-
MUÀ XUÂN TRÊN
CÔN SƠN
-
Tùy
bút của Hạnh Chiếu
Mùa Xuân
trên Côn Sơn, trời vẫn còn lạnh lắm. Tôi tiếc không đem
theo chút trà để dâng Sư. Hồi đó, Sư thích uống trà. Gần
20 năm trong chốn quan trường, giàu sang phú quý Sư vẫn xem
thường. Đến cuối đời, Sư chỉ vui với "một giường gió
mát một chung trà."
Tôi
thích Thiền Sư Huyền Quang không phải vì Ngài là một danh
quan, một nhà thơ lớn, một đệ tam Tổ Trúc Lâm Yên Tử
; mà có lẽ trên tất cả. Ngài đã từ bỏ mọi thứ ấy
để làm ông Tăng nhàn ở núi, tay gõ mõ tay nâng sáo, chơi
với gió đùa với mây, vậy thôi. Ở Sư, tâm hồn của một
Tăng sĩ siêu việt nhi nhiên đã hòa nhập với tâm hồn của
một nghệ sĩ phóng khoáng hào hoa, phá toang những khuôn thước
định sẵn, tự tại đi vào đời.
-
Củi
hết, lò còn vương khói nhẹ,
-
Sơn
đồng hỏi nghĩa một chương kinh
-
Tay
cầm dùi mõ, tay nâng sáo
-
Thiên
hạ cười ta cứ mặc tình.
-
(Ổi
dư cốt đốt độc hoàng hương,
-
Khẩu
đáp sơn đồng vấn đoản chương.
-
Thủ
bả xuy thượng hòa mộc đạc,
-
Tùng
giao nhân tiếu lão tăng mang).
Khéo
và đẹp lạ thường ! Nhưng nếu không phải là đệ tam Tổ
Huyền Quang thì làm sao được như vậy. Nâng ống sáo thổi
khúc Tâm kinh. Mượn sợi khói thay cho lần "có mặt." Bình
dị mà siêu thoát đến vô cùng. Thiên hạ ai dám cười ?
Thật
ra, từ nhỏ Sư đã khác người. Hình dung kỳ lạ, học một
biết mười, rất có tài văn chương nhưng không ưa công danh
sự nghiệp ở đời. Năm 20 tuổi đậu trường Hương, sang
21 tuổi đậu trường Hội. Hay tin Sư đỗ Trạng Nguyên. Vua
chọn làm Phò mã, Sư không chịu, đòi vào chùa, nhưng vua không
cho nên bất đắc dĩ Sư phải làm quan. Đến 51 tuổi, Sư mới
được thỏa niềm riêng. Hôm gặp Sư với chiếc nạp tăng
ở chùa Vĩnh Nghiêm. Điều Ngự hài lòng lắm, cho theo làm
thị giả liền. Và từ đó Yên Tử Sơn, Côn Sơn, Thanh Mai
Sơn trở thành chỗ ẩn thân của Sư. Đến khi chính thức
là người nối tổ đăng, được Ngài Pháp Loa trao tâm kệ
và truyền y của Điều Ngự cho, trở thành đệ tam Tổ, lãnh
đạo Giáo Hội Yên Tử, nhưng Sư vẫn không rời núi để
trở về chốn đô thị là trụ sở trung ương ở chùa Quỳnh
Lâm. Không gì có thể trói buộc được Sư. Thế cũng đủ
thấy ý chí thoát tục nơi Người.
Tôi
đến Côn Sơn vào giữa Xuân năm đó. Nhưng tôi hiểu, với
Sư mùa Xuân đến bây giờ vẫn còn. Bởi vì không có ngày
tháng năm cho một sơn tăng ở chốn chân mây. Chỉ có "lòng
thiền vằng vặc" giữa mấy từng núi xanh xanh, nước xanh
xanh, khiến cho bao kẻ cùng tử lang thang, dù chỉ một lần
ghé đến nơi này cũng mong được cái phút dừng chân. Cốc
vắng. Thiên nhai. Bóng Thiền tăng trải dài suốt vạn niên
Xuân.
Tôi
còn nhớ bài "Xuân nhật tức sự" (Tức cảnh ngày Xuân) của
Sư đã làm chấn động trong giới thiền môn lẫn giới thi
ca xưa cũng như nay.
Mỹ
nhân thêu gấm, dáng tuyệt vời
Chim
đùa oanh hót, khóm hoa chơi.
Quá
thương vô hạn, thương
Xuân
ý !Là lúc dừng kim, chẳng thốt lời.
(Nhị
bát giai nhân thích tú trì,
Tử
kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.
Khả
liên vô hạn thương Xuân ý.
Tận
tại đình châm bất ngữ thì).
Không
giật mình sao được, khi một bài thơ Xuân ý tứ như vậy
lại được viết ra từ bậc trưởng lão của núi rừng Yên
Tử. Đối với sơn tăng, có nghĩa gì đâu một chút kiều
diễm của mỹ nhân trong mùa Xuân ngắn vội. Chẳng lẽ Thiền
sư lại thả trôi lòng mình trong một phút dạt dào mộng mị
? Cái độc đáo của Sư là ở chỗ đó. Cái hơn người cũng
ở chỗ đó. Bởi vì có gì đẹp hơn một buổi sáng nắng
ấm trời trong, hoa nở, chim hót, người con gái đôi tám xuất
hiện mượt mà trên nền trời Xuân với dải lụa đang thêu
dang dở. Tả cảnh Xuân như vậy thì không còn gì bằng. Nhưng
thật bất ngờ, Sư lại hạ bút : "Quá thương vô hạn, thương
Xuân ý. Là lúc dừng kim, chẳng thốt lời." Cái ý Xuân của
Thiền sư nếu không có lời này thì bài thơ có lẽ đã chết
mất rồi. "Dừng kim, không nói" chính là kết quả, là hoa
trái của bao năm Sư theo Điều Ngự, Pháp Loa về núi ươm
mầm gieo hạt ; không thương thiết tha sao được ! Thôi thì
người có trách cũng cam. Một thoáng mỹ miều của ráng mây
hồng điểm lên bầu trời Khôn, càng đẹp chứ sao. Chỉ có
điều, mùa xuân bất tận của Sư không biết được mấy
kẻ tri âm ? Ung dung tiêu sái, không vướng trần lao, chẳng
trệ pháp mầu là nét đẹp trong thơ Sư. Điều Ngự có được
Sư, tức là Thiền phái Trúc Lâm Yên tử có được một trời
Xuân miên viễn. Tôi rời Côn Sơn khi trời chưa tắt nắng.
Mùa Xuân vẫn còn. Xe vòng qua những khúc quanh uốn lượn trong
rừng thông làm tôi nhớ Đà Lạt với thiền viện Trúc Lâm.
Rời
Côn Sơn, rời những đồi hoa, những rặng rừng im tiếng,
những tòa cổ sái cao ngất ngất trời mây ; những non, những
nước, những tăng, những tục, những Xuân, những Hạ, những
Thu, Đông... Nhưng tôi không để lại một lời từ giã nào.
Bởi vì tôi biết, sẽ có ngày mình trở lại.
|