CÁNH ĐÀO
VÀ CÀNH MAI
Nguyễn
Hòa
"Mạc
vi xuân tàn hoa lạc tận
Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai "
Câu
thơ sau cùng trong bài thơ của thiền sư Mãn Giác rất hay về
cấu trúc nghĩa là hay về thi pháp. Nhưng nó cũng làm cho cả
bài thơ hay thêm rất nhiều về thi tứ, thi vị, về thiền
lý, thiền vị
nữạ.
Bây
giờ đọc và suy nghĩ lại bài thơ tôi không nghĩ là sẽ phân
tích được cái gì cho rõ ràng, vì khó làm lắm, vì chính
người làm thơ trước khi hạ bút xuống họ đâu có phân
tích, xếp đặt ý tưởng, hình tượng gì cho rõ ràng. Mọi
thứ đến với nhà thơ như từ cõi vô ý thức, qua trực giác,
nên khi đọc để thưởng thức thơ tôi cũng chỉ dùng trực
giác thôi, vì " làm sao phân tích làn hương " cho được. Ta
cảm nhận được cái hay tiềm ẩn trong một bài thơ hoặc
không cảm nhận được gì hết, vậy thôi .
Chép
lại nguyên bài thơ chỉ có 6 câu :
Xuân
khứ bách hoa lạc
Xuân
đáo bách hoa khai
Sự
trục nhãn tiền quá
Lão
tòng đầu thượng lai
Mạc
vi xuân tàn hoa lạc tận
Đình
tiền tạc dạ nhất chi maị
Mãn
Giác (1052-1095)
Bản
dịch của Ngô Tất Tố :
Xuân
đi trăm hoa rụng
Xuân
đến trăm hoa cười
Trước
mắt việc đi mãi
Trên
đầu già đến rồi
Đừng
tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm
qua, sân trước một cành maị
Bài
thơ này nguyên có cái tựa là "Cáo Tật Thị Chúng", tôi hiểu
có nghĩa "Nói là mình bệnh để dạy đệ tử". Về hình thức
thì bốn câu thơ đầu rất thường được thấy ở những
bài kệ mà các nhà sư đời Lý Trần hay dùng để thuyết
giảng ngắn gọn một giáo lý về đạo Phật, hay về Thiền
. Bài kệ như thế cũng thường có 4 câu , 5 chữ (có khi 6,
7 chữ) được viết bằng văn vần, với dụng ý có lẽ để
cho người nghe dễ nhớ, dễ gìn giữ trong đầu mà nghiền
ngẫm lúc thuận tiện một ý kinh thường rất sâu kín. Làm
với mục đích như thế nên nhiều bài kệ có khi chưa phải
thật sự là thơ.
Trước
hết, chúng ta thấy bốn câu kệ đầu tiên tuy có mang hình
tượng hay thấy trong thơ cổ , như "xuân, hoa lạc, hoa khai",
nhưng vẫn chứa đựng rất rõ các tư tưởng của giáo lý
nhà Phật : vấn đề sinh diệt, tính vô thường chi phối mọi
hiện tượng. Hoa nở hay tàn nằm trong điều kiện gọi là
duyên sinh, duyên hợp : xuân có đến thì hoa nở, xuân đi hoa
lại tàn. Vì thế mà chuyện đời cứ luôn thay đổi, tương
tục , đuổi bắt nhau theo dòng thời gian qua nhanh của mỗi
kiếp ngườị. Tóc nay đã bạc, thân nay đã già (bệnh)
là minh chứng cho luật Vô Thường, là chứng cớ không có
gì bền vững mãi, không có gì không bị hư mất đi.
Nhưng rồi hai câu thơ cuối bỗng như là lời thơ rất quen
thuộc đã gặp ở đâu đây, như là đến từ một tập thơ
Đường :
Mạc
vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai.
Có
cái gì bất ngờ hiện ra ở đây về giọng thơ, về hình
tượng, về ý tưởng. Hai câu thơ đột nhiên viết thành 7
chữ cho dài ra, cho nhịp thơ trở nên chậm lại, để làm
cho ý thơ được nhận thức kỹ càng hơn. Lời thơ bỗng dưng
thành trang trọng . Hình tượng thơ cũng thành rõ nét , không
còn là những mùa xuân mơ hồ nào đó với chuyện hoa tàn
hoa nở rất chung chung, mà bây giờ là một cái gì cụ thể,
rất gần gũi, dễ nhận thấy : cành mai ở trước sân còn
tươi thắm vì mới nở đêm qua. Một hiện tượng cá biệt
được minh định , xảy ra ở một không gian, vào một thời
gian nhất định: một cành mai, sân trước, đêm qua. Một ý
tưởng mới mẻ đột nhiên được đưa lên như một phản
đề. Vừa mới dựng câu chuyện đổi thay là tất yếu , là
quy luật tự nhiên, thì bây giờ chợt có cái gì rất nghịch
thường : mùa xuân đã đi qua rồi, mà vẫn có ở đây một
cành mai mới nở. Cái nghịch thường này như là biểu hiện
của một cái gì thường hằng, tồn tại trên những hoại
diệt do tính vô thường gây ra. Từ một góc nhìn, cành mai
nở trong đêm giữa lúc mùa xuân tàn tạ đã thể hiện cho
niềm vui đến từ khổ đau, như hoa sen nở trên bùn. Đạo
Phật được biết đến lúc ban đầu như đi từ những nhận
thức về luật vô thường là nguyên nhân gây ra hư hoại và
khổ đau. Nhưng tới Đại Thừa, bao gồm cả Thiền tông
của Mãn Giác, đã hình thành những tư tưởng về Thường
, Lạc... đến từ vô thường, khổ đau.
Hơn
nữa, cành mai được nhận thấy là vẫn còn có mặt lúc tàn
xuân, không lệ thuộc vào sự thay đổi của thời tiết, sự
biến dịch của thiên nhiên, nên cũng có thể hiểu đó như
là Phật tính, là bản thể không hư hoại, thường tịnh,
nói theo ngôn ngữ Phật giáọ. Hình ảnh hoa mai nở nằm cuối
bài thơ , nếu lại nhìn ở góc cạnh khác xa hơn, có thể
thấy như sự bừng sáng đột ngột của tâm thức mà Thiền
tông chủ trương, từ cái được gọi là đốn ngộ Phải
chăng đó là những điều mà thiền sư Mãn Giác muốn các
đệ tử ông suy ngẫm khi tìm hiểu về ý nghĩa, mục đích
của thiền ?
Có
một kỹ thuật sắp xếp chữ nghĩa xảo diệu nhằm tạo ra
một hình ảnh sắc sảo, một ấn tượng khó quên sau khi đọc
bài thơ : Một Cành Maị
Đình
tiền ( gợi ý gần đây)/ tạc dạ (gợi ý mới nở)/nhất
chi maị.
Một
cành mai khi đặt nằm vào chỗ chấm dứt bài thơ đã choáng
hết tâm trí người đọc , làm cho mọi suy tư, cảm nghĩ dừng
đứng lại, hay ngưng đọng lại trên một hình tượng đẹp
đẽ , thanh khiết. Đó cũng là một mục đích của thiền.
Thật khó biết được thiền sư Mãn Giác đã có dụng ý làm
vậy hay không ? Nhưng với người đọc bài thơ này thì cũng
không cần biết gì về các thuyết lý của bốn câu (kệ)
mở đầụ Cũng không cần nhớ đến bất cứ ý nghĩa gì
về thiền, về kinh Phật. Vì ba hình tượng " đình tiền/
tạc dạ/ nhất chi mai" đã liên kết tạo nên một ảnh tượng
chung đầy chất thơ, một cảm xúc rất mạnh vượt khỏi
ý nghĩa của chữ, của lời , để tạo nên một ý thơ tuyệt
đẹp, có thể lấn át cả ý thiền.
Cho
nên người ta thường biết đến 6 câu thơ đó chỉ như là
một bài thơ hơn là một thiền thi. Và là một bài
thơ được nhiều thế hệ đón nhận và cho là haỵ
Trong
thơ cổ Trung Hoa cũng có những bài kết thúc với một hình
tượng mạnh mẽ như vậỵ Như là bài "Đề tích sở kiến
xứ " của Thôi Hộ. Bài thơ này có 4 câu thất ngôn,
nhưng ba câu đầu rất (tầm ) thường :
Khứ
niên kim nhật thử môn trung
Nhân
diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân
diện bất tri hà xứ khứ
(Năm
ngoái ngày này tại cửa này
Mặt
người và hoa đào cùng chiếu vào nhau mà hồng lên
Mặt
người không biết bây giờ ở đâu)
Mấy
câu đó thật khó nhận được là những câu thơ haỵ Nhưng
câu thơ cuối cùng nhờ có một hình tượng mạnh, mang sức
thu hút lớn do những nét đẹp đầy quyến rũ, làm cho bài
thơ thành vượt trội , để đến nay vẫn còn nhiều người
thích đọc :
Đào
hoa y cựu tiếu đông phong
(Hoa
đào năm ngoài còn cười gió đông - Kiều)
Hoa
đào phất phơ trước gió xuân là hình tượng đủ đẹp để
nắm bắt mọi cái nhìn, chấm dứt những suy nghĩ vẩn vơ
khác . Nhưng từ đó lại gợi dậy những xúc cảm về một
khoảng trống vắng, về sự mất mát lớn, bên ngoài và trong
lòng, về một hình ảnh (má hồng) khó quên của người con
gái đẹp năm nào, và xúc cảm vừa nẩy sinh còn khả năng
mở rộng hơn , đưa tình cảm đi xa thêm tới một cung trời
hoài vọng. Bài thơ bỗng trở thành rất haỵ Nhưng ở
đây, phải nhận thấy có chỗ không giống nhau giữa hai hình
tượng mà mới nhìn như thể là có chỗ tương đồng (giữa
mai và đào) trong hai bài thợ. Có chỗ không giống nhau
vì hai mục đích thơ khác nhau, do thể loại khác nhau giữa
thơ trữ tình và thơ thiền.
Hoa
đào của Thôi Hộ đứng ở đầu câu kéo theo những hình
ảnh khác (năm ngoái, gió xuân) gợi mở cho dòng xúc cảm rộng
hơn, nhưng rồi cánh hoa đào bị mờ nhạt đi vì những hình
ảnh tiếp theo sau nó, để chìm mất trong mối xúc cảm mênh
mông, có tính chiếm đoạt tất cả .
Cành
mai của nhà sư Mãn Giác là điểm chấm cuối cùng, mang ý
nghĩa hội tu, giữ chặt tâm ý dừng lại trên nó, không đi
xa hơn, không đi cao hơn, chỉ có thể ở đây, bây giờ , dù
có khả năng đi vào trong, lắng sâu .
Cũng
không phải lạ khi bài thơ duy nhất của nhà sư Mãn Giác đời
Lý được nhiều người coi là có được một ngôi bậc cao
trong làng thơ thiền Việt Nam và Trung Hoa.
Nguyễn
Hòa