn đứng dụi mắt hồi lâu vẫn nom thấy rõ ràng
là mình đang dắt một con dê.
Tên
lưu manh thứ tư lại đến, chào ông và hỏi:
-
Ngài mua con chó này giá bao nhiêu thế?
Vị
tu sĩ vô cùng hoang mang nghĩ bụng:
-
Có lẽ đây là con chó thật. Tên lái buôn phù thủy đã
làm mù mắt ta. Một vị Bà La Môn cao cả như ta mà dắt
chó đi thì còn ra cái thể thống gì.
Ông
bèn quăng dây, thả rong con dê và bương bả đi tìm gã lái
buôn để ăn thua đủ. Gặp cơ hội bằng vàng, bọn lưu
manh tóm lấy con dê và chuồn mất.
Em
thân mến!
Sự
giả dối được lập đi lập lại nhiều lần lại hóa thật.
Ông Bà La Môn trên đây bị lừa mất con dê là tại vì “quý
lỗ tai mà khinh con mắt.” Mà nào có mỗi mình ông ta
đâu! Tôi và em cùng tất cả những ai trên thế gian này
đều bị lừa, tự lừa và lừa gạt lẫn nhau cả.
Từ
cái “bản lai vô ngã,” nghĩa là trong những lúc ở một
mình, quán chiếu lại mình, ta thấy rõ ràng, thân và tâm ta
đều là những tổ hợp nhân duyên tạm bợ, rất đỗi mong
manh và vô thường. Không có cái gì là ta, thường tồn,
bất biến… vậy mà, vừa gặp mặt nhau, chúng ta đã tay bắt
mặt mừng:
-
Ồ, sao lúc này bạn đẹp ra thế? Trẻ hơn lúc trước
nhiều (trong khi sự thật thì càng ngày càng già càng xấu
thì có!)
Có
lẽ vì thế mà kinh điển thường ca tụng chữ TÍN: “Tín
là cội nguồn và đạo, là cha mẹ chư Phật!” Tín đây
là niềm tin vững chắc nơi mình, không bị những trò giả
dối của trần cảnh lường gạt đến độ “thấy dê hóa
chó” đó em ạ!
Nghiệp
ác chưa thuần thục
Người
ngu tưởng ngọt ngon
Nghiệp
ác đã thuần thục
Người
ngu chịu khổ sầu.
(Pháp
Cú 69)
Những
dòng Pháp Cú kết thúc truyện cho chúng ta thấy rằng nhân
quả không hề sai chạy. Và muốn thóat khỏi nghiệp ác chỉ
có cách duy nhất là đừng để cho các pháp hư vọng lừa
gạt mình. Thấy dê mà nhìn ra chó là bình thường thôi, vì
không dễ mà thấy được thực tứơng của các pháp trên
trần gian này. Nhưng nên thấy, cả tướng dê và tứơng chó
– dù gọi là có hay không, dù gọi là sắc hay không, dù gọi
là hữu hay vô… -- cũng đều là y báo trong cõi này, theo nghiệp
trùng trùng biến hiện, hiển lộ theo cái chánh báo thân tâm
đầy nghiệp lực của chúng ta.
Hình
ảnh con chó còn được dùng trong Thiền Tông để chỉ cho
cái lanh lợi trật chìa.
Trong
cuốn “Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền”
của Thiền Sư Duy Lực, nơi tiểu mục “Phải Ngộ Tự Tánh,”
có hướng dẫn người tu Thiền như sau:
"Hàn
lu trục khối, sư tử giảo nhân" (Chó Hàn đuổi cục xương,
sư tử thì cắn người). Đây là hai câu thí dụ của Tổ
Sư, nghĩa là: Một người quăng cục xương, con chó đuổi
theo cục xương mà cắn, còn con sư tử thì không ngó tới
cục xương cứ cắn ngay người đó. Người đó dụ cho tự
tánh, cục xương dụ cho lời nói của Tổ, của Phật. Nếu
hướng vào lời nói của Tổ, của Phật mà ngộ là con chó,
hướng vào tự tánh mà ngộ là con sư tử.
Cổ
Đức nói: "Tử ư cú hạ (chết trong ngữ cú), hướng cử
khởi xứ thừa đương (hướng vào chỗ lời nói mà nhận
lấy)", nghĩa là lời nói của Tổ vừa nói ra, vừa nghe hiểu
liền cho đó là ngộ, nhưng sự hiểu ngộ đó còn nằm trong
ý thức phân biệt, mặc dù đúng lý thế gian rất lô-gích,
nhưng vì chẳng biết cần phải lìa ý thức mới chứng ngộ
được. Cho nên bị Tổ chê là Hàn lu (loại chó mực rất
thông minh ở nước Hàn).
Đọc
lời dặn dò trên của Thiền Sư Duy Lực, chúng ta mới thấy
rằng cái thông minh lanh lợi thế gian cũng làm cho nhiều người
tu bị kẹt. Nhưng làm sao để làm sư tử, thì lại là cả
một nan đề.
Hình
ảnh con chó còn được Thiền Sư Vân Môn dùng một cách mạnh
bạo hơn: Ngài sẵn sàng vác gậy đánh chết những kẻ làm/nói
sai chánh pháp để cho chó ăn…
Trong
cuốn “Đại Thừa Tuyệt Đối Luận” của Nguyệt
Khê Thiền Sư, bản Việt dịch của Thầy Duy Lực, có
các đọan viết như sau:
“Tổ
sư ngộ đạo Thiền Tông đối với ngụ ngôn trong kinh đều
dùng thái độ tuyệt đối để quét sạch nghi hoặc của con
người. Hiện nay đề ra một chuyện để dẫn chứng: Như
trong Thích Ca Phả nói Thích Ca ra đời, Đông Tây Nam Bắc mỗi
phương bước đi bẩy bước, mắt nhìn bốn phương một tay
chỉ trời một tay chỉ đất rằng: “Trên trời dưới đất
duy ngã độc tôn”, ấy là biểu thị Phật tánh từ thể
khởi dụng “đứng cùng tam thế ngang khắp mười phương”,
nghĩa là cùng khắp thời gian và không gian, cũng là tuyệt
đối chẳng hai.
Kẻ
không hiểu ý nghĩa ngụ ngôn thường cho là thần thoại do
bày đặt mà ra, hoặc cho Phật Thích Ca là chúa tể kiêu mạn
hoặc độc tài không có bình đẳng, kẻ ngu dại lại cho Phật
Thích
Ca là sinh ra có thần tánh đặc dị, ấy đều là không rõ
cách diễn tả về văn học của ngụ ngôn Ấn Độ và trong
đó có ám thị lý tuyệt đối.
Có
người đem truyện trên hỏi Vân Môn Thiền Sư, Vân Môn nói:
“Khi ấy nếu tôi gặp thấy, một gậy đánh chết cho con
chó ăn để mong thiên hạ được thái bình”. Sau này Lăng
Nha Thiền Sư bình phẩm Vân Môn về công án này rằng: “Hết
lòng phụng sự vô số cõi, ấy mới gọi là đền ơn Phật.”
Vậy
mới biết thái độ của Tổ Sư Thiền Tông đều là sáng
tỏ chính xác mà không thoả hiệp với kẻ khác, bởi vì đã
tiến vào tuyệt đối nên chẳng có kẻ nào làm lay động
được (Phật Thích Ca ám thị nghĩa bất nhị, Vân Môn cũng
ám thị nghĩa bất nhị)…”
Thực
sự là khó mà yên thân khi gặp Thiền Sư Vân Môn. Tới ngay
như Đức Phật kể chuyện hiển lộng thần túc, để làm
ngụ ngôn, mà vẫn còn bị Thiền Sư này chê, thì nói gì tới
người thường như chúng ta. Nhưng có mạnh bạo như thế,
ngài Vân Môn mới đẩy học trò tới chỗ không dùng được
lý luận nào nữa. Chỗ mà chúng ta vẫn đang đi đứng nằm
ngồi, đang nói cười đùa giỡn, mà vẫn an trụ vốn hằng
tịch diệt không lời, không tới không lui, không sinh không
diệt…
Một
hình ảnh về chó được ghi nhiều nhất trong Thiền Tông là
trong công án “Vô.”
Thiền
Sư Triệu Châu Tùng Thẩm xuất hiện trong một công án nổi
tiếng và tất nhiên là bí hiểm cực kỳ. Công án này được
ghi ở chương nhất, mở đầu của tập “Vô Môn Quan,”
một tuyển tập 49 công án trong Thiền Tông Trung Hoa.
Có
một tăng nhân thỉnh giáo Triệu Châu thiền sư (777-897): “Thưa
thiền sư, con chó có Phật tánh không?” Triệu Châu thiền
sư đáp: “Vô!”
Được
đặt ở đầu tập “Vô Môn Quan,” tất nhiên công án chữ
“Vô” này được coi như có tầm quan trọng lớn với Thiền
Tông. Chữ “Vô” trong tiếng Trung Hoa có nghĩa là “Không.”
Tuy
nhiên, chúng ta không nên nghĩ đơn giản rằng con chó không
có Phật Tánh. Nếu chúng ta nhớ lại phần đầu bài này,
nơi trích Tiểu Bộ Kinh, Phật kể rằng ngài đã từng tu hạnh
Bồ Tát và mang thân chó rừng chúa để tạo cơ duyên độ
chúng, thì câu nói của ngài Triệu Châu hiển nhiên là sai.
Nhưng
cũng đừng nên hấp tấp nói rằng “Có, rằng con chó có
Phật Tánh…” thì lại không đúng ý Thiền Tông, mà lại
trái ý ngài Triệu Châu.
Nhưng
tất nhiên, không thể vừa có vừa không, hay không có và không
không.
Chữ
“Vô” mang sức mạnh khác hơn.
Chúng
ta nơi đây cũng nên nhắc chuyện Đức Phật trả lời du sĩ
Vacchagotta trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikaya), bản Anh dịch
“The Connected Discouses of the Buddha” của Bikku Bodhi, NXB Wisdom,
ấn bản năm 2000, trang 1393-1394.
Lúc
đó, du sĩ Vacchagotta tới hỏi Phật:
“Thưa
Thầy Gotama, có ngã hay không?”
Đức
Phật im lặng.
Chúng
ta nên phụ đề nơi đây rằng “ngã” đây có nghĩa là một
cái “tôi, ta, mình” nào đó trong thân và tâm của chúng
ta.
Sau
đó, du sĩ hỏi thêm.
“Thưa
Thầy Gotama, không có ngã phải không?”
Lần
thứ nhì, Đức Phật im lặng.
Du
sĩ Vacchagotta rời chỗ ngồi và ra đi.
Ngài
Ananda mới hỏi Đức Phật vì sao không trả lời.
Phật
nói, nếu Phật trả lời có “một ngã” thì là đứng chung
một phe với các thầy Bà La Môn thuộc phái thường kiến
(tin có ngã trường tồn).
Phật
thêm, còn nếu Phật trả lời là không có “ngã” thì sẽ
đứng chung phe với các thầy Bà La Môn thuộc phái đọan kiến
(hư vô chủ nghĩa).
Sau
đó, Phật nói thêm, nếu Phật trả lời “có ngã” thì là
trái với lời Phật dạy trứơc giờ là “tất cả hiện
tượng đều vô ngã.”
Và
kết bản kinh là lời Phật giải thích:
“Và
nếu, khi ta được du sĩ đó hỏi, ‘Có phải không có ngã?’
Nếu ta trả lời, ‘Không có ngã,’ thì du sĩ Vacchagotta, vốn
đã lẫn lộn mơ hồ rồi, sẽ còn rơi vào sâu thêm lẫn lộn
mơ hồ nữa, nghĩ là, ‘Như dừơng rằng cái ngã mà tôi trứơc
đây đã có bây giờ không hiện hữu nữa.”
Hiển
nhiên, cực kỳ là khó, khi chúng ta đứng giữa có và không.
Nhưng đó không chỉ là chuyện kinh điển, mà thực sự còn
là đời thực mỗi ngừơi chúng ta. Bây giờ, bạn thử thí
nghiệm điều này: bạn hãy ra bờ biển, nhìn các lượn sóng
chập chùng. Bạn thấy rằng bọt sóng khởi rồi tan, liên
tục như thế. Và cả bạn nữa, ngừơi đang đứng nhìn đó,
cũng là hàng triệu tế bào trong người đang khởi rồi diệt.
Biến hiện liên tục như thế. Mặt biển (cái được nhìn)
mà bạn đang nhìn đều biến diệt trùng trùng, và chính bạn
(người nhìn) cũng biến diệt trùng trùng. Ngọn gió vô thường
đang thổi buốt xương bạn, cùng lúc cũng thổi gợn lên vô
lượng sóng biển trứơc mặt bạn.
Đứng
nhìn như thế, thì bạn sẽ thấy, vừa mới nói “có ngã”
thì thân tâm lập tức đã biến sang một tập hợp nhóm khác
rồi.
Mặt
khác, vừa mới nói “vô ngã” thì lại thêm nan đề: cái
thấy vô ngã, cái nghĩ vô ngã và cái nói vô ngã đó là gì.
Công
án “Vô” khi dịch ra tiếng Anh thường không dịch là “No”
(Không), mà nhiều Thiền Sư, trong đó có Ngài Philip Kapleau,
dịch theo âm Nhật Bản là “Mu.” Lý do chính là để thiền
sinh không trả lời vướng vào câu “Có” hay “Không.”
Nhưng
tại sao lại thắc mắc chuyện con chó có Phật Tánh hay không.
Các thiền sư vốn thực tế, không bận tâm chuyện lý luận
mà.
Vậy
thì, bạn hãy sống thực tế, hãy hít thở cái “Vô” đó,
để nó thành tòan thân của mình. Chỉ “Vô” thôi, mà không
phải là có hay là không. Xa lìa cả hai thứ có và không đi.
Nhìn vào mặt biển tâm mình, nơi những ngọn sóng niệm khởi
lên rồi diệt, để ngó xem cái “Vô” đó như thế nào –
Vô sắc, vô thọ, vô tưởng, vô hành, vô thức… Vô nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý… Vô sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp… Đúng vậy, Bát Nhã Tâm Kinh đó. Không hề có ngã gì
trong ngũ uẩn này, vừa mới nói tới nó, là nó biến dạng
liền.
Bạn
hãy nhìn tâm xem. Lặng lẽ nhìn hòai thôi. Hít thở cái “Vô”
đó xem. Đừng rời. Và rồi, sẽ tới lúc, ngày nào của bạn
cũng là ngày xuân.
(Ghi
chú: Một số truyện trích dẫn trên lấy từ các trang web
Phật Học: http://thuvienhoasen.org/, http://quangduc.com/, http://www.budsas.org/)