TẾT NÓI
CHUYỆN HOA MAI
Hà
Xuân Liêm
Mỗi
năm cứ vào độ cuối đông, khi Tết sắp về là hoa mai bắt
đầu nở. Cái duyên keo sơn giữa mai và Tết như đã được
thiên nhiên an bài đâu từ thuở kiếp xa xăm. Nhưng ta phải
nói rằng mai là một loại cây đặc biệt của châu Á. Mai
đẹp không những ở hoamà còn ở cành cây mà người chơi
mai thường gọi là "cái thế". Cành mai có những nét ngoạc
rất bất ngờ: đã kỳ cổ lại cương nghị, xương kính;
những đờng uống cong dịu dàng; những nét đâm ngang những
cành sổ dọc rất mạnh. đang thế đi ra cành mai bỗng ngoạc
trở lại một cách đột ngột, bất ngờ làm cho con mắt người
thưởng thức phải đổi hướng một cách thích thú; rồi
bỗng cành mai lại chĩa vút lên không và giữa một cái ngoạc
rất "chướng" đó lại bỗng nở ra một cành hoa vàng rất
đột ngột, lại có cành tưởng là chĩa về bên trái thì
thình lình ngoạc xuống không báo trước, rồi lại chĩa về
bên phải như làn chớp xẹt và trên đó mang cả một chùm
hoa mãn khai chen lẫn hàm tiếu và búp hoa chưa trổ. Thực
lạ lùng! Thế nhưng chưa hết. Người chơi hoa còn thưởng
thức cả những màu nơi cành mai và cả những địa y, cả
một số rêu đậc biệt bám vào cành hoa. Phải nói những
màu ở cành mai là những màu rất đặc biệt mà chỉ có thiên
nhiên mới có thể cấu tạo nỗi. Một vệt màu đen, một
đám màu da cam, một khoảng mà trắng xanh phớt nhẹ được
phối hợp điều hòa nói lên cái tuổi tác của cành hoa mà
người chơi hoa rất ca ngợi "lão mai". Những lộc lá non
trên cành hoa cũng đươc người thưởng mai rất để ý.
Màu lục non xanh trong như ngọc từ trong những bút hình móng
gà tỏa ra. Những chùm lá non này đã trợ màu cho những
chùm hoa vàng thêm ý nghĩa.
Người
chơi mai thường tỉ mỉ để ý đến những cái búp trên cành
mai: búp tròn mới nhú hạt cườm chính là những chùm hoa rực
rỡ đang thời ẩn náu; còn những búp dài nhọn như móng chân
gà là những lá non chưa đến kỳ xuất hiện. Cho nên khi
chọn cành mai chơi Tết, người sành mai rất lưu ý đến hai
loại búp này để biết cành mai có hoa nhiều hay ít... Bây
giờ, tưởng đã đến lúc nói đến cái hương thơm của cây
mai. Hoa mai rất thơm, nhưng rất khó thưởng thức hương
mai bởi vì nó là một thứ "ám hưong". Tiết trời càng lạnh,
mai càng tỏa hương thơm ngát; nhưng nếu tâm người vọng
động vì danh lợi quá thì khó lòng cảm được hưong mai.
Trong
thơ văn, mai được ca ngợi vô cùng tận. Bởi vì mai là
loại hoa rất cao khiết, cương nghị. Mai trổ sớm nhất trong
các loại hoa mùa xuân. Khi những lá mai già của năm cũ vừa
rụng hết thì tiết trời càng lạnh ngắt. Hoa mai đã chọn
cái thời tiết lạnh nhất; không một sắc hoa tươi thắm,
không một lá non trợ màu để làm lúc xuất hiện của mình.
Chính vì chỗ này mà người quân tử phương đông đã chọn
hoa mai để biểu hiện cho chí khí của họ. Trong cuộc nhân
sinh, Cao Bá Quát đã từng tuyên bố:
"Thập
tái luân giao cầu cố kiếm
Nhất
sinh đê thứ bái mai hoa."
Suốt
cả cuộc đời nhà thơ chỉ "cúi đầu lạy hoa mai" Thật
là khí cốt hạo nhiên! Tại VN ta đã từng lưu hành những
bộ đồ trà có cây mai làm đề tài. Nỗi tiếng nhât là
bộ chén dĩa trà"Mai hạc" có câu thơ nôm trích trong truyện
Kiều của Nguyễn Du:
"Nghêu
ngao vui thú yên hà
Mai
là bạn cũ, hạc là người quen."
Cây
mai ở bộ chén đĩa trà này vẽ theo kiểu chữ "Nữ". Cây
mai uốn cong rất nhiều hoa, một tảng đá và một con chim
hạc đứng trên tảng đá. Câu thơ viết theo hai cách: 6/2/6
hoặc 6/8 theo dòng dọc kiểu chữ nho. Chén dĩa màu men xanh
ngọc và ký hiệu hãng "Ngoạn Ngọc" chế tạo. Nói cho xác
đáng thì cây mai ở bộ chén đĩa "Mai Hạc" không lấy gì
làm mỹ thuật lắm, và nó cũng không diễn tả được cái
cốt cách cương nghị, xương kính của loài mai. Cũng hình
vẻ này nhưng lại có loại chén dĩa có đề câu thơ chữ
Hán "Hàn mai xuân tín tảo", tức là cành mai lạnh báo tin xuân
về sớm. Loại chén đĩa chữ Hán này không nổi tiếng bằng
bộ trên, có lẽ vì câu thơ Nôm quá có giá trị chứ không
vì cây mai đẹp. Một bộ chén đĩa trà khác vẽ một cây
mai rất đẹp, không có hoa nở chỉ có cành và búp, không
có lá. Dưới gốc mai có mấy tảng đá lớn nhỏ khác nhau,
có cỏ non và đầy rêu. Một cây cầu nhỏ vắt ngang con suối,
một cao sĩ cưỡi lừa qua cầu đi trước, một tiểu đồng
vác cành mai theo sau. Bên kia chén đối diện với tranh vẽ
có câu thơ: "Độc thán mai hoa sấu" viết thành hai dòng: "Độc
thán mai" ở dòng thứ nhất, "Hoa sấu" ở dòng thứ hai, dưới
hai chữ này có khuôn dấu vuông thành sáu vị trí đối nhau.
Câu thơ này vốn là của Khổng Minh trong Tam Quốc: "Kyï lô
quá tiểu Kiều, độc thán mai hoa sấu", có nghĩa là: cưỡi
lừa qua cầu nhỏ, để kiếm cành mai gầy. Đề tài này các
trà hữu thường gọi là đạp tuyết tầm mai tức là dẫm
lên tuyết lạnh để tìm hoa mai. Bộ chén đĩa có nhiều nước
men: men màu vỏ trứng gà so do hãng "Nhã Thâm Trân Tàng" chế
tạo; và men màu xanh ngã trắng của hãng "Nội Phủ". Cây mai
ở bộ chén đĩa này đẹp hơn cây mai ở bộ "Mai Hạc" rât
nhiều. Tính chất vừa thanh nhã vừa cao khiết đều có ở
cây mai của bộ đồ trà đạp tuyết tầm mai này...
Trong
hội họa xưa thì mai đứng đầu trong "Tứ hữu": Mai, Lan,
Cúc, Trúc. Các nhà Nho thường trang trí bộ tranh "tứ hữu"
này ở chỗ mình ngồi. Cây mai trong bộ tranh này vẽ thật
nhiều kiểu; tựu trung nét vẽ vẫn chưa diễn tả nỗi những
cái chướng rất bất ngờ ở loài mai. "Mai điểu" tức là
cành hoa mai và mấy con chim đậu hoặc lượn trên cành mai
là một đề tài rât quen thuộc của các bác thợ nề ngày
xưa thường đắp bằng mảnh sứ để trang trí ở các nhà
thờ họ hoặc ở đình, chùa. Nhưng... hay nhất thì phải
nói là cành mai trong văn thơ. Mai vẽ trong nơi chén, đĩa
trà, mai vẽ ở tranh tứ hữu hay mai trang trí ở đâu thì đều
ít gợi đến trí tưởng tượng của người ta, vì hình ảnh
thực có trước mắt đã quy định một phần lớn hình dáng
cây mai.
Đằng
này, văn thơ- nhất là trong thơ- chỉ cần mấy chữ gợi hình
là người đọc tha hồ nghĩ tới cây mai hoặc cây mai mình
thích. Trong bài Tạp Thi, Vương Duy (701-761) vừa là thi nhân
vừa là họa sĩ- đời Đường đã viết:
"Quân
tự cố hương lai
Ưng
tri cố hương sự
Lai
nhật ỷ song tiền
Hàn
mai hoa trước vị"
Một
người từ cố hương đến thăm, thi nhân không hỏi gì mà
chỉ hỏi "Cây mai mùa lạnh nở nhiều hoa chưa?"
Thực
cũng đã đáo để!
Một
nhà thơ Nhật Bản đã vịnh mai qua bốn câu thơ:
"Cửu
châu đệ nhất mai
Kim
dạ vị quân khai!
Dục
thức hoa chân ngụy
Tam
canh đạp nguyệt lai"
Ông
Hoa Bằng, cách đây 48 năm đã dịch ra thơ Việt:
"Cành
mai đệ nhất Cửu Châu
Đêm
nay nở mấy bông đầu vì anh
Muốn
coi hư thực cho rành
Giẵm
trăng tìm đến lối canh ba này".
Thi
nhân Việt Nam đã không chịu thua hai nhà thơ ngoại quốc nó
trên trong việc ca ngợi và thưởng thức hoa mai. Lê Cảnh
Tuân trong bài "Nguyên Nhật" đã viết"
"Lữ
quán khách nhưng tại
Khứ
niên xuân phục lại
Quy
kỳ hà nhật thị ?
Lão
tận cố hương mai"
Thân
mình phiêu bồng nơi quán trọ không lo, lại lo cho "cây mai
ở quê cũ càng ngày càng già đi".
Huyền
Quang Tôn Giả một thiền sư danh tiếng đời nhà Trần, đệ
tam Tổ phái Trúc Lâm cũng là một thi nhân tài hoa tuyệt đỉnh.
Ngài thường có những bài thơ nho nhỏ tuyệt hay và Ngài cũng
đã có bài "Mai hoa tác" tức là Vịnh hoa mai:
"Dục
hướng thương thương vấn sở tùng?
Lẫm
nhiên cô trỉ tuyết sơn trung
Chiết
lai bất vị già thanh nhãn
Nguyện
tá xuân tư tuý bệnh ông"
Toàn
bài không nói đến một chữ mai nào cả nhưng suốt câu thứ
hai đã ca ngợi hết sức cái đặc tính của cây mai. Đứng
một mình giữa non trơ trọi đầy tuyết trắng. Tuyết thì
đương nhiên là lạnh. Nhưng tác giả thì sao? Tác giả đã
bẻ một cành mai trong miền tuyết lạnh ấy đem về. Một
cành mai không chỉ là một cành mai, mà một cành mai là cả
một mùa xuân, có mai là có xuân. Vẫn biết thơ của Huyền
Quang Tôn Giả là loại thơ Thiền, "thi trung hữu đạo" nhưng
"dĩ lai đạo bản vô ngôn". Đề bài là vịnh hoa mai song không
hề nhắc đến mai mà lại ca ngợi cái tính chất đặc biệt
của mai qua màu tuyết lạnh mà mùa xuân với cái trơ trọi
của nó, không có cây lá nào hỗ trợ. Thực là loại thơ
tượng trưng về mai vậy.
Đến
hình ảnh cây mai trong bài "Loạn Hậu" của Tuyết Giang Phu
Tử mới là tuyệt mỹ:
"Tương
phùng loạn hậu lão tương thôi
Khiến
luyến ly tình tử số bôi
Dạ
tĩnh vân am thùy thị bạn ?
Nhất
song minh nguyệt chiếu hàn mai".
Cành
mai của Vương Duy của nhà thơ Nhật Bản và cả Lê Cảnh
Tuân nữa thì vẫn là con người trùm lên cảnh vật, người
thụ hưởng thiên nhiên. Giữa con người và thiên nhiên còn
có một khoảng cách. Đến cây mai của Huyền Quang Tôn Giả
thì con người và thiên nhiên đã có sự hỗ tương tình cảm.
Nhưng trong cái "Thiên" "Nhân" tương dữ một cách thân mật,
rốt ráo thì phải đợi đến Tuyết Giang Phu Tử. Sau khi loạn
lạc Phu Tử ở ẩn tại Bạch Vân Am, ít giao du với đời,
cái đời Trịnh Mạc mấy ai lại chẳng biết? Và cuộc đời
cũng như tư cách của Phu Tử ai lại chẳng tự hào? Cho nên
không lạ gì khi nghe Ngài hỏi: "Dạ tĩnh Vân Am thùy thị bạn?"
và Ngài tự trả lời: " Nhất sông Minh nguyệt chiếu hàng
mai!" Giữa mai dưới trăng sáng đầy khí lạnh của sương
móc và Tuyết Giang Phu Tử đã có một tình cảm bạn bè cố
hữu, thân mật. Mai là người và người là mai. Cây mai
ở đây là cây mai đẹp cương nghị, cao khiết và trang nhã;
cây đẹp của văn chương và triết lý phương Đông ngày trước.
Cây mai trọn vẹn cả hương lẫn thế, cả thế thực lẫn
thế ảo của bóng cành do cành cây chiếu. Tuyệt hảo!
Mỗi
độ Tết về, khắp cõi VN ai cũng chơi mai. Nhưng chơi mai
thì nhiều mà hiểu mai thì chắc ít. Chơi mai, vì mai của dân
Việt chính là mai của Huyền Quang Tôn Giả. Có mai là có
xuân. Một cành mai cắm và lọ độc bình - bằng đất chứ
không là bằng đồng bở nguyen do là vì kim khắc mộc - để
ở chính giữa nhà là đã có môt mùa xuân rực rỡ, môột
cái Tết đầy hy vọng đang ngự trị trong gia đình. Người
ta chơi mai không phải chơi để thưởng ngoạn, để cho đẹp
mà cành hoa mai ngày Tết còn biểu hiện cả cuộc sống gia
đình trong năm mới sắp đến. Cành mai có "thế" đẹp cân
đối hoa nở đầy đủ tươi có lá non trổ lộc là điềm
hay cho gia chủ.
Nếu
có hoa sáu cánh hay hoa bốn cánh thì càng lại hay hơn. Người
Việt đã đưa vũ trụ quan vào nhân sinh quan, một nhân sinh
quan biến thành theo Dịch Lý của phương Đông. Một cành
mai như thế phải có đủ cả thượng, hạ, tả, hữu. Theo
chiều đứng phải biểu hiện được tam tài: thiên, địa,
nhân, tức là phải có cái thế cân xứng : có ở dưới, có
ở trên và ở giữa. Theo chiều ngang phải có tiền hậu
tả hữu, tức là cành hoa phải có "Cái thế" nào đó mà nhìn
vào ngã nào cũng có hoa. Đó là nói về cấu tạo cành hoa.
Còn về hoa thì có năm loại: một số hoa đã rơi cánh, xếp
lá đài; một số rất nhiều đang thời thịnh khai; rồi phải
có hoa đang hàm tiếu; hoa búp đang tiến triển và cuối cùng
là nụ tròn mới nhú hạt cườm. Lá cần có ba loại: lá
non hay đậm màu, bản lá mở rộng; lá non nẩy lộc phần
này quan trọng nhất và sau hết là nụ lá hình móng gà...Nói
chung sự hài hòa của cành, hoa, nụ, lá phải đến độ gần
như tuyệt đối phải có. Cấu tạo cành mai biểu hiện cho
không gian, cấu tạo hoa biểu hiện cho thời gian. Dòng đời
trôi chảy tiếp tục từ quá khứ sang hiện tại. Quá khứ
đã qua không còn quan trọng, hiện tại rực rỡ phấn chấn
mới là hay. Phần hoa thịnh khai nở rộ trong ba ngày Tết
thêm lá non nẩy lộc tươi mát mới là phần thiết yếu; các
búp hoa, lộc lá cứ tiếp tục cái rực rỡ của thời thịnh
khai ấy lại là phần trọng yếu nhất bởi nó là nguồn
hạnh phúc, làm ăn phát đạt sung túc của gia đình trong năm
mới đang lần lần đi tới với gia chủ.