HÀN SAN
Hàn
San, nối tiếp Vương Phạm Chí, là thi gia thần bí thời Đường
- Trung Quốc, nhưng sử liệu không thấy nhắc đến. Thời
Tống, Lý Phương Biện biên soạn tập "Thái Bình Quảng
Ký" phần trích lục "Tiên Truyện Thập Di" có đoạn
: "Hàn San Tử không rõ họ tên, thường ẩn cư ở Thiên Thai,
núi Thúy Bình ; núi thâm cao, trời đang nắng mà có tuyết
nên gọi là Tuyết Nham, nhân đó mà Ngài có hiệu Hàn San Tử.
Khi
Lư Khưu Dận sắp sửa đi nhậm chức Thích sử ở Đài Châu
thì bất ngờ bị đau đầu dữ dội, thuốc thang không khỏi.
Sau đó, gặp sư Phong Can dùng tịnh thủy mà trị hết bệnh.
Khưu Dận hỏi Phong Can, ông muốn gặp hiền nhân để hỏi
chuyện cát hung trên đường quan sự, Phong Can bảo nên gặp
Văn Thù, đang ở dưới bếp. Lư Khưu Dận men xuống bếp chùa
Quốc Thanh, thấy Hàn San và Thập Đắc bên dưới nền đầy
dấu chân hổ báo. Khưu Dận bước đến thi lễ, hai người
chợt cười lớn lên : "Phong Can nhiều chuyện, Phong Can nhiều
chuyện. Ông không biết Di Đà (chỉ sư Phong Can) sao lại đến
đây bái ta". Nói xong, hai người nắm tay ra khỏi chùa, trở
về Hàn Nham. Khưu Dận trở về thành chọn lễ vật sai người
mang lên chùa mới hay họ đã đi rồi. Lần khác, lên núi gặp
Hàn San, sư liền miệng kêu lên : "Giặc ! giặc !.", vừa kêu
vừa chạy vào hang động, hang động tự khép lại. Từ đó
cả hai cùng biến mất. Khưu Dận đi tìm mãi cũng không thấy.
Trên thân cây, vách đá quanh chùa người ta tìm đọc được
nhiều câu thơ, ở đền Thổ Địa còn lưu 10 bài kệ. Bài
tựa tập sách của họ Lư cho rằng Phong Can, Hàn San, Thập
Đắc là hóa thân của Di Đà, Văn Thù và Phổ Hiền.
Mặc
dù hành động của Hàn San, Thập Đắc đầy tính thần bí
và kỳ quái, nhưng thơ của cả hai lại rất xác thực, nhất
là Hàn San. Thơ viết về nhiều đề tài khác nhau, như châm
biếm Hán Võ Đế và Tần Thủy Hoàng mê tiên thuật trường
sinh bất tử :
"Thường
nghe Hán Võ Đế ; cùng với Tần Thủy Hoàng.
Cả
hai mê tiên đan ; muốn sống hoài không xong !
Ngai
vàng đà gãy đổ ; mồ mả cũng diệt vong.
Mậu
Lăng và Ly Nhạc, Cỏ hang mọc khắp đồng."
Thơ
khuyên người nên chăm đọc sách :
"Đọc
sách há khỏi chết ? Đọc sách há khỏi nghèo ?
Sao
lại cần biết chữ ? - Biết chữ được hơn người.
Trượng
phu không biết chữ, chẳng có chốn an thân ."
Quan
tâm đến nỗi khổ người dân, phản đối sự hà hiếp của
bọn quan lại :
"Nước
lấy dân làm gốc ; Như cây nhờ đất vậy.
Đất
sâu dày, cây lớn ; Đất mỏng, cây yếu gầy.
Để
gốc rễ lộ ra ; Cây cối tất bị ngã.
Hãy
đào ao nuôi cá ; Có lợi biết bao nhiêu "
Hàn
San không màng vinh hoa, phú quí, nhưng đối với nhân sinh, Ngài
mong muốn mọi người đều an cư lạc nghiệp, có được lý
tưởng chốn nhân gian như trong bài Ma đống dã nhân cư :
"Người
ở nơi thôn dã ; Ngựa xe ít đi qua.
Rừng
núi nhiều chim chóc ; Khe suối cá lội qua
Quả
rừng hái vừa tay ; Bờ ruộng cùng vợ cày
Trong
nhà hỏi có gì ; Chỉ có giường sách đây !"
Hàn
San là người xuất gia nên Ngài muốn khuyên người quy y Tam
bảo. Thơ Ngài phần nhiều là khuyến thiện tránh ác, cảnh
tỉnh người đời trong lúc giàu sang đắc ý cũng đừng nên
quên lễ Phật :
"Thương
thay bậc trượng phu ; Thân hình vẻ nghiêm cẩn.
Tuổi
chưa đến ba mươi ; Tài nghệ thật hơn người
Rỡ
rng trang hiệp khách ; Yến tiệc cùng bạn bè
Duy
có điều chưa được ; Đèn chánh pháp chẳng theo !"
Thơ
Hàn San được truyền tụng nhiều, có người viết về thơ
Ngài như sau : "Dùng lời lẽ khôi hài mà châm biếm, diễn
tả tình cảm sầu bi phẫn nộ trong thơ ca." Lời tựa tập
thơ có đoạn " "Như hang trống truyền thanh, giữa trời trong
trỗi lên tiếng sáo". Nội dung và phong cách thơ Ngài có những
đặc điểm cá biệt, có người nương theo phong cách ấy mà
làm thơ, gọi là Nghĩ Hàn San thi ; như thời Bắc Tống có
Vương An Thạch viết Nghĩ Hàn San thi thập nhị thủ (12
bài thơ, phỏng theo thơ Hàn San). Nam Tống có Hòa thượng Từ
Thọ Thâm viết
Nghĩ Hàn San thi nhất bách tứ thập bát
thủ. Bạch Cư Dị thời Đường cũng ảnh hưởng nhiều
phong cách ấy. Đến thời Nguyên, thơ Hàn San đã truyền đến
Triều Tiên, Nhật Bản, gần đây thơ Ngài đã được dịch
ra Anh, Pháp, Nhật.
Tiểu
sử Thiền sư Thập Đắc cũng mơ hồ như Hàn San vậy, tương
truyền sư Phong Can nhặt được cậu bé gần chùa nên đem
về nuôi, người trong chùa gọi là Thập Đắc, nghĩa là lượm
được. Thơ Thập Đắc thiên về đạo lý, khuyên người hành
thiện , như :
"Sống
trong cõi thế gian ; Mọi người muốn giàu sang
Nhà
cao, xe ngựa nhiều ; Vẫy tay trăm người vâng.
Tạo
ruộng đất, cửa nhà ; Lo người nối nghiệp ta,
Nhưng
chưa đến bảy mươi ; Băng tan bình vỡ ra !"
Về
những mối tương giao, lễ nghi trong xã hội :
"Nam
nữ kết hôn nhau ; Lễ nghi tất phải có
Liệu
lường sao cho vửa ; Khoe khoang chi rạng rỡ
Vương
lấy nợ buồn ghê ; Quả là quá si mê !"
Source:
Tuần báo GIÁC NGỘ