PHẦN
BA
ĐẶC
TÍNH DINH DƯỠNG
CỦA
VÀI LOẠI THỰC VẬT
Bài
I
ĐẬU
NÀNH VÀ KHẢ NĂNG
PHÒNG
CHỐNG BỊNH TẬT
Đậu
nành là một loại thực vật quen thuộc đối với người
Việt Nam mình. Nó là một thứ nguyên liệu dùng để chế
biến các loại tương, chao, đậu hủ và một số thực phẩm
chay lạt khác. Hiện nay trên thế giới người ta sản xuất
rất nhiều đậu nành để làm thực phẩm cho người và cho
gia súc. Đối với các loại rau quả, ngũ cốc và thịt động
vật, đậu nành chứa một trữ lượng chất Protein dồi dào
hơn cả. Theo tự điển bách khoa World Book, đậu nành chứa
đến 40 phần trăm chất Protein so với cùng trọng lượng thịt
bò và cá chỉ chứa có 18 phần trăm protein mà thôi. Theo sách
Một trăm Cây Thuốc Vạn Linh Bá chứng của Linh mục Vũ Đình
Trác, đậu nành có đặc tính giải nhiệt, lợi khí và tăng
lực. Chủ trị điều hòa ngũ tạng, bổ nguyên khí và thông
lợi 12 kinh mạch. Đặc biệt đậu nành chống được tà khí,
trợ ruột, giúp làm ấm tỳ vị, nhất là bồi bổ tim, thận
và trị bệnh của thận. Lá đậu nành có đặc tính an thần
và giúp dễ ngủ.
Hiện
nay trước tình trạng bệnh nan y đang lan tràn trên thế giới,
các khoa học gia đã nghiên cứu đủ mọi phương pháp để
phòng chống kể cả áp dụng phương pháp dưỡng sinh, y thuật
Đông Phương và dược thảo. Trong quá trình nghiên cứu, các
khoa học gia đã để ý tới hai nước Trung Hoa và Nhật Bản.
Phần đông dân chúng trong hai quốc gia này có thói quen tiêu
thụ đậu nành và những sản phẩm của đậu nành trong các
bữa ăn thường nhật. Nên tỷ số những người mắc bệnh
nan y rất thấp so với các nước Tây Phương và Hoa Kỳ. Vì
thế họ đổ xô nhau đi nghiên cứu về đặc tính của đậu
nành để xem có thể ứng dụng vào y dược để điều trị
một số bệnh tật hay không.
Tháng
9 năm 1996, hội nghị quốc tế lần thứ hai nhằm tổng kết
các thành quả nghiên cứu của khoa học gia về công dụng
của đậu nành trong lãnh vực y học đã được diễn ra trong
5 ngày liền tại Brussels. Hơn 80 khoa học gia đến từ khắp
nơi trên thế giới đã lần lượt thuyết trình về những
kết quả sưu tầm mới nhất mà họ đã thu đạt được trong
lãnh vực y khoa trị liệu. Sau đây chúng tôi xin tóm tắt những
thành quả đó và coi như là những tin vui để cống hiến
quý vị độc giả.
Đậu
nành có khả năng chữa được bệnh tim mạch:
Hiện
nay nhiều bằng chứng cụ thể cho thấy đậu nành có khả
năng làm giảm lượng cholesterol của những người bị bệnh
cao mỡ. Những bệnh nhân này nếu để lâu sẽ dẫn đến
bệnh tim trầm trọng và có nguy cơ bị chết bất đắc kỳ
tử vì mạch máu bị nghẽn hay tim bị kích ngất. Thực ra
chất Protein trong đậu nành có khả năng làm hạ mức độ
hai độc tố LDL Cholesterol và Triglyceride, tác nhân gây ra bệnh
cao mỡ. Kết quả này rất khả quan và công hiệu hơn hẳn
việc trị liệu bằng phương pháp ăn uống theo qui thức do
các chuyên gia y tế ấn định, kể cả việc chữa được
các chứng bệnh cao mỡ trầm trọng và bệnh cao mỡ ở trẻ
con.
Thêm
vào đó, đậu nành còn có khả năng làm tăng lượng HDL cholesterol,
một chất hữu ích trong cơ thể có tác dụng đề kháng lại
hai chất LDL Cholesterol và Triglyceride độc hại kể trên. Ngoài
ra đậu nành cũng còn có công hiệu ngăn chận sự oxýt hóa
của chất LDL Cholesterol, không cho chúng có cơ hội chuyển
hóa thành những nguyên tố độc hại khác, và phòng ngừa
được chứng nghẽn các mao huyết quản.
Isoflavones
là một hợp chất thiên nhiên hàm chứa trong đậu nành có
cấu trúc hóa học tương tợ như kích thích tố nữ oestrogen.
Hiện thời người ta chưa chứng minh được chính protein trong
đậu nành hay chỉ riêng chất Isoflavones trong protein của đậu
nành là có công hiệu chữa các chứng bệnh trên. Tuy nhiên
các khoa học gia đều đồng quan điểm rằng đậu nành nói
chung có khả năng trị được bệnh tim mạch, đặc biệt là
chứng cao Cholesterol trong máu.
Đậu
nành chữa được bệnh của xương:
Xưa
nay các chuyên gia y tế đều công nhận calcium có khả năng
phòng ngừa được bệnh xương xốp (osteoporosis), thường xảy
ra trong giới phụ nữ trọng tuổi. Bệnh này cũng có xảy
ra cho nam giới nhưng với một tỷ lệ thấp hơn. Ngoài ra sự
ăn uống theo quy thức cũng có khả năng làm cho xương được
rắn chắc. Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây cho thấy những
người thường ăn đậu nành như dân chúng Nhật Bản cũng
ít khi mắc phải bệnh xương xốp.
Người
ta thí nghiệm trên loài chuột bằng cách cho chúng ăn toàn
đậu nành không những ngăn chận được chứng thoái hóa calcium
của xương mà còn làm cho xương được rắn chắc. Isoflavones
trong đậu nành là một chất có tính năng động có tác dụng
giống như oestrogen ngăn ngừa được chất men tyrosin kinase
làm cho xương bị xốp và dễ gãy. Nó cũng còn trợ giúp cho
tế bào xương hình thành vững vàng. Một cuộc thí nghiệm
khác được thực hiện bằng cách cắt bỏ noãn sào (buồng
trứng) của chuột cái để cho nó không sản xuất ra kích
thích tố oestrogen nữa, rồi cho chúng ăn toàn bằng đậu nành.
Chất Isoflavones trong đậu nành vẫn ngăn chận được sự
thoái hóa của xương và làm cho xương luôn luôn khỏe mạnh.
Những
nghiên cứu gần đây cho biết những phụ nữ sau thời kỳ
tắt kinh, mỗi ngày dùng bột hay sữa đậu nành thường xuyên
thì mật độ khoáng chất trong xương vẫn duy trì ở mức
độ bình thường. Hiện nay tại Úc Châu xưởng bào chế dược
phẩm đã sản xuất ra thuốc bằng đậu nành để cho người
phụ nữ trong tuổi tắt kinh sử dụng hằng ngày rất tiện
lợi.
Đậu
nành có thể phòng chống được bệnh ung thư:
Qua
những nghiên cứu gần đây, các khoa học gia ghi nhận những
người thường dùng đậu nành hoặc các sản phẩm của đậu
nành trong khẩu phần ăn uống hằng ngày ít có nguy cơ bị
bệnh ung thư nhũ hoa, tử cung, ruột già và nhiếp hộ tuyến.
Các nghiên cứu khác được thực hiện trên cơ thể súc vật
bằng cách gây cho chúng bị nhiễm bệnh ung thư rồi dùng chất
genistein hàm chứa trong đậu nành để chữa trị thì thấy
nó ngăn chận được sự phát triển của bịnh ung thư ruột
già, gan và vú. Người ta còn nghiên cứu bằng cách giả tạo
một sự sống như thể trạng thật của một con người đang
bị nhiễm bệnh ung thư và đặt trong ống nghiệm. Sau đó
họ trích các hợp chất từ đậu nành để chữa trị và
đạt được kết quả hữu hiệu. Những hợp chất này còn
có khả năng ngăn chận sự cung cấp máu để nuôi dưỡng
một loại tế bào đặc biệt có khuynh hướng hình thành các
bướu ung thư.
Hiện
nay các thí nghiệm được thực hiện trên cơ thể của loài
thú về khả năng chống bệnh ung thư của đậu nành đã thành
công một cách tốt đẹp. Tuy nhiên đối với con người cần
phải thực hiện thêm nhiều cuộc thí nghiệm khác nữa để
xác dịnh mức độ hữu hiệu và an toàn rồi mới công bố
để sử dụng. Gần đây khoa học gia Yehudith Birk của trường
Đại học Hebrew ở Jerusalem đã thực hiện được một vài
phương pháp đáng khích lệ, có thể chữa được bệnh ung
thư ở nhiều cấp độ trầm trọng và trong nhiều bộ phận
cơ thể khác nhau mà không cần biết bệnh đã phát sinh vì
nguyên do gì. Hiện nay Cơ quan Quản Trị Thực Phẩm và Dược
Phẩm Hoa Kỳ đang cho phép áp dụng phương pháp này để điều
trị một số bệnh nhân tình nguyện trong bệnh viện để
thí nghiệm và kiểm chứng. Saponin và những hợp chất khác
của đậu nành cũng đang được nghiên cứu và áp dụng. Mong
rằng cuộc thí nghiệm này được sớm thành công và sẽ mang
lại một tin vui cho nhân loại trên toàn thế giới.
Đậu
nành và bệnh thận:
Trong
lãnh vực này, người ta nghiên cứu một cách lẻ tẻ và hiện
chưa có một kết quả thỏa đáng nào. Song vài thí nghiệm
cho thấy đậu nành cũng có ích lợi trong việc chữa trị
bệnh thận. Các khoa học gia của Ấn Độ đã chứng minh quy
thức ăn uống bằng cách tiêu thụ rất ít chất béo và chất
protein rồi phối hợp thêm đậu nành trong khẩu phần hằng
ngày có công hiệu giảm được chất cholesterol trong máu. Các
cuộc thí nghiệm khác trên loài chuột chứng minh được chất
Genistein trong đậu nành có thể làm cho mạch máu được thư
dãn và giảm chế được tốc độ lọc máu của hận, nên
tránh được bệnh tiểu đường. Người ta đã trích hợp
chất trong đậu nành để tiêm cho những con bò đã bị gây
bệnh tiểu đường thì thấy tốc độ lọc máu của chúng
trở lại mức độ bình thường.
Đậu
nành và ảnh hưởng sinh lý của phụ nữ:
Aedin
Cassidy và các khoa học gia của Anh Quốc đã ngiên cứu biết
được đậu nành điều hòa chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ
và kềm chế được sự phát triển quá mức kích thích tố
oestrogen của phụ nữ trẻ tuổi. Vì khi kích thích tố này
phát triển quá nhiều, người phụ nữ sẽ có sát suất dễ
bị bệnh ung thư nhũ hoa hơn.
Đối
với những phụ nữ sau thời kỳ tắt kinh, dùng đến 40% đậu
nành trong khẩu phần ăn uống hàng ngày sẽ không cần phải
uống thuốc hồi phục kích thích tố mà vẫn có thể phòng
ngừa được bệnh xương xốp. Nếu cảm thấy ăn uống bất
tiện thì có thể dùng oestrogen thiên nhiên được bào chế
thành thuốc viên từ đậu nành hiện có bày bán hợp pháp
tại các tiệm dược phẩm.
Đậu
nành và sức khỏe của trẻ con:
Tại
New Zealand, người ta thí nghiệm bằng cách nuôi những con vẹt
bằng bột đậu nành theo công thức sữa nuôi trẻ con và báo
cáo rằng không có ảnh hưởng gì xấu đối với sự sinh
sản và cơ quan sinh thực của chúng. Tuy nhiên thí nghiệm ở
loài vật có kết quả chưa hẳn sẽ trùng hợp với thí nghiệm
ở loài người. Trong thập niên qua, ông Kenneth Setchel, chuyên
gia nghiên cứu về đậu nành đã báo cáo rằng trẻ con được
nuôi dưỡng với sữa đậu nành có công thức Isoflavones cao
vẫn được an toàn. Trong nhiều năm nuôi dưỡng như vậy cũng
không có ảnh hưởng gì xấu cho đứa bé cả. Khoa học gia
Alercreutz bảo rằng người Á Châu thường ăn uống nhiều
đậu nành hơn không có ảnh gì bất lợi cho việc sinh sản
của họ cả. Chất Isoflavones tập trung trong thủy dịch bao
bọc chung quanh bào thai tương đồng với mức độ Isoflavones
trong máu của một người mẹ bình thường. Ở Nhật Bản,
trẻ con khoảng 4 tháng tuổi là đã cho dứt sữa mẹ và được
thay thế bằng sữa đậu nành, được bảo đảm rằng nó
sẽ có đầy đủ sức khỏe trong tương lai vào thời kỳ khôn
lớn. Lamartinière đã thí nghiệm bằng cách cho chuột ăn chất
Genistein của đậu nành sẽ tránh được bệnh ung thư vú về
sau. Hiện thời người ta vẫn còn nghiên cứu để xác định
rõ ràng vai trò của đậu nành trong việc nuôi dưỡng trẻ
con quan trọng như thế nào.
Tóm
lại, qua sự trình bày trên đây, chúng ta thấy quả thật
đậu nành đã có công hiệu đối với việc phòng ngừa và
chữa trị một số bệnh tật. Tuy nhiên vì bản thân nó xuất
xứ từ một loại thảo mộc tầm thường nên trong dân gian
ít ai để ý tới. Tại Hoa Kỳ, người ta đang nghiên cứu
dể nắm vững các chứng minh cụ thể về công dụng của
đậu nành rồi mới chính thức đưa vào y khoa trị liệu.
Tại Úc Châu tầm mức của đậu nành có khả năng y dược
chưa được đặt thành đề tài nghiên cứu quan trọng. Tuy
nhiên trong thời gian gần đây người ta đã bắt đầu sử
dụng đậu nành để sản xuất chất oestrogen nhân tạo và
được bày bán trong các nhà thuốc tây một cách hợp pháp
để cho các phụ nữ trong tuổi tắt kinh sử dụng hàng ngày
rất tiện lợi. Mong rằng trong tương lai, những công dụng
khác của đậu nành trong lãnh vực y dược sẽ còn được
quảng bá rộng rãi hơn nữa và sẽ mang lại nhiều hữu ích
thiết thực trong việc bảo vệ sức khỏe của con người.
Người
Á Châu mình đã biết dùng đậu nành để chế biến nhiều
loại thức ăn. Tuy không nghiên cứu rõ ràng, nhưng may mắn
ngẫu nhiên trùng hợp về giá trị dinh dưỡng đặc biệt
của nó.