Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
BIỂU TƯỢNG HOA ĐÀO 
Nguyễn Phương Châm

Trong thế giới đa sắc của các loài hoa, hoa đào là thứ hoa đẹp và quý. Hầu hết các bộ phận của cây đào đều có giá trị đối với đời sống thực tế. Trong văn hóa của nhiều quốc gia, chủ yếu là các quốc gia phương Đông, hoa đào, cây đào, quả đào được lựa chọn làm biểu tượng với rất nhiều ý nghĩa khác nhau. Trước hết chúng tôi muốn nói đến cây đào trong tự nhiên với các tính chất sinh học của nó. Đào là cây gỗ nhỡ, thuộc họ hoa hồng, cao khoảng 3 - 4m, lá đơn mọc so le, phiến hẹp và dài, cuống ngắn, mép có răng cưa nhỏ, hoa màu hồng nhạt, mọc riêng lẻ, có 5 cánh, cuống hoa ngắn, nhị hoa có khoảng 35-40 cái, quả hạch có rãnh dọc, ở mặt ngoài có phủ nhung tơ. Nhân hạt, hoa, lá đào đều có tác dụng y học chữa một số bệnh cho người (1). 
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới đào có những ý nghĩa biểu tượng sau:

   - Hoa đào biểu tượng cho mùa xuân

   - Hoa đào là hình ảnh của sự đổi mới và sức sinh sản dồi dào. ở Trung Quốc người ta lấy nó biểu tượng cho lễ cưới.

   - Hoa đào tượng trưng cho sự trong trắng và thủy chung theo quan niệm của người Nhật Bản.

   - ở Trung Quốc quả đào được xem là có tác dụng phòng chống những ảnh hưởng xấu, trừ tà ma. Ngoài ra cây đào và quả đào thường biểu trưng cho sự trường sinh bất tử gắn với huyền thoại về cây đào của Tây Vương Mẫu cứ 3000 năm lại ra quả một lần, ai ăn quả đó sẽ được trường sinh bất tử.

   - Cũng với người Trung Quốc vườn đào ngoài việc gắn với đề tài lịch sử Lời thề ở vườn đào, nó được xem là khu vườn địa đàng, vườn của sự trường sinh, sự tới đích của hành trình thụ pháp. Người ta còn dùng gỗ cây đào khắc thành những hình nhân treo trên cửa ra vào để tránh tà ma hoặc chế tạo ra những cây bút trong thuật bói toán, những cây bút gỗ đào này khi chuyển động sẽ viết nên những văn tự tiên báo tương lai (2).

Trong văn hóa Việt Nam, hoa đào cũng như cây đào, quả đào không hàm chứa hết những ý nghĩa biểu tượng ở trên mặc dù những ý nghĩa ấy không xa lạ gì với người Việt Nam qua lịch sử, văn hóa Trung Quốc cũng như Nhật Bản. Với người Việt Nam biểu tượng đào chủ yếu tập trung ở ý nghĩa của hoa đào, vườn đào mà ít khi nhắc đến cây đào hoặc quả đào. Điều này thể hiện rõ trong ca dao. Chúng tôi đã thống kê trong bộ Kho tàng ca dao Việt Nam có 103 lời nói tới đào trong đó chiếm số lượng chủ yếu là hình ảnh của hoa đào và vườn đào.

Người thiếu nữ và hoa vốn đã có mối quan hệ đặc biệt với nhau qua sự tìm hiểu của chúng tôi đối với biểu tượng hoa sen, hoa hồng... với biểu tượng hoa đào mối quan hệ trữ tình ấy lại một lần nữa được khẳng định. Các thi sĩ dân gian đã không lầm khi khắc họa vẻ đẹp người phụ nữ trong sự tương quan với hoa đào, đôi khi là búp đào, đào tơ hay quả đào non:

Thấy em mắt phượng môi son
Mày ngài da tuyết đào non trên cành
Hình ảnh người con gái đứng bên hoa đã từng là đề tài cho vô số những tác phẩm nghệ thuật từ cổ đến kim. Với ca dao hình ảnh ấy được khắc họa như một bức tranh trữ tình:
Hôm qua thơ thẩn vườn đào
Thấy người thục nữ vít cành đào hái hoa
Người con  gái xuân sắc giống như hoa đào đang còn độ hàm tiếu hấp dẫn bao người:
Đi ngang thấy búp hoa đào
Muốn vào mà bẻ sợ bờ rào lắm gai
Bông đào choi chói nở ra
Giơ tay muốn hái sợ nhà có cây
Trái đào chín hây hây má đỏ cũng được ví với vẻ đẹp rực rỡ của người con gái, vẻ đẹp ấy để lại bao niềm tiếc nuối cho các chàng trai:
Ngắn tay với chẳng tới cao
Tiếc ôi là tiếc trái đào chín cây
Không chỉ hoa đào, búp đào, quả đào được ví với người con gái mà cả cây đào cũng được ca dao lấy làm biểu tượng cho người con gái:
Công anh gánh đất đắp cội cây đào
Công anh rào dậu để cho ai vào hái hoa
Cây lê, cây lựu cây đào
Ba bốn cây đứng đó cây nào còn không?
Từ ý nghĩa biểu tượng cho người con gái hoa đào gắn với tình yêu đôi lứa, gắn với chuyện nhân duyên. Biểu tượng vườn đào xuất hiện nhiều lần trong ca dao với rất nhiều ý nghĩa khác nhau mà hầu hết những ý nghĩa ấy gắn với tình yêu. Cũng giống như biểu tượng vườn hồng, vườn đào là khu vườn yêu nơi người con gái gửi gắm tình cảm của mình. Vườn đào có huê là nói đến người con gái đang sẵn sàng bước vào giai đoạn yêu đương:
Hỏi chàng quê quán nơi nao
Sao mà chàng biết vườn đào có huê
Anh là khách lạ đường xa
Biết đây có gái đào hoa tới tìm
Sự ngỏ lời của chàng trai trở nên vô cùng ý nhị khi anh ta muốn gửi gắm tình yêu của mình tới cô gái bằng hình ảnh xin gửi cây lan, cây huệ tới trồng ở vườn đào:
Vườn đào có đám đất không
Anh có cây lan cây huệ đưa vào trồng tốt chăng?
Hình ảnh vườn đào đầy xuân sắc hấp dẫn biết bao bướm ong qua lại giống như sự tấp nập kẻ ra người vào của chốn "lầu hoa" nơi có người con gái đẹp đang tuổi kén chọn bạn tình:
Bướm vàng, bướm trắng, bướm xanh
Bay qua lượn lại quấn quanh vườn đào
Bướm lớn bướm nhỏ lao sao
Tung tăng vườn đào hút nhụy đưa hoa
Dừng xa khoan kéo ai ơi
Hình như ong bướm dạo chơi vườn đào
Chốn vườn đào là hình ảnh tượng trưng cho nơi gặp gỡ của các cô thôn nữ và các chàng nho sĩ mà không nhất thiết phải có một vườn đào thực ngoài đời:
Vườn đào vừa tốt vừa tươi
Mời chàng nho sĩ vào chơi vườn đào
Trăm hoa đua nở vườn đào
Mời chàng nho sĩ bước vào thăm hoa
Vẫn chỉ là chuyện muôn thuở của các chàng trai khi thể hiện quyết tâm của mình trong tình yêu. Các thi sĩ dân gian đã tưởng tượng ra hình ảnh vườn đào quyến rũ nhưng lại có vô vàn khó khăn ngăn trở đòi hỏi người con trai phải có quyết tâm lớn để chiếm được tình yêu của người con gái:
Lầm nghe núi cả non Bồng
Dạ cam mà chỉ ngọt bòng, ngon sao
Ra tay bẻ khóa vườn đào
Rẽ mây gạt gió, lọt vào kết duyên
Vẫn là biểu tượng vườn đào nhưng khi vườn đào ấy vắng bóng bướm ong qua lại là lúc người con gái đã phai má đào mà vẫn không có tình yêu:
Chồng còn mô có anh nào
Em còn lận đận vườn đào sớm trưa
Cũng vẫn trong vườn đào yêu đương ấy hình ảnh Sen ngó đào tơ lại là hình ảnh của mối tình đầu lãng mạn thuở mới lớn:
Duyên còn sen ngó đào tơ
Khách tình xin sẽ qua vô vườn đào
Đào tơ sen ngó xanh xanh
Ngọc lành còn đợi giá lành đẹp duyên
Không chỉ biểu tượng vườn đào mà biểu tượng hoa đào nói chung đã thể hiện rất nhiều trạng thái tình cảm khác nhau của tình yêu đôi lứa. Sự lo sợ của người con gái trước khi trao gửi tình yêu được thể hiện thông qua hình ảnh mong manh của hoa đào trước nắng gió cuộc đời:
Vóc bồ liễu e dè gió bụi
Đóa hoa đào sợ hãi nắng sương
Em biết đâu là khách đài chương
Ngãi nhân giữ được bực thường vậy chăng
Hoa đào héo nhụy biểu tượng cho người con gái đã qua thời xuân sắc nhưng không phải là đã hết duyên:
Hoa đào héo nhụy anh thương
Anh mong bẻ lá che sương cho đào
Tuổi xuân của người con gái rồi cũng đến lúc nhạt phai như tuổi của một đời hoa. Lời trách móc của người con gái đối với người bạn tình không chung thủy nghe thật chua xót:
Thân thiếp như cánh hoa đào
Đang tươi đang tốt thiếp trao cho chàng
Bây nhờ nhụy rữa hoa tàn
Vườn xuân nó kém sao chàng lại chê
Hoa đào trong vai trò biểu tượng cho tình yêu được ca dao sử dụng nhiều theo từng cặp biểu tượng cho đôi bạn tình. Cặp biểu tượng thường gặp nhất và 
cũng quen thuộc nhất với người Việt Nam là mận - đào qua những lời ca dao tỏ tình nổi tiếng:
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Đêm qua mận mới hỏi đào
Vườn xuân đã có ai vào hái hoa?
Sự quấn quít của mận - đào đã thể hiện mơ ước về một tình yêu đôi lứa hạnh phúc.
Muốn cho mận ở với đào
Tình ở với tính lúc nào chẳng vui.
Sự trách móc, hờn dỗi trong tình yêu được ca dao thể hiện rất đặc sắc thông qua lời tự tình của cặp bạn tình: đào - mận:
Vì đào nên mận chẳng quên
Vì đào nên mận ngậm phiền nhớ mong
Vì đào nên mận long đong
Xin đào chớ ở ra lòng Bắc Nam
Cặp biểu tượng mận đào cũng có lúc không trong vai trò là đôi bạn tình mà chỉ đơn thuần biểu tượng cho con người, nhất là người con gái. Ca dao dùng hình ảnh Khi xưa cành mận khi nay cành đào để nói đến người con trai không chung thủy:
Xin chàng hãy bỏ tay ra
Đến mai về cửa về nhà sẽ hay
Chàng đừng cầm lấy cổ tay
Khi xưa cành mận khi nay cành đào.
Cũng xuất hiện khá nhiều trong ca dao là cặp biểu tượng lựu - đào hầu hết mang ý nghĩa của sự trắc trở, chia xa trong tình yêu để lại nỗi nhớ thương da diết cho đôi bạn tình:
Sen xa hồi sen khô hồ cạn
Lựu xa đào lựu ngả đào nghiêng
Vàng trên tay rớt xuống không phiền
 Phiền người bội nghĩa biết mấy niên cho hết sầu.
Lời em phân gan thắt ruột bào
Vì đâu xui khiến lựu với đào xa nhau

Mấy lâu cách lựu xa đào
Cây cao xa bóng biết ngày nào gặp nhau.

Lựu lại gặp đào là chuyện vô cùng hiếm hoi trong ca dao được dùng diễn tả những sự kiện khó có thể xảy ra kiểu như dân gian ta thường nói Rồng đến nhà tôm vậy:
Bữa nay lựu lại gặp đào
Cựu tình tương hội lẽ nào chẳng vui.
Lựu và đào luôn biểu tượng cho sự cách trở trong tình yêu của đôi bạn tình. ý nghĩa này phải chăng xuất phát từ thực tế hoa đào nở vào mùa xuân, hoa lựu nở vào mùa hè. Khi hoa đào đã tàn hết, quả đào đã xanh mướt thì hoa lựu mới nở. Khi quả đào đã được hái hết khỏi cây vào mùa hè thì quả lựu mới bắt đầu lơ lửng như những chiếc đèn lồng mùa thu trên cây. Đào và lựu luôn nối tiếp nhau theo thời gian mà không gặp được nhau, không tồn tại cùng nhau trong một mùa. Sự xa cách này không khác lắm so với những sự chia xa của tình yêu đôi lứa, có tình với nhau nhưng do rất nhiều lý do không thể đến được với nhau.

Khác với cặp biểu tượng lựu - đào, cặp biểu tượng đào - lý (mận) mang nhiều ý nghĩa hơn. Khi là đôi bạn tình đã chia xa:

Đã chích phụng loan chia màn uyên thúy
Đào đà cách lý cúc nọ xa lan
Kiếng kia đã vỡ khó hàn
Khuyên anh nhớ tiếc hãy lo đàng thất gia.
Khi lại không phải là đôi bạn tình mà chỉ biểu tượng cho một phía:
Thấy đó nói ra em đà hiểu ý
Muốn cho đào lý hiệp với trúc mai
Quản chi biển rộng sông dài
Ôm duyên em đợi khách chương đài bấy lâu.
Có khi tác giả dân gian dùng biểu tượng đào - lý để nói đến người con gái ở độ tuổi xuân xanh có nhiều nơi ướm hỏi, đánh tiếng:
Đi qua trước cửa vườn đào
Thấy hoa thiên lý muốn vào hái chơi.

Chiều chiều vãn cảnh vườn đào
Hỏi thăm thiên lý rơi vào tay ai.

ý nghĩa của cặp biểu tượng đào lý trong ca dao khác hẳn trong thơ ca bác học. Đào lý trong các tích cổ cũng như trong thơ ca cổ thường mang ý nghĩa của sự quyền quý, của các bậc hiền tài. Nguyễn Du dùng sân đào lý trong Kiều để chỉ sân của nhà quyền quý. Trong Cung oán đào lý được dùng để chỉ những bậc hiền tài:
Sân đào lý râm lồng man mác
Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng.
Ngoài các cặp biểu tượng trên, đào còn đi với liễu thành một cặp biểu tượng cũng thường thấy trong ca dao. Đào - liễu cũng là đôi bạn tình nhưng là đôi 
bạn tình son sắt, gắn bó mật thiết với nhau trong sự hội ngộ:
May mô may, khéo mô khéo
Cơn cỏ héo gặp trộ mưa rào
Mối tình duyên hội ngộ liễu với đào ta kháp nhau

Bướm xa hoa bướm khô hoa tẻ
Liễu xa đào liễu ngẩn đào ngây
Đôi ta tình nặng nghĩa dày
Dù xa nhau đi nữa cũng phải ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.

Đào và liễu trong một vài lời ca dao lại được dùng theo kiểu cấu trúc hình tượng song song (mà không phải đối lập) để nói đến người con gái:
Hai bên bên liễu bên đào
Mặc tình mặc ý thương bên nào thì thương.
Đào biểu tượng cho tình yêu đôi lứa là ý nghĩa chủ đạo nhưng bên cạnh ý nghĩa đó đào còn biểu tượng cho tình vợ - chồng:
Đôi ta như cánh hoa đào
Chồng đây vợ đấy ai nào kém ai.
Trong thực tế hoa đào được coi là dấu hiệu, là biểu tượng của mùa xuân nhưng trong ca dao ý nghĩa này hầu như không xuất hiện. Trong hơn một trăm lời ca dao nhắc đến hoa đào thì chỉ có duy nhất một lời nhắc tới hoa đào gắn với mùa xuân.
Chào chàng tới cả đình trung
Chào mừng sẽ hỏi anh hùng tài cao
Rằng đây thu cúc, xuân đào
Mơ xe mận lại gió chào trăng thu.
Như vậy ý nghĩa biểu tượng của đào trong ca dao chủ yếu là biểu tượng cho người con gái, cho tình yêu đôi lứa và tình cảm vợ chồng. Đào trong ca dao chủ yếu là hoa đào, quả đào và cây đào cũng xuất hiện nhưng chỉ chiếm phần trăm rất nhỏ. Điều này khác với ý nghĩa của đào trong các loại hình nghệ thuật khác cũng như trong thơ ca bác học. Đào rất ít xuất hiện trong nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt Nam, trong các tác phẩm điêu khắc, trang trí họa tiết cây đào, hoa đào đôi khi cũng xuất hiện nhưng không mang ý nghĩa đặc biệt. Trong tranh dân gian hoa đào xuất hiện nhiều hơn chút ít, chủ yếu là ở tranh Hàng Trống, rất hiếm trong tranh Đông Hồ và các dòng tranh khác. Tiêu biểu là tranh Thất đồng với những trái đào căng tròn thể hiện cho sự trường thọ, sung túc, tranh Ngũ quả với cành đào rực rỡ đặc trưng của ngày tết. Đây đó trên đồ gốm mỹnghệ hoa đào cũng là những mô típ khi tìm miêu tả theo mùa, khi thì đơn thuần là họa tiết hoa lá trang trí. Nhìn chung trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam đào ít xuất hiện và ý nghĩa biểu tượng cũng đơn giản hơn so với các loại thực vật khác như sen, cúc...

Vẻ đẹp của hoa đào là đề tài muôn thuở trong thơ ca bác học từ cổ đến kim. Từ trong những tuyệt tác của thơ Đường cổ hoa đào đã là đối tượng trữ tình đặc biệt: Hình ảnh hoa đào trôi theo dòng nước trong thơ của Trương Húc còn mãi được thi nhân ngàn ca tụng. Hoa đào biểu tượng cho người con gái đẹp trong thơ Thôi Hộ:

     Tích niên kim nhật thử môn trung
     Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
     Nhân diện bất tri hà xứ khứ
     Đào hoa y cựu tiếu đông phong

     (Năm ngoái hôm nay trong cổng này
     Mặt người và hoa đào ánh lẫn nhau
     Giờ đây mặt người không biết đã đi đâu
     Chỉ còn hoa đào vẫn cười trước gió đông như cũ)

Hoa đào, gió đông đã trở thành điển tích trong thơ của các thi nhân đời sau: Hoa đào năm cũ còn cười gió đông (Kiều). Đặc biệt là trong Kiều của Nguyễn Du ông đã dùng rất nhiều hình ảnh hoa đào với đa dạng các nghĩa biểu tượng khác nhau. Má của người thiếu nữ hồng như hoa đào, nói má đào là nói đến người con gái đẹp:

Số còn nặng nợ má đào
Người dù muốn quyết trời nào có cho.
Phòng xuân hay phòng đào là nơi ở của người con gái đẹp:
Phòng xuân trướng rủ hoa đào
Nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng.
Cây đào non (dịch từ câu "đào chi yêu yêu") cũng được ví với người con gái đẹp đang thì mơn mởn:
Vẻ chi một đóa yêu đào
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.
Còn nhiều biểu tượng đào nữa trong Kiều như Nhị đào biểu tượng cho vẻ đẹp thanh tân của người phụ nữ, thơ đào biểu tượng cho thân phận yếu đuối của người phụ nữ...

Trong thơ Nguyễn Trãi hoa đào đồng nghĩa với mùa xuân, đồng nghĩa với vẻ đẹp kín đáo, thanh cao:

               Một đóa đào hoa khéo tốt tươi
               Cách xuân mơn mởn thấy xuân cười
               Đông phong ắt có tình hay nữa
               Kín tiễn mùi hương dễ động người

Sau này trong thơ ca bác học cận hiện đại cũng như thơ ca hiện đại hoa đào chủ yếu biểu tượng cho mùa xuân, điều này khác hoa đào trong ca dao. 
Hoa đào, mùa xuân, ngày tết và người thiếu nữ trở thành một mô - típ đặc biệt trong thơ ca:

Hôm nay là xuân mai còn xuân
Một cánh đào rơi nhớ cố nhân
(Nguyễn Bính - Nhạc xuân)
Anh hiểu sức vươn của những cành đào
Qua gió rét vẫn đỏ hoa ngày tết
(Phạm Tuyên - nhạc phẩm Gửi nắng cho em)
Như vậy ý nghĩa của biểu tượng hoa đào ở thơ ca bác học được mở rộng hơn và nó có một số ý nghĩa khác với cùng biểu tượng này ở ca dao. Nhưng cả ca dao và thơ ca bác học biểu tượng đào đều chung một ý nghĩa nổi trội nhất là biểu tượng cho người phụ nữ. Theo chúng tôi, nếu như cùng biểu tượng cho người phụ nữ nhưng nhìn chung trong văn học nghệ thuật hoa sen mang một vẻ tươi tắn, tràn đầy sức sống; hoa cau - lá trầu tượng trưng cho vẻ đẹp thanh khiết, đầy đặn; hoa hồng chính là cái đẹp cao quý, quyến rũ, rực rỡ thì hoa đào lại tượng trưng cho một vẻ đẹp đượm buồn, xa xăm và có một chút bạc phận.

Cũng như loài hoa của thế giới phương Đông nhưng ý nghĩa của hoa đào dường như không gắn nhiều tới yếu tố thiêng của tôn giáo mà nó gắn bó thân thiết với dân chúng. Cây đào được trồng ở khắp các làng quê Việt Nam với rất nhiều các chủng loại khác nhau và ở Việt Nam cũng có những vùng chuyên trồng đào. Với Trung Quốc, Nhật Bản cũng như vậy, đặc biệt ở Nhật Bản còn có mùa lễ hội hoa đào rất đặc sắc. Vào mùa đào nở rộ người dân nước này nô nức đi đến những công viên, những vườn hoa, những nơi có phong cảnh đẹp và nhiều hoa đào nở để ngắm hoa, người ta còn làm lều bạt nghỉ lại để thưởng thức hoa. Không phải ngẫu nhiên người ta nói Nhật Bản là đất nước của hoa đào. Mùa hoa đào rất ngắn ngủi ở từng vùng của nước Nhật nhưng chúng nở nối tiếp nhau ở từng vùng tạo nên mùa hoa trải dài đến vài tháng trên khắp nước này.

Trong cuộc sống hôm nay hoa đào vẫn là loài hoa quý không thể vắng mặt trong mỗi gia đình Việt Nam dịp tết đến xuân về và những ý nghĩa biểu tượng của nó được lưu giữ nhiều trong thi ca nhạc họa, đặc biệt là trong những lời ca dao xưa.

Nguyễn Phương Châm
 
 

1. Từ điển bách khoa Việt Nam, Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, H, 1995.
2. Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Nxb Đà Nẵng - Trường viết văn Nguyễn Du xb, H, 1997.

Tuyển Tập Xuân
Thư Viện Hoa Sen