NIỀM
VUI CHÁNH PHÁP
HT.
Thích Minh Châu
Nhân
dịp đầu xuân năm nay, tôi gửu đến quý Phật tử bài giảng
có chủ đề Pháp Lạc hay Niềm vui Chánh pháp. Sở dĩ chúng
tôi chọn đề tài này là bởi chúng tôi cảm nghiệm Pháp
lạc hay lợi ích thiết thực của lời Phật dạy đối với
đời sống hằng ngày của người Phật tử chúng ta, một
khi lời dạy ấy được chấp nhận thực hành hay được khéo
vận dụng vào cuộc sống. Đức Phật mô tả Pháp của Ngài
là “thiết thực hiện tại”, “không có thời gian”, “đến
để mà thấy”, “có khả năng hướng thượng”, “để
người trí tự mình giác hiểu”. Theo kinh nghiệm của những
người chuyên hành trì thì Pháp của Đức Phật tựa như bánh
mật mà vị ngọt của nó đến liền qua mỗi lần nếm1. Nói
khác đi, người ta sẽ cảm nhận Pháp lạc hay lợi ích thiết
thực của những lời Phật dạy ngay trong khi thực hành chúng.
Pháp ở đây tiêu biểu cho lời dạy của Đức Phật hay giáo
lý của Ngài và như vậy Pháp lạc hay niềm vui Chánh pháp
có nghĩa là niềm hạnh phúc hay an lạc đạt được nhờ thực
hành Chánh pháp hay theo đuổi lời dạy của Đức Phật. Nói
đến hạnh phúc tức là nói đến kinh nghiệm nội tâm mà
tự thân mỗi người cảm nghiệm trong cuộc sống, tùy thuộc
vào nhận thức và quan điểm của người ấy về cuộc đời
và về ý nghĩa cuộc đời.
Đạo
Phật đề cập nhiều cấp độ hạnh phúc hay kinh nghiệm lạc
thọ khác nhau và nêu rõ mức độ thù thắng giữa chúng2.
Ví dụ, thú vui giác quan hay sự thỏa mãn lòng ham muốn sắc
đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, cảm xúc êm dịu được
gọi là dục lạc (kàmasukha/nandi). Đức Phật gọi niềm vui
hay hạnh phúc này là cảm giác lạc, hạ liệt lạc, phàm phu
lạc, phi thánh lạc và khuyên các môn đệ của mình không
nên tìm cầu bởi lạc ấy vui ít, khổ nhiều, não nhiều,
sự nguy hiểm càng nhiều hơn, gắn với khao khát, thất vọng,
lo âu, giành giật, tranh chấp, cướp bóc, đấu tranh, bạo
động, chiến tranh, tội ác và hình phạt3. Niềm vui của sự
nỗ lực hướng thiện, bỏ ác làm lành, được cảm nhận
ngay trong đời này và tận hưởng đời sau được gọi là
thiên lạc (devasukha/rati). Loại hạnh phúc này được Đức
Phật mô tả là hướng thượng, tối thắng, không sợ hãi
bởi nó siêu việt dục lạc hay thú vui giác quan và bởi nó
phát sinh do tâm nguyện và công đức làm lành lánh dữ. Niềm
vui hay sự tịnh lạc đạt được do điều phục tâm và nhờ
chứng đắc các thiền (jhàna) được gọi là thiền lạc (samàdhipìti/jhànasukha).
Đức Phật gọi niềm vui này là ly dục lạc, viễn ly lạc,
an tịnh lạc, giải thoát lạc bởi nó phát sinh do duyên ly
dục, ly các ác bất thiện pháp, do tâm định, do xả niệm
lạc trú và do xả niệm thanh tịnh, thông qua các cấp độ
thiền chứng. Niềm vui hay sự an lạc do phát triển trí tuệ,
thấy rõ bản chất các pháp, hướng đến đoạn trừ vô minh,
tham ái, chấp thủ được gọi là giải thoát lạc hay Niết
bàn lạc (vimuttasukha/Nibbànasukha). Đức Phật mô tả trạng
thái giải thoát hay Niết bàn là tối thắng lạc (Nibbànamï
paramamï sukhamï). Như vậy, ngoại trừ dục lạc mà Đức Phật
gọi là cảm giác lạc, hạ liệt lạc, phàm phu lạc, phi thánh
lạc và khuyên các môn đệ của mình nên tránh xa vì vui ít,
khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm càng nhiều hơn, thiên
lạc, thiền lạc và giải thoát lạc được xem là tối thắng,
cao thượng và được gọi chung là Pháp lạc (Dhammasukha/pìti)
bởi chúng phát sinh trên cơ sở thực hành Chánh pháp hay theo
đuổi lời dạy của Đức Phật.
Chúng
tôi nêu quan điểm Pháp lạc hay kinh nghiệm hạnh phúc của
việc hành trì lời Phật dạy để xác minh một vấn đề
quan trọng: Nếp sống Phật giáo luôn luôn là nếp sống hạnh
phúc an lạc. Chúng ta sống theo lời dạy của Đức Phật có
nghĩa là chúng ta đang sống hạnh phúc trong Chánh pháp, đang
tận hưởng Pháp lạc. Để minh chứng cho quan điểm vừa nêu,
chúng tôi muốn giới thiệu với quý Phật tử hai nếp sống
mang lại Pháp lạc - nếp sống thực hành 10 điều thiện và
nếp sống hành thiền - mà trong các bản kinh của Ngài4 Đức
Phật đã gọi là pháp hành hiện tại lạc tương lai quả
báo cũng lạc.
Thứ
nhất là nếp sống thực hành 10 thiện nghiệp, được Đức
Phật gọi là pháp hành hiện tại lạc tương lai quả báo
cũng lạc. Đây là nếp sống hay pháp hành liên quan đến việc
tu tập thân khẩu ý mà người Phật tử cần theo đuổi nhằm
mục đích tịnh tu tam nghiệp. Trong bản kinh Đắc Pháp Đại
kinh, Đức Phật nói đến mục đích sự tu tập và quả quyết
rằng người ta sẽ đạt được hạnh phúc ngay lập tức qua
việc thực hành 10 thiện nghiệp. Theo Ngài, hạnh phúc đến
với con người ngay trong lúc người ấy đang làm điều lành
và lẽ tất nhiên sẽ đến sau khi điều lành đã được làm.
Ngài ví sự kiện một người làm lành tựa như một người
đau bệnh kiết nhận được một bát thục tô trộn lẫn với
đường và mật, trong khi uống người ấy được sảng khoái
bởi vị ngọt bát thục tô, sau khi uống vị ấy được thoát
khỏi cơn bệnh5:
“Này
các Tỷ-kheo, ví như lạc, mật, thục tô và đường trộn
lẫn với nhau. Rồi có người đi đến bị bệnh kiết lỵ.
Và có người nói với người ấy như sau: ‘Này bạn, đây
là lạc, mật, thục tô và đường trộn lẫn với nhau. Nếu
bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, bạn sẽ được thích
thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, bạn sẽ được
an lạc’. Người kia có thể uống, sau khi suy nghĩ, không có
từ bỏ. Trong khi uống, người kia được thích thú về sắc,
về hương, về vị. Sau khi uống, người kia được an lạc.
Này các Tỷ-kheo, Ta nói pháp hành này giống như ví dụ ấy,
tức là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo cũng
lạc”.
Như
vậy, trái với quan điểm của một số người cho rằng, để
theo đuổi mục đích tôn giáo người ta phải hy sinh niềm
vui hiện tại cho hạnh phúc mai sau, giáo lý của Đức Phật
được giảng dạy cho việc nắm bắt hạnh phúc hiện tại
lẫn tương lai. Kinh nghiệm thực hành 10 thiện nghiệp được
mô tả trên đây cho chúng ta thấy rằng từ bỏ sát sanh, từ
bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ
bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc
ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham, sân, si là những
việc làm mang lại niềm vui và hạnh phúc ngay lập tức cho
người thực hành, đồng thời dự báo một tương lai tái
sinh tốt lành cho người ấy sau khi từ giã cõi đời này.
Như vậy, một người Phật tử chuyên tâm thực hành lời
Phật dạy, quyết tâm bỏ ác làm lành, sẽ cảm nhận hạnh
phúc ngay trong hiện tại, ngang qua việc làm của mình, đồng
thời sẽ tận hưởng phước báo đời sau do nhân các thiện
nghiệp. Vị ấy được gọi là người chiến thắng hai đời,
đời này và đời sau:
Thứ
hai là nếp sống hành thiền, cũng được gọi là pháp hành
hiện tại lạc tương lai quả báo cũng lạc. Đây là nếp
sống hay pháp hành liên quan đến việc huấn luyện tâm thức
ngang qua pháp môn Tứ niệm xứ. Đức Phật gọi thiền là
pháp hành hiện tại lạc tương lai quả báo cũng lạc bởi
lẽ thiền đưa đến các trạng thái hỷ lạc và an tịnh ngay
lập tức cho người thực hành; ngoài ra, thiền cũng dự báo
một tương lai tái sinh tốt lành cho người hành trì, trong
trường hợp vị ấy chưa đoạn trừ tận gốc các phiền
não lậu hoặc:
“Này
các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại lạc và tương
lai quả báo cũng lạc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất,
một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ; diệt
tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái
hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất
tâm; ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc
thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và
an trú Thiền thứ ba; xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm
thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không
lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy sau khi thân hoại mạng
chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như
vậy này các Tỷ-kheo, được gọi là pháp hành hiện tại
lạc và tương lai quả báo cũng lạc.”
Với
kinh nghiệm của mình, Đức Phật mô tả trạng thái Sơ thiền
là hỷ lạc do ly dục sanh và bảo hỷ lạc ấy thấm nhuần
thân tâm người hành thiền, giống như cục bột tắm, được
thấm nhuần nước ướt khi được trộn nhồi với nước.
Ngài gọi trạng thái Nhị nhiền là hỷ lạc do định sanh
và bảo, hỷ lạc ấy thầm nhuần thân tâm người hành thiền,
giống như một hồ nước, được thấm nhuần nước mát do
lòng hồ được xây kín và do thỉnh thoảng trời có mưa lớn.
Trạng thái thiền thứ ba (Tam thiền) được Đức Phật gọi
là xả niệm lạc trú và Ngài bảo, cảm giác lạc thọ ấy
thấm nhuần thân tâm người hành thiền, giống như các hoa
sen sinh ra và lớn lên trong nước, được thấm nhuần nước
mát từ đầu cho đến gốc rễ. Bậc Đạo sư mô tả trạng
thái thiền thứ tư (Tứ thiền) là xả niệm thanh tịnh và
bảo, trạng thái thuần tịnh ấy thấm nhuần thân tâm người
hành thiền, giống như một người ngồi dùng tấm vải trắng
trùm kín thân thể khiến toàn thân đều được phủ kín bởi
tấm vải trắng.
Những
mô tả và lối so sánh về bốn trạng thái thiền trên đây
của Đức Phật cho chúng ta một hình ảnh sống động về
Pháp lạc hay kinh nghiệm hạnh phúc của pháp môn hành thiền
là như thế nào. Và như vậy, chúng ta có thể nói rằng, một
người hành thiền tức là một người đang sống trong hạnh
phúc an lạc. Vị ấy hạnh phúc an lạc bởi thân tâm vị ấy
được thấm nhuần, tràn đầy với hỷ lạc do ly dục sanh,
với hỷ lạc do định sanh, với xả niệm lạc trú và với
xả niệm thanh tịnh. Đức Phật gọi thiền (jhàna) là hiện
tại lạc trú (ditïtïhadhammasukhavihàra), nghĩa là sống hạnh
phúc ngay trong hiện tại. Ngoài ra, Ngài cũng xem thiền là con
đường dẫn đến cõi lành, tức một đời sống tái sinh
tốt lành cho người hành thiền, trong trường hợp vị ấy
chưa đoạn sạch các lậu hoặc.
Chúng
tôi vừa giới thiệu với quý Phật tử hai nếp sống hay pháp
hành mang lại Pháp lạc hiện tại và tương lai cho người
thực hành. Đức Phật gọi hai nếp sống này là pháp hành
hiện tại lạc tương lai quả báo cũng lạc, nghĩa là những
nếp sống hay việc làm đưa đến hạnh phúc hiện tại là
tương lai cho những ai khéo thực hành. Chúng ta là Phật tử,
phát nguyện quy y nương tựa Tam Bảo và thực hành lời Phật
dạy, lẽ tất nhiên chúng ta sẽ hưởng được Pháp lạc hay
niềm vui Chánh pháp do công phu tu tập của chúng ta.
Điều
chúng tôi muốn lưu ý với quý Phật tử là, chúng ta cần
phải tuyệt đối tin tưởng ở giáo lý của Đức Phật và
nỗ lực thực hành theo lời dạy của Ngài. Có như vậy chúng
ta mới hưởng được Pháp lạc, mới thấy hết giá trị to
lớn mà giáo lý đạo Phật đem đến cho chúng ta. Hai nếp
sống, bỏ ác làm lành và hành thiền, mà chúng tôi vừa trình
bày trên đây nói rõ giá trị thiết thực của giáo lý Đức
Phật đối với đời sống của chúng ta. Đó là các chỉ
dẫn đạo đức và tâm linh hết sức căn bản và cần thiết
cho nếp sống hạnh phúc hướng thượng của người Phật
tử. Hai nếp sống ấy vừa giúp chúng ta thành tựu hạnh phúc
hiện tại và tương lai, vừa nâng cao giá trị đạo đức
và tâm linh của đời sống chúng ta, khiến cho cuộc sống
của chúng ta càng tăng thêm ý nghĩa và giá trị. Chúng ta có
thể nói rằng, ít có hệ thống giáo lý nào mà phương pháp
thực hành lại đơn giản nhưng cùng lúc đưa đến hai kết
quả vừa thiết thực vừa cao quý như lời dạy của Đức
Phật. Rõ ràng, để có hạnh phúc và nâng cao đời sống đạo
đức tâm linh, người ta không cần tới bất kỳ phương tiện
vật chất nào, ngoài việc xem xét nội tâm và sống đạo
đức trong sạch.
Vấn
đề thứ hai chúng tôi muốn lưu ý với quý Phật tử la,ø
chúng ta cần phải hết sức trân trọng gìn giữ và phát huy
truyền thống đạo đức và tâm linh vốn có của chúng ta
trong bối cảnh xã hội và thế giới đang có nhiều chuyển
đổi lớn và nhanh chóng dẫn đến các quan niệm lệch lạc
về giá trị nhân sinh do kết quả sự phát triển của công
nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật. Gần đây chúng tôi
có đọc một số sách báo của người Tây phương viết về
đời sống văn hóa của họ so sánh với văn hóa truyền thống
Đông phương và nhận ra rằng rất nhiều người Tây phương
ngày nay hết lòng ca ngợi văn hóa Đông phương, đặc biệt
là truyền thống tâm linh Phật giáo. Chúng tôi ngạc nhiên
không phải vì chúng tôi không hiểu ra căn nguyên khiến văn
hóa Tây phương khó tránh khỏi khủng hoảng, mà bởi chúng
tôi nghĩ rằng văn hóa Đông phương nói chung và đạo Phật
nói riêng hẳn phải có một giá trị đặc biệt thiết thực
nào đó đối với nhân sinh mới khiến cho người Tây phương,
vốn rất xem trọng các giá trị thực dụng, chú ý tới. Chúng
tôi nêu vấn đề người Tây phương quan tâm đến Phật giáo
để lưu ý với quý vị về giá trị của truyền thống đạo
đức và tâm linh mà chúng ta may mắn được thừa hưởng.
Chúng ta không nên vì một vài lợi ích vật chất trước mắt
mà bỏ quên các giá trị tâm linh lâu đời của mình. Chúng
ta đang có trong tay nhiều di sản văn hóa tâm linh quý giá mà
những người khác đang tìm kiếm.
Matthieu
Ricard, một khoa học gia thuộc Viện Pasteur Pháp, nói rằng
xã hội Tây phương có thừa phương tiện để xoa dịu những
đau khổ vật chất nhưng lại rất thiếu phương tiện để
xây dựng hạnh phúc tinh thần6. Ông cho rằng thế giới Tây
phương không cần đến các phương tiện vật chất nhưng cần
đến tri kiến giúp cho con người thoát khổ7. Jean Francois cũng
thừa nhận sự kiện rằng triết lý Tây phương không đáp
ứng được các nhu cầu hiện nay của quần chúng (Tây phương)
đang quay về với các truyền thống đạo đức cổ điển
nhằm tìm kiếm những nguyên tắc chỉ đạo người ta phải
sống như thế nào, phải vươn tới nghệ thuật sống và phải
hướng dẫn cuộc đời mình ra sao8. Theo ông, phương Tây đã
phát triển mạnh về khoa học nhưng không còn đạo đức và
minh triết khả dĩ chấp nhận được9.
Chúng
tôi dẫn vài ý kiến phát biểu của các khoa học gia phương
Tây để chúng ta thấy rằng người Tây phương quan tâm đến
Phật giáo không phải vì họ thiếu các phương tiện để
xây dựng hạnh phúc vật chất nhưng vì họ đang cần các
chỉ dẫn căn bản cho cuộc sống đạo đức và tâm linh. Các
chỉ dẫn căn bản về đạo đức tâm linh ấy là gì thì như
chúng tôi đã trình bày, đó là nếp sống bỏ ác làm lành
hay nếp sống hành thiền.
Bởi
vậy, chúng ta sống bỏ ác làm lành hay sống hành thiền theo
lời dạy của Đức Phật tức là chúng ta đang trân trọng
gìn giữ và phát huy các giá trị đạo đức và tâm linh của
đời sống chúng ta, cùng lúc chúng ta có thể chia sẻ với
người khác những kinh nghiệm đạo đức và tâm linh mà họ
đang tìm kiếm. Tôi cho rằng đạo Phật có thể góp phần
đáng kể trong việc chia sẻ với người khác những kinh nghiệm
đạo đức và tâm linh và tôi tin người Phật tử chúng ta
có thể làm tốt việc này, bởi hơn ai hết chúng ta hiểu
rất rõ giá trị Pháp lạc hay hạnh phúc của việc thực hành
lời Phật dạy và hơn ai hết chúng ta là những người sống
với lý tưởng lợi mình lợi người.
Cầu
chúc quý Phật tử một năm mới thấm nhuần Pháp lạc.
1
Kinh Mật hoàn (Trung Bộ).
2
Tiểu kinh Khổ uẩn, Kinh Ma Kiến Đề và Kinh Đa thọ (Trung
Bộ).
3
Đại kinh Khổ uẩn (Trung Bộ).
4
Tiểu kinh Pháp hành và Đắc Pháp Đại kinh (Trung Bộ).
5
Đắc Pháp Đại kinh (Trung Bộ).
6,
7 , 8, 9, Hồ Hữu Hưng, Đối thoại giữa Triết học và Phật
giáo, tr. 232, 254, 224, 353.
(Văn
Hoá Phật Giáo số 12)