MÙA XUÂN
PHÁP HOA
MÙA XUÂN NHÂN
LOẠI
Nguyễn
Thế Ðăng
Triết
gia người Anh danh tiếng thế giới hiện đại viết trong tác
phẩm New hopes for a changing world (Những hy vọng mới cho một
thế giới đổi thay): "Nhân loại luôn luôn đứng trước những
thử thách là 3 loại xung đột:
1.
Giữa nhân loại với thiên nhiên
2.
Giữa người với người
3.
Giữa người với chính cá nhân của nó.
Những
xung đột ấy tính chất rất khác nhau và trong lịch sử nhân
loại, sự quan trọng tương đối của chúng thì luôn luôn
bí6n chuyển. Phương pháp để giải quyết những xung đột
ấy cũng hoàn toàn khác nhau. Xung đột giữa con người với
thiên nhiên được giải quyết bằng khoa học kỹ thuật. Xung
đột giữa người với người được giải quyết bằng chính
trị và chiến tranh. Xung đột nội tại làm phiền động trong
nội tâm hồn cá nhân, cho tới nay được giả quyết bằng
tôn giáo".
Sau
đây chúng ta xem xét những xung đột ấy được giải quyết
như thế nào trong tinh thần Phật giáo, đặc biệt là theo
kinh Pháp Hoa.
1.
Giữa con người với thiên nhiên:
Theo
tinh thần PG Ðại thừa, tất cả chúng sanh từ con người
đến sinh vật và thực vật thậm chí đến loài vô tình như
đất đá đề tiềm ẩn Phật tánh, đều là sự ứng hiện
của Phật tánh Như Lai tạng. Bởi thế, trong giới luật Phật
chế, vị Tỳ kheo không đi giẫm lên cỏ, không chặt nhánh
cây một cách vô cớ, không đốt lửa trên đất, dùng đồ
vật một cách cẩn trọng và biết ơn, không tiêu phí rồi
vất bỏ một cách không thương tiếc... Nói theo ngôn ngữ
hiện thời, đó l2 sự sống chung hòa bình với muôn loài,
sự tôn trọng muôn loài, từ sinh vật cho đến cỏ cây và
loài vô tình như đất đá (với sự khám phá của khoa học,
các vật chất vô cơ đều tiềm ẩn sự sống). Tôn trọng
sự sống nơi mỗi sinh vật, sự vật của tất cả mọi giới,
từ sự sống nơi cá thể hữu hạn là cá nhân mình, con người
khám phá ra sự sống ở nơi tất cả, đó là cái mà Ðại
thừa gọi là "đồng thể Ðại bi". Ðời sống bao la ôm trọn
muôn loài ấy được kinh Pháp Hoa diễn tả bằng "ánh hào
quang Phật chiếu khắp một muôn tám ngàn cõi ở phương Ðông,
dưới suốt đến địa ngục A Tỳ, trên thấu đến trời
Sắc Cứu Cánh. Chúng sanh ở cõi này đều thấy cả 6 loài
ở cõi kia".
Tóm
lại sự xung wột giữa con người với thiên nhiên được
giải quyết một cách căn bản trong đạo PHật, vì mọi người
phải thấy ra rằng mọi loài chúng sanh đều sống chung hòa
bình với nhau trong Phật tánh, mọi hình thái đời sống đều
là những phần tử của nhau, tương dung tương nhiếp với
nhau, không htể huỷ hoại một cái mà không hao hụt đến
tất cả.
Thế
mà nhìn lại thế giới ngày nay, chúng ta nhận ra chúng ta đã
sai lầm bao nhiêu, khi để thỏa mãn đời sống cho riêng mình,
chúng ta đã xài phí quá độ, đã tàn phá thiên nhiên không
thương tiếc, làm hại chính môi trường sống của con người.
Với một nhu cầu quá mức cần thiết, mọi xã hội đều
hướng đến tiêu thụ phung phí, xài phí và thải rác. Con
người đã coi thường thiên nhiên, cái nôi, bà mẹ đã nuôi
dưỡng thể xác mình, và kết quả là con người cũng trở
nên bơ vơ và đơn độc , cứng cỏi và vô tri vô cảm. Ðó
không phải chỉ là một tiếng kêu của một vài nhà văn được
giải Nobel như A. Camus hay Marquez mà là của hầu hết nhà văn
thế kỷ 20. Khi phàm tục hóa thiên nhiên, con người đã phàm
tục hóa chính mình. Khi dùng năng lực thiên nhiên để làm
ra trái bom nguyên tử, con người đã tự làm cho tâm hồn bị
phóng xạ rồi. Ðó là bài học của sự xa rời 8 con đường
chánh (Bát chánh đạo).
2.
Giữa người với người:
Ðối
với đạo Phật tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, mỗi
người đều là một vị Phật sẽ thành, dầu có trải bao
nhiêu thời gian, dầu hiện tại có nằm sâu trong nghiệp chjớng.
Xem mỗi người là một vị Phật sẽ thành, làm sao có thể
giết người, làm sao dám trộm cắp của người, dám tà dâm
với người, dám nói dối gạt gẩm người... Tôn trọng mỗi
người như một vị Phật sẽ thành, đó là bước đầu cũng
là bước cuối của một Tịnh Ðộ nhân gian.
Không
nhìn thấy người khác như một vị Phật sẽ thành, liè6n
có tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân, liền đưa tới xung
đột, đến chỗ chiến tranh, tàn sát, như chúng ta đang thấy
ở những năm cuối cùng của thế kỷ văn minh rực rỡ tột
bực này. Thấy người khác là "kẻ xa lạ" (đầu đề một
tiểu thuyết của A. Camus) chúng ta tự trở thành kẻ xa lạ
với chính mình. Thấy "người khác là địa ngục" (một câu
trong tác phẩm của J.P.Sartre) chúng ta đã tự tạo chính địa
ngục ở trong lòng mình.
Hòa
bình là điều nhân loại luôn luôn mong mỏi, thế nhưng chiến
tranh vẫn đều đặn từ thượng cổ cho đến nay. Tất cả
chỉ vì không thâm tín một điều: tất cả chúng sanh đều
có Phật tánh. Sống hòa hợp được với người kháctrong
mọi mặt của đời sống (lục hòa) con người sẽ tự khám
phá cho chính mình thế nào là hòa bình đích thực, và khi
ngay cả trong tâm hồn cũng không còn kiếm và gậy gộc, con
người sẽ là một với sự hòa bình vĩnh vửu vô thuỷ vô
chung mà đức Phật gọi là Niết Bàn.
3.
Giữa con người với chính nó:
Sự
xung đột trong lòng mỗi người, sự tự xung đột với chính
mình là đie26u dễ thấy nơi mỗi con người phàm phu chúng
ta. Xung đột, giằng xé, mâu thuẫn, khổ đau vẫn diễn ra
từng phút từng giây trong chúng ta. Chấm dứt mọi vọng động,
mọi tiến trình khổ đau, đạt đến an bình vĩnh cửu ngay
chính nơi thâm tâm này, chỉ có được ngày nào mặt trời
Phật tánh bình an và tịnh lạc hiển hiện và thường trụ
nơi ta. Ðó là ý nghĩa mỗi người là một vị Phật sẽ thành,
không còn con đường nào khác mà không đem lại khổ đau,
không còn một thừa thứ hai thứ ba nào khác. Sự xung đột
giữa con người với chính mình đã tiếp diễn từ vô thuỷ
chỉ chấm dứt ngày nào con người đạt đến Phật tánh,
mọi phương thuốc an thần dầu mang tính chất tâm linh bao
nhiêu đi nữa, cũng chỉ là sự trấn áp nhất thời. Ðó là
sự cứu độ duy nhất của đạo Phật, vì nó mà Phật xuất
hiện ở đời, vì nó mà đạo Phật và các vị truyền thưà
vẫn còn hiện diện ở thế gian.
Ðể
kết luận, chúng ta thấy rằng mọi xung đột muôn đời của
nhân loại đã được giải quyết tận gốc bằng sự thành
đạo của đức Phật, và bằng sự chứng đạo của các vị
Tổ từ đời này sang đời khác. Sự giải đuyết chúng không
phải là giải quyết từng vấn đề riêng rẽ biệt lập nhau,
mà theo đạo PHật, giải quyết được một tức giải quyết
được ba. Tất cả phương pháp, phương tiện để giải quyết
cũng như cứu cánh thành tựu của sự giải quyết đều nằm
trong sự sâu rộng không thể lường của danh từ Phật tánh.
Sở dĩ nói sâu rộng không thể lường , vì theo kinh Pháp Hoa,
chỉ có một vị Phật mới hiểu được một vị Phật, chỉ
có một vị PHật mới thông suốt hoàn toàn ý nghĩa Phật
tánh. Thế nhưng, sở dĩ ngày nay con người, những tập thể
con ngươ2i còn điêu linh, khốn khổ, bởi vì: 1. Con người
đã không có chánh kiến: con người đã không định hướng
đúng cuộc đời mình, không định hướng đúng cho tập thể
mình. Sự định hướng sai ắt phải quẩn quanh tong sự xung
đột đau khổ muôn đời không lối thoát.
2.
Con người không đủ sức mạnh, không đủ dũnh lực và kiên
trì để thực hiện chánh kiến định hướng đúng đó cho
cuộc đời. Nói thẳng ra, con người không đủ sức để thực
hiện điều thiện, vì PHật tánh là điều thiện rốt ráo
và tối hậu. Mọi khổ đau đều do yếu đuối và vô minh.
Sự khổ đau, sự hỗn loạn xung đột của cuộc đời sẽ
giảm bớt một khi con người đi đúng đường, và sẽ chấm
dứt vĩnh viễn với con người đại hùng, đại lực, đại
từ bi.
Ngày
nào sống với chánh kiến Pháp Hoa, con người sẽ thật sự
giảm bớt các xung đột, đấu chiến, vì tâm bình thì thế
giới bình, tâm chánh thì thế giới chánh. Khi ấy, con người
sẽ tạo ra một đời sống hòa bình và an lạc, sự khởi
đầu của cõi Phật nhân gian, đó là mùa Xuân Pháp Hoa, mùa
Xuân nhân loại.
Nguyễn
Thế Ðăng