PHẦN
MỘT
ĂN
CHAY THEO QUAN NIỆM
CỦA
MỖI THỜI ĐẠI
Bài
I
ĂN
CHAY VÌ LÒNG THƯƠNG YÊU LOÀI VẬT
Hiện
nay một số nhà truyền giáo trên thế giới vẫn còn rao giảng
với tín đồ của họ rằng "loài vật là những cái máy không
linh hồn và không cảm giác". Do đó người ta có thể sát
sinh các loại động vật một cách vô tội vạ để lấy thịt
cung cấp cho thị trường tiêu thụ. Tại một số quốc gia
trên thế giới, người ta còn lập ra các hội hoặc câu lạc
bộ săn bắn. Họ coi việc đi săn như một môn thể thao hay
một trò vui tiêu khiển. Ở Úc Châu có câu lạc bộ săn bắn
vịt trời. Hàng năm nhân đến mùa vịt trời tụ hội về,
các xạ thủ thi đua nhau bắn chúng để xem ai đạt được
thành tích kỷ lục, rồi vứt bỏ các xác của vịt trời
ấy một cách tàn nhẫn và hoang phí mà không hề lấy thịt.
Tuy
nhiên phong trào bảo vệ môi sinh và thương yêu cầm thú đã
ra đời. Họ cố gắng tranh đấu bằng mọi phương tiện truyền
thông, báo chí vân vân nhằm bênh vực sự hiện hữu của
các sinh vật đáng thương này trên quả địa cầu. Ông John
Robbins, tác giả quyển Diet For A New America (Phương pháp ăn
uống cho một nước Hoa Kỳ mới), một quyển sách thuộc hàng
bán chạy nhất hiện nay trên thế giới đã có số phát hành
trên 450 ngàn quyển, đã phản bác luận điệu vô ý thức
và đầy bạo lực trên đây bằng những câu chuyện thật
mà ông đã sưu tầm được qua các phóng sự của báo chí
khắp nơi. Chuyện của ông kể thì nhiều, nhưng chúng tôi
chỉ trưng dẫn ra đây một vài sự kiện tiêu biểu để quý
độc giả tiện việc suy xét.
1.
Cá Heo Cứu Người
Vào
năm 1971, cô Yvonne Vladislavich đã lái thuyền buồm vượt đại
dương. Đến vùng biển Ấn Độ thì tàu của cô bị lâm nạn.
Mạn thuyền bị bể, nước tràn vào và dần dần chìm xuống
đáy biển. Nơi Yvonne bị đắm thuyền là vùng biển rất nguy
hiểm vì có nhiều cá mập sinh sống. Trong khi đang vật lộn
với sóng to gió lớn thì bất thình lình một cái phao từ
dưới đáy biển trồi lên và nâng thân hình của cô nổi
lềnh bềnh trên mặt nước. Cô quan sát và rất ngạc nhiên
khi biết rằng đây không phải là một cái phao mà chính là
một con cá heo to lớn đang thực hiện việc cấp cứu. Ngoài
ra còn có hai con cá heo khác bơi chung quanh để che chở cho
cô khỏi bị tấn công bởi đàn cá mập quái ác. Ba con cá
heo đó cứ thế mà bảo vệ cô và từ từ đưa cô đến một
cái phao lớn mà người ta dùng để làm dấu hải phận để
cô bám chặt vào một cách an toàn. Sau khi Yvonne được một
tàu hải hành cứu thoát, người ta kiểm chứng biết được
từ chỗ cô được đàn cá heo bảo vệ đến cái phao an toàn
có khoảng cách dài trên 200 hải lý.
Ngoài
ra vào ngay 28 tháng 5 năm 1978, một chiếc tàu biển gồm bốn
thủy thủ đã bị thất lạc ở ngoài khơi đảo Dassen thuộc
quốc gia Nam Phi vì bị sương mù dầy đặc. Họ rất lo sợ
vì biết rằng tàu đang trôi giạt trên vùng biển có nhiều
đá ngầm hiểm trở. Trong lúc mọi người đang âu lo để
tìm phương thoát hiểm thì bỗng thình lình tàu của họ bị
húc nhẹ và bị đẩy đi theo một hướng khác nên may mắn
thoát ra khỏi vùng sương mù bao phủ. Ra nơi quang đãng, mọi
người trông thấy một đàn cá heo đang đẩy mạnh chiếc
tàu về nơi an toàn. Sau đó chúng phóng lên khỏi mặt nước
và nhào lộn nhiều vòng như hân hoan bái biệt mọi người
rồi biến dạng vào lòng biển cả.
2.
Rùa Biển Cứu Người
Một
câu chuyện khác vào năm 1975, một chiếc tàu bị đắm ở
ngoài khơi hải phận Manilla, thủ đô của nước Phi Luật
Tân. Mọi người trên tàu nhốn nháo dành giựt xuống bè cấp
cứu. Một người đàn bà chẳng may không còn chỗ trên bè
và đang vẫy vùng trên sóng nước trong tình trạng vô cùng
nguy ngập. Bỗng người ta trông thấy một con rùa biển bơi
nhanh về phía nạn nhân tuyệt vọng đó. Như may mắn vớ được
phao cấp cứu, người đàn bà này bèn bám chặt trên lưng
rùa một cách an toàn. Suốt hai ngày liền, rùa đã nhịn ăn
để làm phao cấp cứu cho nạn nhân được sống sót. Sau cùng
người đàn bà này đã được cứu thoát bởi một chiếc
tàu biển khác. Có người lầm tưởng rằng nạn nhân được
sống sót là nhờ bám vào một vật nổi ở trên biển. Đến
khi người đàn bà được vớt lên tàu rồi, mọi người mới
trông thấy rõ rùa biển trồi lên trên mặt nước, vờn qua
vờn lại nhiều vòng rồi mới biến dạng vào lòng đại dương.
Theo
sự nghiên cứu của nhà sinh vật học Henry Bergh, rùa biển
này là loài động vật sống lâu năm trên thế giới. Có con
đã sống trên 600 năm. Thịt của nó rất quý và rất đắt
tiền. Một số tàu đánh cá đã bắt được những con rùa
biển này, đâm thủng mai của nó rồi xỏ dây lôi theo sau
con tàu, hành hạ và bỏ đói chúng sau bao chặng đường thủy
lộ, trước khi thịt của chúng được Ộhân hạnhỢ xuất
hiện trên dĩa của những bàn tiệc sang trọng trong các nhà
hàng quốc tế. Đáng tiếc thay! Loài người chúng ta đã trả
ơn những nghĩa cử cao đẹp đó bằng cách hành xử không
tương xứng như thế.
3.
Chim Hoàng Oanh Cứu Chủ
Vào
năm 1950, một cụ bà hiền lành cư ngụ tại thị trấn Hemingtage
được nhiều bạn láng giềng cảm mến và gọi cụ một cách
thân mật là cụ Tess. Cụ sống cô đơn trong một căn nhà
cũ kỹ nên nuôi một con mèo và một con chim hoàng oanh để
làm bạn hầu vơi bớt nỗi quạnh quẽ. Người ta không biết
cụ có con cái gì không ngoại trừ người cháu gái ở cách
nhà cụ vài trăm mét thường hay tới lui thăm viếng.
Một
đêm nọ, vợ chồng người cháu gái bị đánh thức bởi tiếng
vỗ cửa ở bên ngoài. Người chồng lười biếng bảo: "Gió
phe phẩy cành lá các cây kiểng ngoài sân đó mà", rồi kéo
chăn trùm lên tiếp tục ngủ nữa. Tuy nhiên tiếng vỗ cửa
càng ngày càng dồn dập và khẩn cấp hơn. Người cháu gái
bèn xuống giường và đến vén màn cửa sổ để xem việc
gì động tịnh ở bên ngoài. Cô rất lấy làm ngạc nhiên
khi trông thấy con chim hoàng oanh của bà cô mình đang xòe đôi
cánh đập mạnh vào kính cửa sổ. Cô giục chồng: "Chắc
có việc gì xảy ra ở nhà cô của mình nên con chim hoàng oanh
mới bay đến vỗ cửa nhà mình một cách khẩn cấp như thế".
Người chồng bèn tung chăn xuống giường và vội vàng đưa
vợ đến nhà người cô trong khi con chim hoàng oanh đã sải
cánh rớt độp xuống khung cửa sổ mà chết vì quá kiệt
sức. Đến nơi, hai vợ chồng người cháu mới phát giác cô
mình đã té, nằm bất tỉnh trên sàn nhà với mình mẫy bê
bết máu. Nếu không nhờ sáng kiến của con chim hoàng oanh
bay đi cấp báo thì vợ chồng người cháu gái đâu có đến
kịp thời để cấp cứu, thì biết đâu cụ Tess đã chết
từ lúc nào rồi.
4.
Loài Vật Cũng Có Tình Mẫu Tử
Ngoài
ra tại Úc Châu, vào năm 1998, theo tin tức báo chí và đài
truyền hình ở Sydney loan tải, một dã nhân cái tại sở thú
Taronga đã bỏ ăn bỏ uống và vô cùng buồn thảm trong nhiều
ngày liên tiếp trước cái chết của dã nhân con.
Frala
là tên của dã nhân cái được các nhân viên sở thú đặt
cho. Nó thuộc gống dã nhân ở vùng đồng bằng và được
đưa từ một sở thú khác ở Hòa Lan về sở thú Taronga tại
Sydney để tiếp tục nuôi dưỡng. Khi thấy con dã nhân cái
17 tuổi này có thai, các nhân viên trách nhiệm ai nấy cũng
đều vui mừng vì biết rằng nó đã thích ứng với cách thức
nuôi dưỡng của họ.
Frala
sinh ra một dã nhân con bé bỏng. Đây là đứa con thứ ba của
Frala và là đứa con thứ bảy của dã nhân đực Kibau do nhân
viên sở thú Taronga cho lai giống trong điều kiện tự nhiên
ở Úc. Khi dã nhân con này được 3 tuần tuổi, thì nó chết
một cách đột ngột vào cuối tháng 3 năm 1998 khiến cả bầy
dã nhân nói chung và Frala nói riêng đau khổ vô cùng. Người
ta chưa từng thấy loài khỉ hay dã nhân khóc bao giờ. Nhưng
cử chỉ đau buồn của một người mẹ mất con đã biểu
lộ một cách rõ rệt ở Frala bằng cách ôm chặt xác chết
của đứa con vào lòng trong suốt 3 ngày liền và bỏ ăn bỏ
uống. Sự kiện này đã làm cho nhân viên sở thú nào trông
thấy cũng đều mũi lòng. Vì tôn trọng tình mẫu tử và để
chia xẻ sự mất mát một đồng loại của bầy dã nhân, các
nhân viên sở thú bèn che kín chuồng lại để chúng được
tự do thích ứng với hoàn cảnh đau buồn. Ba ngày sau, khi
họ đến mở cửa chuồng, Frala nguôi ngoai được đôi chút.
Nhưng nó không ra ngoài cùng đàn mà lặng lẽ chui vào chuồng
nằm ngủ. Các nhân viên trách nhiệm cũng đặc biệt quan tâm
đến dã nhân đực Kibau để tránh gây thêm đau buồn cho nó.
Suốt
mấy ngày liền, nhân viên sở thú cũng cảm thấy xót xa vì
đã mất đi một con vật thân thương do chính bàn tay họ đã
nhiều ngày săn sóc. Nhiều cú điện thoại và nhiều thư chia
buồn cũng đã được gởi đến từ những người thương
yêu súc vật để chia xẻ sự mất mát này với Ban Giám Đốc
và nhân viên của sở thú Taronga.
Qua
những sự kiện trình bày trên đây, chúng ta thấy loài vật
cũng có tình cảm, trí thông minh, lòng nhân ái và saün sàng
xả thân để cứu nguy tánh mạng của những chủng loại khác.
Chính vì thế mà Đức Phật đã dạy chúng ta phải ăn chay
để trì giới sát hầu tôn quý sinh mạng của tất cả mọi
chúng sinh. Vì thế chúng ta nên thương yêu loài vật vì chúng
cũng được Tạo Hóa sinh ra và có quyền bình đẳng để hiện
diện trên quả địa cầu này. Cũng cùng một lý tưởng cao
đẹp đó, các hội Bảo vệ Môi sinh Thiên nhiên và Thương
yêu loài vật khắp nơi trên thế giới cổ động mọi người
ăn chay, có nơi còn chống báng cả việc sử dụng lông thú
vật để may áo nữa.