ĐẶC
TÍNH DINH DƯỠNG
CỦA
VÀI LOẠI THỰC VẬT
ĐẬU
NÀNH VÀ KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG BỊNH TẬT
CHUỐI
CÓ KHẢ NĂNG TRỊ BỆNH CAO HUYẾT ÁP
KHẢ
NĂNG PHÒNG CHỐNG BỆNH UNG THƯ DA CỦA TRÁI CÂY VÀ RAU CẢI
SINH
TỐ C TRONG CAM, CHANH, QUÍT VÀ BƯỞI CHỐNG ĐƯỢC BỆNH CẢM
CÚM MÙA ĐÔNG
DẦU
MÈ TRONG ĂN UỐNG VÀ DINH DƯỠNG
SỰ
ÍCH LỢI CỦA DẦU Ô-LIU TRONG ĂN UỐNG VÀ PHÒNG CHỐNG BỆNH
TẬT
NHA
ĐAM HAY LÔ HỘI, CÂY KIỂNG VÀ DƯỢC THẢO
Bài II
CHUỐI
CÓ KHẢ NĂNG TRỊ BỆNH CAO HUYẾT ÁP
Bệnh cao
máu là một chứng bệnh thường xảy ra trong giới những vị
trọng tuổi. Nguyên do phần lớn vì sự di truyền của huyết
thống hoặc vì sự ăn uống kém cẩn trọng trong xã hội văn
minh hiện nay. Người ta có thể chữa bệnh cao máu bằng thuốc
kết hợp với sự ăn uống có phương pháp do bác sĩ y khoa
hướng dẫn.
Theo tạp
chí New Vegetarian and Natural Health chuyên phổ biến các nghiên
cứu về ăn chay và dinh dưỡng, xuất bản gần đây tại Úc
Châu cho biết: Hàng ngày, mỗi người trung bình chỉ cần ăn
một trái chuối là có đủ khả năng phòng ngừa được bệnh
cao máu. Đối với bệnh nhân đang mắc phải chứng bệnh này,
chuối cũng có thể chữa trị hoặc làm giảm thiểu được
tầm mức nguy hiểm của bệnh.
Bác sĩ y
khoa Frank M. Sack, thuộc viện Đại học Harvard ở Boston Hoa
kỳ cho biết chuối là một thứ trái cây chứa nhiều hàm
lượng chất potassium, một loại khoáng chất thiên nhiên rất
hữu ích cho sự hoạt động của tim mạch. Ông đã thực hiện
cuộc khảo sát bằng cách chia 300 y tá của nhà trường, trong
tình trạng bình thường về huyết áp, ra thành 3 nhóm. Rồi
cho họ ăn uống bằng những thực phẩm có chứa đựng các
loại dưỡng chất khác nhau trong một thời hạn ấn định.
Kết quả cuộc thí nghiệm cho thấy thành phần máu của những
người trong nhóm ăn nhiều dưỡng chất calcium và magnesium
không hề hấn gì. Ngược lại nhóm người đã dùng thực
phẩm có chứa nhiều chất Potassium thì áp suất máu của họ
đã giảm xuống 2 điểm.
Những nghiên
cứu khác cũng còn cho thấy potassium cũng có khả năng làm
cho huyết áp của những người đang bị bệnh cao máu trở
lại tình trạng bình thường. Cuộc khảo sát cũng còn cho
biết một người lớn chỉ cần mỗi ngày từ 3500 đến 4000mg
chất potassium thiên nhiên là đủ. Một trái chuối trung bình
chứa 450mg potassium và một củ khoai tây nướng trung bình chứa
850mg potassium. Ngoài ra chất potassium cũng còn tìm thấy trong
các loại trái cây và rau cải tươi khác.
Bài III
KHẢ
NĂNG PHÒNG CHỐNG BỆNH UNG THƯ DA
CỦA TRÁI
CÂY VÀ RAU CẢI
Theo thống
kê của các cơ quan y tế, Úc Châu là một trong những nước
có tỷ số dân chúng mắc bệnh ung thư da cao nhất trên thế
giới. Cho nên họ thường khuyến cáo mọi người nên sử
dụng kem chống nắng mỗi khi sinh hoạt ở ngoài trời.
Tuy nhiên
theo nhật báo The Sydney Morning Herald xuất bản ngày 19-2-1998
đã tiết lộ: Kem chống nắng không có khả năng toàn diện
trong việc phòng ngừa các bệnh ung thư da mà chỉ có rau cải
và trái cây tươi mới thực sự có công hiệu dề kháng lại
chứng bệnh nguy hiểm này mà thôi.
Phần lớn
các loại rau cải và trái cây đều chứa các sinh tố A, C
và E gọi chung là chất Antioxidant. Chất này có tác dụng ngăn
chận các tia quang tuyến tử ngoại loại A của ánh nắng mặt
trời, không cho chúng có cơ hội tổng hợp các chất melanoma
thành những vết thâm trên da rồi dần dần chuyển biến thành
các vết ung thư nguy hiểm.
Nhà quang
tuyến học Richard Setlow thuộc viện nghiên cứu Brookhaven ở
New York đã phát biểu trong một buổi họp các khoa học gia
rằng kem chống nắng không có công hiệu ngăn ngừa sự tạo
thành chất melanoma gây ra bởi ánh nắng mặt trời. Ông bảo
90 phần trăm chất melanoma tai hại được hình thành bắt nguồn
từ tia cực tím UV-A và chỉ 10 phần trăm là do tia UV-B mà
thôi.
Bác sĩ chuyên
khoa về da là ông Frank Gasparro thuộc viện Đại học Thomas
Jefferson ở tiểu bang Philladelphia bảo kem chống nắng thông
thường chỉ có công dụng ngăn ngừa sự cháy nắng và phỏng
da. Tuy nhiên những loại kem chống nắng được bào chế với
kỹ thuật cao, có công thức phối hợp với các chất antioxidant
mới có công hiệu ngăn chận các tia tử ngoại, nhưng khả
năng rất hạn hẹp. Cách tốt nhất là chúng ta nên ăn nhiều
loại rau trái hàng ngày để củng cố sức đề kháng của
cơ thể rồi bôi thêm kem chống nắng là phương pháp tốt
và hữu hiệu nhất trong việc đề phòng bệnh ung thư da mà
thôi.
Ngoài ra các
nghiên cứu cũng cho biết chất antioxidant trong diệp lục tố
của trà xanh cũng có công hiệu chống lại bệnh ung thư da
và một vài loại ung thư khác.
Tóm lại
sự ăn uống đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc
bảo vệ sức khỏe của con người. Biết cách ăn uống thích
hợp cũng là phương pháp hữu hiệu để ngăn ngừa các loại
bệnh nan y hiện nay đang lan tràn trên thế giới.
Bài IV
SINH
TỐ C TRONG CAM, CHANH, QUÍT
VÀ BƯỞI
CHỐNG ĐƯỢC BỆNH CẢM CÚM MÙA ĐÔNG
Tại Úc Châu,
hàng năm khi đến mùa đông, dân chúng thường hay mắc phải
bệnh cảm cúm. Tuy cảm cúm không phải là chứng bệnh khó
trị, nhưng nếu khinh thường hoặc không chạy chữa kịp thời
và đúng cách, nó có thể làm cho sức đề kháng của cơ thể
bị suy yếu và rất dễ bị vi khuẩn của các bệnh tật khác
tấn công. Vi thế các cơ quan y tế của chính phủ thường
hay khuyến cáo dân chúng, nhất là những người già cả, bệnh
hoạn hay yếu đuối nên chích ngừa để đề phòng bệnh cảm
cúm mỗi khi mùa đông sắp đến.
Tuy nhiên
người ta cũng có thể đề phòng bị cảm cúm bằng cách giữ
gìn cho cơ thể luôn luôn được khỏe mạnh mà sự ăn uống
với đầy đủ chất bổ dưỡng cũng đóng một vai trò vô
cùng cần thiết.
Theo thống
kê, hàng năm mỗi người trong chúng ta trung bình mắc phải
bệnh cảm cúm nặng hay nhẹ tổng cộng là 6 lần. Các chứng
bệnh cảm cúm này cùng với vi khuẩn của những bệnh tật
khác sẽ đồng lõa với nhau tàn phá sức khỏe của chúng
ta và làm cho sức miễn nhiễm bị suy yếu. Vì thế chúng ta
sẽ bị cảm cúm trầm trọng hay biến chứng sang các bệnh
tật khác. Các chuyên gia y tế thường khuyến cáo chúng ta
nên giữ gìn sức khoẻ để phòng bệnh tốt hơn là để bị
bệnh rồi mới chạy chữa. Nhưng giữ gìn sức khỏe không
phải chỉ chú trọng tới thường xuyên hoạt động về thể
lực mà phải biết cách ăn uống sao cho cơ thể có khả năng
đề kháng lại bệnh tật một cách hữu hiệu.
Ông Peter
Sevcek, một chuyên gia y tế cho biết, sinh tố C trong rau quả
mà đặc biệt trong cam, chanh, quít và bưởi có khả năng dinh
dưỡng đáng kể làm gia tăng sức mạnh và số lượng bạch
huyết cầu nên đề kháng được một số bệnh tật mà trước
mắt là bệnh cảm cúm mùa đông.
Những người
thường dùng sinh tố C hàng ngày ít khi bị bệnh hoặc nếu
đã bị bệnh rồi thì số ngày nghỉ dưỡng bệnh cũng giảm
thiểu được 30 phần trăm. Trong số 100 người dùng sinh tố
C hàng ngày thì có 40 người hoàn toàn không mắc phải chứng
bệnh nào hết kể cả bệnh cảm cúm mùa đông. Sinh tố C
cũng là một thành phần trong hợp chất antioxidant có khả
năng phòng chống lại với sự suy thoái tế bào gây ra bởi
nhiều nguyên nhân khác nhau. Các loài động vật khác có khả
năng tự sản sinh ra lượng sinh tố C đủ để cung ứng cho
nhu cầu của cơ thể. Tuy nhiên con người thì không có cái
khả năng bẩm sinh đó nên phải hấp thụ từ bên ngoài như
thuốc men và sự ăn uống. Nhưng có điều cơ thể của chúng
ta có thể sản sinh ra một chất xúc tác gọi là Calcium L-Threonate
có nhiệm vụ kích thích sự hấp thụ sinh tố C. Song không
phải ai cũng có khả năng tiếp nhận đồng đều. Những người
ít có khả năng tiêp thụ sinh tố C lại thường là những
người dễ bị thất thoát sinh tố C qua đường bài tiết.
Hiện nay
sinh tố C được các hãng dược phẩm bào chế từ hóa chất
hay các hợp chất thiên nhiên với nhiều nhãn hiệu thương
mại khác nhau. Tuy nhiên sinh tố C hàm chứa trong các loại
rau quả mà nhất là trong cam, chanh, quít và bưởi là dồi
dào và tốt nhất vì nó còn giữ được đặc tính thiên nhiên
vì chưa thông qua giai đoạn bào chế bằng phương pháp khoa
học nên rất thích hợp cho sự dinh dưỡng của con người.
Bài V
DẦU
MÈ TRONG ĂN UỐNG VÀ DINH DƯỠNG
Mè là một
loại thực vật thường được trồng rất nhiều tại các
nước nhiệt đới và ôn đới thuộc vùng Á Châu. Hạt của
nó rất nhỏ nhưng lại chứa rất nhiều dầu. Có hai loại
mè: Mè hạt đen thường được gọi là mè đen và mè hạt
trắng thì thường được gọi là mè trắng. Tuy nhiên khi đã
ép thành dầu rồi thì người ta chỉ gọi một tên duy nhất
là Dầu Mè chớ không có phân biệt đen hay trắng. Mè không
được thông dụng tại các quốc gia Âu Mỹ cho lắm, mặc
dầu một phần lãnh thổ của Âu Châu và Bắc Mỹ đã có
trồng mè. Dầu mè chứa rất nhiều khoáng chất và protein
có phẩm chất cao, rất thích hợp cho sự ăn uống và dinh
dưỡng của con người.
Dầu mè là
một loại dầu thực vật chứa rất nhiều chất béo dễ tan
nên được hấp thụ trực tiếp vào tế bào và được cơ
thể tiêu dùng ngay. Lọai chất béo này cũng cung cấp khí oxy
cho cơ thể để đốt các thức ăn thành ra năng lượng góp
phần hữu hiệu trong sự thanh lọc để loại trừ các chất
cặn bã. Dầu mè cũng còn phòng ngừa và chữa trị được
bệnh táo bón, bệnh ung mủ, da chốc lở và một số bướu
độc nữa. Nó cũng công hiệu để làm cho an thần, chữa chứng
mất ngủ, kích thích sự hoạt động và gia tăng sức mạnh
của cơ tim vì nó chứa nhiều thành phần sinh tố E và đặc
biệt rất hữu ích cho người phụ nữ trong thời kỳ thai
nghén. Hạt mè và dầu mè là một thứ thức ăn rất tốt
cho những bệnh nhân đau gan và mật vì nó là một loại dầu
rất dễ tiêu hóa.
Mè hữu ích
cho sức khỏe của con người trong nhiều phương diện. Nên
chúng ta cần khuyến khích trẻ con ăn nhiều thực phẩm bằng
mè để thay thế cho bánh kẹo bình thường vì trong lãnh vực
dưỡng sinh mè chứa nhiều chất bổ dưỡng thiên nhiên và
hoàn hảo nhất cần thiết cho sự tăng trưởng của cơ thể
con người.
Trong xã hội
văn minh và hoạt động không ngừng nghỉ, con người lúc nào
cũng căng thẳng từ thần kinh não bộ cho đến các cơ quan
ngũ tạng. Người ta thường hay ăn uống vội vàng và không
chú trọng đến phẩm chất của thức ăn. Cho nên ngoài bao
tử ra, gan cũng là cơ quan chịu rất nhiều ảnh hưởng. Tuy
nhiên muốn cho gan được khoẻ mạnh và luôn hoạt động điều
hòa không gì tốt hơn là phải ngó ngàng và chăm sóc nó. Mè
và dầu mè là loại thực phẩm không thể thiếu trong mọi
gia đình. Hàng ngày chúng ta có thể ăn mè rang rắc vào cơm
gạo lứt, ăn bánh mì mè hoặc có thể dùng dầu mè để trộn
xà lách rất thơm ngon và rất tốt cho gan và mật. Mè chứa
rất nhiều protein gồm 8 loại amino acids căn bản cho nhu cầu
dinh dưỡng. Khi gan và mật khỏe mạnh, sức dề kháng của
cơ thể chúng ta cũng mạnh theo, nên có khả năng chống lại
được các vi khuẩn viêm gan độc hại xâm nhập vào cơ thể.
Khi ăn mè chúng ta phải nhai cho thật kỹ để cho hạt mè nát
hẳn hoàn toàn rồi mới nuốt vào thì khả năng hấp thụ
dưỡng chất của cơ thể mới có công hiệu hơn.
Mè thường
được trồng ở vùng ôn đới có nhiều nắng ấm nên tiếp
nhận rất nhiều năng lượng từ ánh nắng mặt trời. Bản
thân nó đã là một thứ thảo mộc khỏe mạnh rồi. Nguồn
năng lượng khỏe mạnh đó sẽ du nhập vào cơ thể chúng
ta bằng đường ăn uống.
Mè cũng còn
có khả năng làm giảm cơn đau nhức và bắp thịt mệt mỏi.
Chúng ta chỉ cần dùng dầu mè để xoa bóp vào những chỗ
đau thì chốc lát sau sẽ thấy thoải mái. Nó cũng là một
thứ thuốc nhuận trường rất hay và sử dụng lâu dài chỉ
tốt chớ không hề gây ra những phản ứng bất lợi. Mè là
một loại thực phẩm hoàn hảo. Nhưng tiếc thay không mấy
ai trên thế giới này để ý đến nó. Vậy khi chúng ta sử
dụng mè và thấy nó thật sự là một thức ăn tốt thì cũng
cần nên phổ biến cho bạn bè và đồng hương. Một khi thân
thể khỏe mạnh cường tráng thì bệnh tật khó xâm nhập
được.
Tại vùng
Cận Đông như ở Palestine, mè được dân chúng coi như là
một loại thực phẩm dưỡng sinh và thuốc gia truyền đã
được sử dụng từ ngàn xưa. Riêng tại Á Đông, dân Nhật
là một sắc dân đã biết tận dụng sự ích lợi của mè
để điều trị nhiều loại bệnh tật. Phương pháp Oshawa
của Nhật Bản ăn bằng gạo lứt muối mè để chữa bệnh
nan y cũng được nhiều người biết và áp dụng có hiệu
quả.
Bài VI
SỰ
ÍCH LỢI CỦA DẦU Ô-LIU TRONG
ĂN UỐNG
VÀ PHÒNG CHỐNG BỆNH TẬT
Dầu ô-liu
là một loại dầu ăn thảo mộc ngày nay được sử dụng
một cách phổ biến trên thế giới. So với mỡ động vật
và các loại dầu ăn thảo mộc khác thì dầu ô-liu rất tốt
và rất bổ ích cho sức khỏe của con người. Chất béo của
trái ô-liu có khả năng kích thích sự tiêu hóa và điều hòa
hệ thống tiêu hóa. Đặc biệt hơn cả là lá của cây ô-liu
cũng có công dụng như một loại dược thảo. Nó có đặc
tính như thuốc trụ sinh có khả năng tiêu diệt được vi
khuẩn của một số bệnh tật.
Sự khám
phá trên đây không phải là mới mẻ. Từ ngàn xưa loài người
đã biết dùng lá ô-liu sắc thành nước uống để chữa trị
bệnh nóng lạnh và các bệnh cảm cúm thông thường.
Theo nghiên
cứu của các khoa học gia gần đây cho biết, lá ô-liu có
chứa một loại dược chất là oleuropein vừa có khả năng
như thuốc trụ sinh rất mạnh. Ngoài ra nó cũng chứa hợp
chất antioxidant có công hiệu đề kháng lại sự suy thoái
tế bào (nguyên nhân gây bệnh ung thư) và còn làm hạ giảm
được huyết áp... Hơn nữa nó cũng còn có khả năng tăng
gia sức mạnh của hệ thống miễn nhiễm của cơ thể, chống
đỡ tiến trình lão hóa của con người và tiêu diệt được
nhiều loại vi khuẩn khác nhau.
Ngày nay người
ta đã áp dụng phương pháp khoa học tối tân để trích tinh
chất của lá ô-liu một cách thuần khiết để chữa trị
bệnh cảm hàn, diệt trùng và chữa được một số bệnh
nấm độc ở ngoài da. Riêng việc người ta sử dụng lá ô-liu
để chữa bệnh cao huyết áp đã được ghi chép trong các
sách dược thảo học tự ngàn xưa. Nó cũng còn làm cho bắp
thịt được thư dãn, điều hòa sự tuần hoàn huyết và chữa
trị được một số bệnh tim thông thường. Nó cũng giúp
máu huyết lưu thông đến tận các mao huyết quản, ngăn ngừa
được sự đông máu nên có khả năng phòng ngừa được chứng
tai biến mạch máu não.
Qua sự trình
bày trên đây, chúng ta thấy dầu ô-liu là một loại dầu
thực vật rất tốt cho sức khỏe của con người. Vì vậy
chúng ta nên sử dụng dầu ô-liu để thay thế cho các loại
dầu mỡ khác để vừa xào nấu thức ăn một cách ngon miệng
mà lại vừa có khả năng phòng ngừa được một số bệnh
tật có ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe của chúng ta.
Bài VII
NHA
ĐAM HAY LÔ HỘI,
CÂY KIỂNG
VÀ DƯỢC THẢO
Nha đam hay
lô hội thường thấy được trồng khá nhiều tại những
nhà yêu thích cây kiểng ở Việt Nam. Một số bà con mình
ở thôn quê cũng coi cây nha đam như một loại thuốc dân gian
cổ truyền bằng cách lấy chất keo của nó đắp lên mắt
nhặm để chữa bệnh đau mắt hay đắp lên vết thương nhẹ
để cầm máu. Trước đây đồng bào ta chưa có kinh nghiệm
nhiều về công dụng của nha đam vì không có phương tiện
nghiên cứu kỹ lưỡng. Tuy nhiên trong những năm gần đây,
sau khi khoa học đã khám phá ra công hiệu của nha đam trong
lãnh vực y dược, các nhà thương mại chụp lấy cơ hội,
thần thánh hóa và quảng cáo rầm rộ để đưa lên thị trường
như một loại thuốc tiên và đã giúp cho một số nhà đầu
tư trên thế giới làm giàu một cách nhanh chóng. Hiện nay
một số tư gia trong cộng đồng người Việt tại Úc Châu
cũng trồng nha đam, vừa để làm kiểng và vừa để làm thuốc
như một phong trào.
Theo sử sách,
nha đam đã được loài người biết dùng từ hơn 4 ngàn năm
nay như một loại dược thảo. Năm 1862, khoa học gia George
Elbers là người Ai Cập đầu tiên đã khám phá ra công dụng
của nha đam được biên chép trong sách cổ đã có từ 3500
năm trước Thiên Chúa giáng sinh. Những khám phá khoa học khác
cũng xác nhận chính người Trung Hoa và người Ấn Độ cũng
biết dùng loại dược thảo này từ ngàn xưa và đã được
ghi chép trong một số sách sử. Các y sĩ của Hy lạp và La
Mã thời cổ như Dioscorides và Pliny The Elder đã nhận thấy
công hiệu rộng lớn của nha đam và theo truyền thuyết thì
Aristotle đã thuyết phục Alexander Đại Đế xâm lăng hòn đảo
Socotra ở Ấn Độ Dương để chiếm hữu loại thần dược
này hầu trị thương cho binh sĩ của họ bị chiến thương
ngoài mặt trận. Nữ hoàng Ai Cập Nefertiti và Cleopatra cũng
đã xếp hạng nha đam là một loại mỹ phẩm tốt nhất để
dưỡng da thời bấy giờ.
Theo thống
kê của các nhà thực vật học, hiện có hơn 200 loại nha
đam được tìm thấy trên thế giới gồm cả những loại
mọc hoang dã hoặc được người ta trồng tỉa và chăm bón.
Nhưng tựu trung chỉ có ba hay bốn loại là có đặc tính dược
chất cao và phù hợp theo tiêu chuẩn dược thảo.
Người ta
đã dùng chất keo của nha đam để uống hầu điều trị một
số bệnh tật hoặc phối hợp với vài loại thuốc khác để
làm kem dưỡng da và hiện được bày bán hợp pháp ngoài thị
trường với nhiều nhãn hiệu thương mại khác nhau.
Nha đam gồm
có 75 hợp chất khác nhau đã được các khoa học gia phân
tích và tập trung vào các nhóm chính sau đây:
1.-Nhóm
Sinh Tố: Nha đam gồm rất nhiều sinh tố đáng kể như sinh
tố A, C và E nên là một loại antioxidant quan trọng có khả
năng đề kháng lại sự tự phân hủy và suy thoái tế bào
nên ngăn ngừa được sự nguy hiểm của một số bịnh ung
thư. Đặc
biệt nha đam là một loại thực vật có chứa sinh tố B12
nên rất thích hợp để làm thuốc bổ thiên nhiên cho người
trường chay.
2.-Nhóm
Chất khoáng: Nha đam hàm chứa các loại chất khoáng cần thiết
cho cơ thể như magnesium, manganese, kẽm, đồng, chromium, calcium,
sodium, potassium và đặc biệt nhất là chất antioxidant selenium.
3.-Nhóm
Amino Acids: Có 22 loại Amino acids cần thiết cho cơ thể của
con người để tạo thành protein theo nhu cầu nhưng nha đam
đã chứa đến 20 loại. Điều quan trọng hơn cả là có
7 loại amino acids mà cơ thể của con người không thể tự
biến chế được mà chỉ hấp thụ trực tiếp từ thức ăn
bên ngoài thì nha đam đã chứa đến 7 loại trong số 8 loại
này.
4.-Nhóm
Đường: Nha đam có chứa chất đường quan trọng là Polysaccharides
có tác dụng củng cố hệ miễn nhiễm và trung hòa được
một số chất độc trong cơ thể.
5.-Nhóm
Enzymes: Hai chất enzymes quan trọng trong nha đam là lypases và
proteases có khả năng tiêu thực và làm mạnh bộ máy tiêu
hóa nên rất hữu ích cho những bệnh nhân bị bệnh bao tử
và đường ruột.
6.-Nhóm
Lygnin: Đây là một nguyên tố có khả năng thâm nhập sâu
vào da để bảo vệ da một cách rất công hiệu.
7.-Nhóm
Saponins: là một nguyên tố có hình thức như bọt xà bông,
có công hiệu chống lại các loại vi khuẩn, nấm hoặc men
độc làm cho da bị chốc lở hoặc mụn nhọt.
8.-Nhóm
Anthraquinones: Có khả năng như thuốc chỉ thống, chống lại
sự đau nhức, diệt trừ được một số vi khuẩn và đặc
biệt là một loại thuốc nhuận trường rất tốt, êm dịu
và dùng lâu không bị quen lờn hay phản ứng bất lợi.
Cây nha đam
hiệu dụng trong những trường hợp sau đây:
Chữa lành
các vết thương, cầm máu, nhuận gan, giúp ích cho sự tiêu
hóa, chống lại sự phân hủy tế bào của cơ thể nên phòng
ngừa được sự phát sinh của một số bịnh ung thư độc
hại. Nó cũng có khả năng làm chậm lại tiến trình lão hóa
và đặc biệt chữa được bịnh ngoài da và làm cho da được
tươi nhuận hồng hào. Hiện nay, các loại xà bông kể cả
thuốc gội đầu và kem dưỡng da có phối hợp thành phần
nha đam thiên nhiên được bày bán khắp nơi trên thị trường
nước Úc và đã được khá đông khách hàng chiếu cố.
Tóm lại
nha đam hay lô hội là một loại được thảo có công hiệu
trong nhiều lãnh vực chữa trị một số bịnh tật. Tuy nhiên
một số nhà sản xuất đã cố ý thổi phồng hiệu nghiệm
của nó một cách quá đáng hầu quảng cáo để thu đạt được
lợi nhuận lớn lao trên thị trường thương mại. Dù vậy,
nha đam vẫn là một thứ thảo mộc thiên nhiên thật sự hữu
ích và dễ trồng nên chúng ta cũng có thể dùng nó để vừa
làm cây kiểng trang trí ngoại thất và vừa làm dược thảo
để sử dụng mỗi khi cần thiết.