Bài IV
ĂN CHAY
VÀ QUAN NIỆM CỦA TÔN GIÁO
Các tôn giáo
lớn trên thế giới hầu như lúc khởi thủy đều răn dạy
tín đồ không được sát sanh hại vật và phải luôn luôn
thọ trì trai giới. Nhưng trải qua nhiều thế kỷ, những kinh
điển nguyên bản được chép tay truyền lại từ đời này
sang đời khác, được chuyển dịch sang nhiều ngôn ngữ khác
nhau hoặc được hiệu đính bởi nhiều giáo chủ và Hội
Đồng Giáo Phẩm thời đại, nên có lẽ đã có phần sai lệch
với kinh điển nguyên sơ. Do đó sự cấm sát sinh và thọ
trì trai giới không còn được một số tôn giáo chấp hành
nghiêm chỉnh. Để giữ tính cách vô tư, tác giả xin trích
dẫn một cách trung thực những tài liệu tham khảo mà không
hề diễn giải, bình phẩm hoặc có quan điểm cá nhân. Nếu
có điều gì sơ sót thì đó chẳng qua chỉ là ngoài ý muốn
của tác giả. Kính xin quý vị lãnh đạo tinh thần và quý
tín hữu các tôn giáo rộng lòng tha thứ.
Theo sử sách,
chúng ta thấy rằng ở Ai Cập thuở xưa, các tu sĩ cũng chủ
trương ăn chay. Họ kiêng thịt cá và kể cả không ăn trứng
nữa, vì họ định nghĩa trứng là một thứ thịt ở trạng
thái lỏng (a). Các tu sĩ này cũng chủ trương sống độc thân
và giữ vững lời nguyện xả thân để phục vụ đạo pháp.
Mặc dầu trong kinh Cựu Ước, kinh điển nền tảng của Do
Thái Giáo, có vài chỗ đề cập tới việc ăn mặn, nhưng
tựu trung giáo lý căn bản vẫn dạy tín đồ phải trường
chay và không sát sinh hại vật. Trong Sáng Thế Ký (Genesis1:29),
quyển đầu của kinh Cựu Ước có đoạn viết: "Chúa phán
rằng: Ta đã ban cho các con đầy đủ các loại rau quả và
ngũ cốc khắp nơi trên thế giới này. Đó là thức ăn
của các con vậy"(b). Thánh Kinh cũng nói lúc mới tạo thiên
lập địa, Thượng Đế cũng không có sáng tạo ra các loài
vật này biết ăn thịt các con vật khác. Sáng Thế Ký (1:30)
viết tiếp:"Chúa phán: Cùng những loài thú khắp nơi trên
địa cầu, những nơi có sự sống, ta đã ban cho các ngươi
các loại rau quả và ngũ cốc để ăn. Các ngươi không
được ăn thịt"(b). Trong đoạn này ở Sáng Thế Ký (9:4)
nhấn mạnh hơn: "ÄThịt vốn có máu và có sự sống, nên
các con không được ăn".(b)
Trong các
quyển Thánh Thư, phần lớn những lời rao giảng đều lên
án việc ăn thịt. Isaiah (1:15) viết: "Chúa phán rằng: Ta ghét
các ngươi cúng dường ta nào là thịt trừu nướng, thịt
của những loài thú béo bổ khác. Ta không có thích máu
của những con bò mộng, của những con trừu hoặc các con
dê đực. Vì thế khi các ngươi ngửa tay xin tội, ta đã ngoảnh
mặt đi. Khi các ngươi cầu nguyện, ta sẽ không nghe. Tại
vì bàn tay của các ngươi đã vấy đầy máu"(b). Theo Isaiah
(66:3): "Hành động giết chết một con bò chẳng khác gì hành
động vặn cổ một con người vậy"(b).
Trong Thánh
Kinh cũng có chuyện về Thánh Daniel. Khi còn sanh tiền, có lần
ngài đã bị giam trong ngục thất tại thành Babylon, ngài đã
từ chối các thức ăn mặn do bọn cai ngục mang tới mà quyết
đòi cho được đồ ăn chay mới thôi.(a)
Ngày nay đại
đa số trong chúng ta nghĩ rằng Chúa Jesus đã ăn thịt vì đã
có một số khoản liên quan đến việc ăn mặn trong kinh Tân
Ước. Nhưng nếu chúng ta tra cứu và so sánh với Thánh Kinh
nguyên bản bằng tiếng Hy Lạp thì đó chẳng qua chỉ là một
sự sai sót trong khi dịch thuật mà thôi (a). Và đây là lời
tiên tri nổi tiếng của Isaiah về sự giáng trần của Đức
Chúa Giê-Su: "Hỡi các con! Ta báo tin cho các con biết rằng
một vị nữ đồng trinh sẽ thụ thai và sẽ hạ sinh một
người con trai. Người con trai đó có tên là Immanuel (tên của
Đức Chúa Giê-Su). Bơ và mật ong sẽ là thức ăn chính của
ngài. Đó là ý nghĩa Ngài sẽ xua đuổi bọn tà ma quỉ quái
và sẽ ban phát những điều lành mà thôi"(b). Thánh Clément
cũng thọ trường chay. Ngài đã tán dương vị tông đồ của
ngài là Mathew vì ông chỉ dùng những thực phẩm chay như ngài
vậy. Thánh Jérome, người đã dịch Thánh Kinh ra tiếng La Tinh
và đã lưu truyền đến ngày nay, đã từng viết: "Các thức
ăn chay rất giản dị, dễ nấu nướng mà lại rất rẻ tiền".
Ngài cũng bảo ăn chay là phương cách tốt nhất để chúng
ta tu niệm hầu theo đuổi con đường thánh thiện. Thánh Chrysotom
quan niệm ăn thịt sẽ tạo cho con người có bản tính hung
dữ và không phải là một tập quán bình thường của người
tín đồ Thiên Chúa Giáo. Ngài nói: "Chúng ta đã có thói quen
bắt chước theo hành vi của những con chó sói, những con beo.
Hoặc
giả còn tệ hơn hành vi của chúng nữa. Bản tính bẩm sinh
của loài thú đã được an bài như vậy. Còn đối với chúng
ta, Thượng Đế đã ban cho cái vinh hạnh được biết nói,
biết cảm giác và biết suy nghĩ được sự công bằng và
lẽ phải. Nhưng ngược lại chúng ta lại còn xấu xa hơn các
loài thú đó nữa" (a).
Thánh Benedict,
người đã sáng lập ra giáo phái Benedictine Order vào công nguyên
529, đã quy định các giáo sĩ ở trong giáo hội phải ăn chay
trường. Giáo phái Trappist sáng lập từ thế kỷ thứ XVII
cũng quy định khắt khe rằng các tín đồ không được ăn
thịt động vật và kể cả không ăn trứng nữa. Quy luật
này đã được giải tỏa bởi Hội Đồng Giáo Phẩm Vatican
hồi thập niên 1960. Nhưng phần lớn tín đồ của môn phái
này vẫn tiếp tục thọ trì trai giới theo giáo lý nguyên thủy.
Tuy nhiên hiện thời cũng có một số chủng viện Trappist đã
cải cách. Cho phép chăn nuôi gia súc và xẻ thịt bán ngoài
thị trường để gây quỹ cho nhà chung (a).
Giáo hội
Seventh Day Adventist Church nghiêm cấm các tín đồ sát sinh và
ăn mặn. Tiến sĩ John H. Kellogg, tín đồ trung kiên của giáo
phái này ở Hoa Kỳ đã cổ xúy mọi người ăn chay. Ông đã
cai quản một bệnh viện bằng cách cho các bệnh nhân điều
dưỡng chỉ toàn bằng những thức ăn chay mà thôi (a).
Ngoài ra ông
Kellogg cũng đã chế biến ra một loại thực phẩm chay rất
tiện dụng. Đó là loại cốm giẹp bắp (corn flakes). Ban đầu
loại thực phẩm tiện dụng này chỉ lưu hành trong giới giáo
hữu, nhưng sau đó nổi danh và hiện thời đã có lắm công
ty trên thế giới hoạt động với tính cách tư lập để
sản xuất corn flakes hoặc những thức ăn tương tợ cũng lấy
nhãn hiệu Kellogg"s.(a)
Quốc gia
có số dân ăn chay nhiều nhất trên thế giới phải kể là
Ấn Độ, quê hương của đạo Hindus và Phật Giáo. Vốn ảnh
hưởng bởi giáo lý tốt lành không sát sanh và không bạo
lực, đa số dân Ấn là những người có tín ngưỡng và chấp
hành nghiêm chỉnh những giới luật của tôn giáo họ. Kinh
Vệ Đà, tiền thân của các kinh điển Phật giáo, xác quyết
rằng ăn chay là nền tảng của đạo đức khả dĩ tránh được
các việc bạo động có thể xảy ra. Luật cổ xưa của Ấn
Độ Manu-Samhita đã diễn giải: "Ăn thịt dĩ nhiên phải sát
hại sinh mạng của những động vật khác. Sự sát sinh
đó sẽ làm ngăn trở con đường tìm đến hạnh phúc của
Thiên Đường. Vì thế chúng ta đừng có ăn thịt.
Trong
một chương khác, Manu-Sahimta cũng cảnh cáo:"Sự cùm chân và
giết chết sinh mạng của nhũng động vật khác để lấy
thịt là nguồn gốc của sự hung dữ. Nên chúng ta phải
tránh xa ra và đừng có ăn thịt" (a).
Trong những
năm gần đây, giáo hội Hare Krishna đã phát động phong trào
khuyến khích mọi người ăn chay trên toàn thế giới. Srila
Prabhupada, vị lãnh đạo tinh thần của phong trào có lần đã
nói: "Luật Manu-Sahimta cũng cấm việc trả thù bằng cách lấy
mạng đền mạng. Ngay cả giết một sinh vật nhỏ như con
kiến cũng chịu trách nhiệm về hậu quả của nghiệp chướng.
Bởi vì chúng ta không sáng tạo ra được những sinh vật đó
nên chúng ta không có quyền cướp đi sinh mạng của chúng.
Vì thế pháp luật do loài người đặt ra có sự phân biệt
giữa sát sinh và sát nhân là một thứ luật lệ không hoàn
mỹ. Theo luật công bình của Tạo Hóa, giết chết một sinh
vật có tội như giết chết một con người vậy. Chính 10
điều răn trong Thánh Kinh cũng đã dạy không được sát sinh
(Thou shalt not kill) là một thứ luật lệ vô cùng hoàn hảo.
Nhưng người ta đã cố ý diễn giải là không sát nhân"(a).
Srila Prabhupada
đề cập đến khái niệm trong kinh Vệ Đà nhấn mạnh đến
tính cách vạn vật đồng nhất thể như sau: "Tất cả các
sinh vật đều là con cái của Thượng Đế, nhưng được khoác
dưới những lớp áo có hình thái khác nhau. Thượng Đế
là đấng cha lành tối cao của muôn loài. Một người cha thì
luôn luôn thương yêu con cái một cách công bằng. Giá có một
người con nào đó tâu với cha rằng: Em con nó xấu xí và
ngu dốt quá. Xin phép cha cho con giết nó đi. Liệu người cha
có bằng lòng hay không? Do đó chúng ta có thể suy nghiệm rằng
chắc chắn Thượng Đế cũng sẽ không cho phép chúng ta giết
hại sinh mạng của những động vật khác vì chính chúng cũng
đều là con cái của Thượng Đế và là anh em của chúng ta"(a).
Trong Phật
Giáo, ăn chay để giữ giới sát sanh là một điều rất phổ
cập trong dân chúng. Cho nên đối với người Việt Nam mình,
hể nói đến ăn chay thì mọi người đều nghĩ ngay tới Phật
Giáo. Trong kinh Pháp Cú, một quyển kinh chứa đựng toàn những
lời giáo hóa vàng ngọc của Đức Phật, nơi chương Hình
Phạt, Ngài đã dạy: "ÄKhông nên giết hại vì ai cũng muốn
sống. Đồng thời cũng không nên gây tổn hại cho mọi
chúng sinh"(c). Dù chính mình không có trực tiếp cầm dao
để sát hại súc vật. Nhưng ăn thịt tức là gián tiếp cổ
động người khác sát sinh.
Trong Kinh
Lăng Nghiêm, Đức Phật đã dạy : "Ông A Nan, nếu các chúng
sinh trong các thế giới ở sáu trần mà tâm chẳng sát thì
không bị sinh tử nối tiếp. Ông tu tam muội, gốc để
vượt khỏi trần lao, nếu sát tâm chẳng trừ thì không thể
ra khỏi được. Dù có đa trí, thiền định hiện tiền, nhưng
chẳng đoạn nghiệp sát thì quyết sẽ lạc vào thần đạo.
Thượng phẩm làm đại lực, quỉ. Trung phẩm làm phi hành
dạ xoa, các quỉ xoái. Hạ phẩm làm địa hành la sát. Các
quỉ thần ấy cũng có đệ tử, và tự tôn mình là vô thượng
đạo. Sau khi tôi diệt độ rồi, nhiều quỉ thần hưng thịnh
lên giả dạng làm Phật và nói : Ăn thịt cũng chứng được
Bồ Đề"(d).
"Ông A
Nan, tôi khiến các tỳ kheo ăn ngũ tịnh nhục. Thịt đó đều
do tôi dùng thần lực hóa sanh, nên không có mạng căn. Vì
rằng về đất Bà La Môn, phần nhiều ẩm thấp, lại thêm
nhiều đá, nên cây cỏ và rau không mọc được. Tôi dùng
thần lực đại bi giúp, nhân đức từ bi lớn, giả nói là
thịt. Ông được ăn các thứ đó". (d)
"Thế sau
khi Như Lai diệt rồi, các Thích Tử lại ăn thịt chúng sanh?"
"Các ông
nên biết : Người ăn thịt đó, dù được tâm khai ngộ giống
như tam ma địa, cũng đều bị quả báo đại la sát. Sau khi
chết, quyết bị chìm dắm biển khổ sinh tử, chẳng phải
là đệ tử của Phật. Những người như vậy giết nhau, ăn
nhau. Cái nợ ăn nhau vướng chưa xong, làm sao người ấy thoát
ra khỏi Tam giới. Ông dạy người đời tu tam ma địa, phải
đoạn nghiệp sát sinh. Ấy gọi là lời dạy rõ ràng....Tôi
nói như vậy là Phật nói. Nói không như vậy là ma nói". (d)
Trong Pháp
Bảo Đàn Kinh, bản dịch của đức Minh Trực Thiền Sư, có
lời dạy như sau:
Người
tu theo chánh đạo
Muôn vật
chớ tổn thương
Lỗi mình
hay xét thấy
Mới hiệp
đạo chơn thường
Muôn loài
tự có đạo
Chớ giết
hại loài nào
Lìa đao
mà tìm đạo
chung thân
đạo khó vào(e)
Cũng theo
kinh Pháp Bảo Đàn (Bản dịch của Luật sư Đinh Sĩ Trang),
khi ngài Lục Tổ Huệ Năng đến huyện Tào Khê thì bị bọn
ác tâm tìm kiếm để hãm hại. Ngài phải lánh sang vùng Tứ
Hội để tî nạn và ở chung với một nhóm thợ săn trong
vòng 15 năm. Trong thời gian này, ngài cũng lợi dụng lúc thuận
tiện để thuyết pháp cho bọn chúng nghe. Tuy nhiên nhóm thợ
săn đôi khi bắt ngài phải giữ miệng lưới. Mỗi khi có
thú lọt vào bẫy thì ngài thả ra hết. Mỗi lần nấu thức
ăn thì ngài bất đắc dĩ phải để chung rau vào thịt và
sau đó chỉ vớt rau ra ăn mà thôi (f).
Theo đạo
Hòa Hảo, trong 10 Điều Tâm Huyết, Đức Phật Thày Tây An
đã khuyên người đời ăn chay để giữ hạnh lành như sau
:
.....Điều
thứ tư Pháp môn quy luật
Hạnh trường
chay cố sức trau giồi
Thịt là
xương máu tanh hôi
Cỏ cây
rau cải cũng rồi bữa ăn
Ðức Từ
Bi thường hằng thể hiện
Không sát
sanh lòng thiện ta còn
Lạt chay
tuy chẳng ngọt ngon
Còn hơn
thú vị cơm chan máu hồng.... (e)
Trong đạo
Cao Đài, cơ bút của Đức Diêu Trì Kim Mẫu đã viết trong
bài Khuyến Nữ Hồi Tâm như sau:
......Lắm
phen rồi mẹ khuyên chay lạt
Gốc gì
đâu sanh sát cấm ngăn
Cũng tình
liên lạc đồng bằng
Thú cầm
vẫn thể linh căn Thượng Hoàng....
Tuy chẳng
nói thân hình giống tạc
Cũng biết
ăn, biết khát, biết đau
Phơi da
lóc thịt làm sao
Con ơi
sao uống huyết đào đàn em..... (e)
PHỤ CHÚ
:
-
Theo
quyển The Higher Tastes do Giáo hội Hare Krishna Úc Châu ấn tống
-
The
New English Bible (Old Testament) do Oxford University Press và Cambridge
University Press xuất bản năm 1970
-
Lời
Phật Dạy (Kinh Pháp Cú) do Luật sư Đinh Sĩ Trang dịch và
ấn tống năm 1998
-
Kinh
Lăng Nghiêm do Giáo sư Tuệ Quang và Thượng Tọa Trí Độ dịch,
Nhóm Phật tử New South Wales ấn tống năm 2535 Phật Lịch.
-
Tài
liệu do Cư sĩ Kỳ Vân cung cấp
-
Kinh
Pháp Bảo Đàn do Luật sư Đinh Sĩ Trang dịch và ấn tống
năm 1999