THƯ VIỆN HOA SEN  

[SEARCH]   [ENGLISH]   [VISCII FONT]
c
HOME KINH ÐIỂN GIỚI LUẬT LUẬN GIẢI  PHẬT HỌC   THIỀN NGUYÊN THỦY   THIỀN TỔ SƯ  NIỆM PHẬT  SỬ PHẬT GIÁO   PHÁP LUẬN  TỰ ÐIỂN PHẬT HỌC DINH DƯỠNG CHAY  TRUYỆN NGẮN  DIỄN ÐÀN PHẬT PHÁP INDEX TÁC GIẢ 
c
c
C
Lời Giới Thiệu
PHẦN MỘT:ĂN CHAY THEO QUAN NIÊM CỦA MỖI THỜI ĐẠI
ĂN CHAY VÌ LÒNG THƯƠNG YÊU LOÀI VẬT
ĂN CHAY ĐỂ KIẾN TẠO MỘT XÃ HỘI HOÀ BÌNH
ĂN CHAY VÀ QUAN NIỆM CỦA DANH NHÂN THẾ GIỚI
ĂN CHAY VÀ QUAN NIỆM CỦA TÔN GIÁO
PHẦN HAI ĂN CHAY VÀ SỨC KHỎE CỦA
CON NGƯỜI
KHÁI NIỆM TỒNG QUÁT
ĂN CHAY VÀ PHÒNG BÊNH
ĂN CHAY VÀ SỨC KHỎE CỦA PHỤ NỮ TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN
ĂN CHAY ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ CON
NGƯỜI ĂN CHAY SẼ CÓ LÀN DA TRẺ ĐẸP
NHỮNG NGƯỜI SỐNG KHỎE VÀ SỐNG LÂU TRÊN THẾ GIỚI
ĂN CHAY VÀ THỂ LỰC
NGƯỜI ĂN CHAY CÓ KHẢ NĂNG SỐNG TRƯỜNG THỌ
NHỜ ĂN CHAY VÀ NGỔI THIỀN
CƠ QUAN Y TẾ ANH QUỐC KHUYẾN CÁO
ĂN CHAY ĐẦY ĐỦ VÀ ĐÚNG CÁCH
TÂM SỰ CỦA
PHẦN BA: ĐẶC TÍNH DINH DƯỠNG CỦA VÀI LOẠI THỰC VẬT
ĐẬU NÀNH VÀ KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG BỊNH TẬT
CHUỐI CÓ KHẢ NĂNG TRỊ BỊNH CAO HUYẾT ÁP
PHẦN BỐN
Phục lục:

 

c
ĂN CHAY VÀ SỨC KHỎE
Tác giả : Trần Anh Kiệt
Kỹ thuật và trình bày : Trần Xuân Thưởng - Ảnh bìa : Ngọc Tưởng
ĐẶC TÍNH DINH DƯỠNG
CỦA VÀI LOẠI THỰC VẬT


  • ĐẬU NÀNH VÀ KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG BỊNH TẬT
  • CHUỐI CÓ KHẢ NĂNG TRỊ BỆNH CAO HUYẾT ÁP
  • KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG BỆNH UNG THƯ DA CỦA TRÁI CÂY VÀ RAU CẢI
  • SINH TỐ C TRONG CAM, CHANH, QUÍT VÀ BƯỞI CHỐNG ĐƯỢC BỆNH CẢM CÚM MÙA ĐÔNG
  • DẦU MÈ TRONG ĂN UỐNG VÀ DINH DƯỠNG
  • SỰ ÍCH LỢI CỦA DẦU Ô-LIU TRONG ĂN UỐNG VÀ PHÒNG CHỐNG BỆNH TẬT
  • NHA ĐAM HAY LÔ HỘI, CÂY KIỂNG VÀ DƯỢC THẢO

  • Bài II

    CHUỐI CÓ KHẢ NĂNG TRỊ BỆNH CAO HUYẾT ÁP

    Bệnh cao máu là một chứng bệnh thường xảy ra trong giới những vị trọng tuổi. Nguyên do phần lớn vì sự di truyền của huyết thống hoặc vì sự ăn uống kém cẩn trọng trong xã hội văn minh hiện nay. Người ta có thể chữa bệnh cao máu bằng thuốc kết hợp với sự ăn uống có phương pháp do bác sĩ y khoa hướng dẫn.

    Theo tạp chí New Vegetarian and Natural Health chuyên phổ biến các nghiên cứu về ăn chay và dinh dưỡng, xuất bản gần đây tại Úc Châu cho biết: Hàng ngày, mỗi người trung bình chỉ cần ăn một trái chuối là có đủ khả năng phòng ngừa được bệnh cao máu. Đối với bệnh nhân đang mắc phải chứng bệnh này, chuối cũng có thể chữa trị hoặc làm giảm thiểu được tầm mức nguy hiểm của bệnh.

    Bác sĩ y khoa Frank M. Sack, thuộc viện Đại học Harvard ở Boston Hoa kỳ cho biết chuối là một thứ trái cây chứa nhiều hàm lượng chất potassium, một loại khoáng chất thiên nhiên rất hữu ích cho sự hoạt động của tim mạch. Ông đã thực hiện cuộc khảo sát bằng cách chia 300 y tá của nhà trường, trong tình trạng bình thường về huyết áp, ra thành 3 nhóm. Rồi cho họ ăn uống bằng những thực phẩm có chứa đựng các loại dưỡng chất khác nhau trong một thời hạn ấn định. Kết quả cuộc thí nghiệm cho thấy thành phần máu của những người trong nhóm ăn nhiều dưỡng chất calcium và magnesium không hề hấn gì. Ngược lại nhóm người đã dùng thực phẩm có chứa nhiều chất Potassium thì áp suất máu của họ đã giảm xuống 2 điểm.

    Những nghiên cứu khác cũng còn cho thấy potassium cũng có khả năng làm cho huyết áp của những người đang bị bệnh cao máu trở lại tình trạng bình thường. Cuộc khảo sát cũng còn cho biết một người lớn chỉ cần mỗi ngày từ 3500 đến 4000mg chất potassium thiên nhiên là đủ. Một trái chuối trung bình chứa 450mg potassium và một củ khoai tây nướng trung bình chứa 850mg potassium. Ngoài ra chất potassium cũng còn tìm thấy trong các loại trái cây và rau cải tươi khác.
     
     

    Bài III

    KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG BỆNH UNG THƯ DA
    CỦA TRÁI CÂY VÀ RAU CẢI

    Theo thống kê của các cơ quan y tế, Úc Châu là một trong những nước có tỷ số dân chúng mắc bệnh ung thư da cao nhất trên thế giới. Cho nên họ thường khuyến cáo mọi người nên sử dụng kem chống nắng mỗi khi sinh hoạt ở ngoài trời.

    Tuy nhiên theo nhật báo The Sydney Morning Herald xuất bản ngày 19-2-1998 đã tiết lộ: Kem chống nắng không có khả năng toàn diện trong việc phòng ngừa các bệnh ung thư da mà chỉ có rau cải và trái cây tươi mới thực sự có công hiệu dề kháng lại chứng bệnh nguy hiểm này mà thôi.

    Phần lớn các loại rau cải và trái cây đều chứa các sinh tố A, C và E gọi chung là chất Antioxidant. Chất này có tác dụng ngăn chận các tia quang tuyến tử ngoại loại A của ánh nắng mặt trời, không cho chúng có cơ hội tổng hợp các chất melanoma thành những vết thâm trên da rồi dần dần chuyển biến thành các vết ung thư nguy hiểm.

    Nhà quang tuyến học Richard Setlow thuộc viện nghiên cứu Brookhaven ở New York đã phát biểu trong một buổi họp các khoa học gia rằng kem chống nắng không có công hiệu ngăn ngừa sự tạo thành chất melanoma gây ra bởi ánh nắng mặt trời. Ông bảo 90 phần trăm chất melanoma tai hại được hình thành bắt nguồn từ tia cực tím UV-A và chỉ 10 phần trăm là do tia UV-B mà thôi.

    Bác sĩ chuyên khoa về da là ông Frank Gasparro thuộc viện Đại học Thomas Jefferson ở tiểu bang Philladelphia bảo kem chống nắng thông thường chỉ có công dụng ngăn ngừa sự cháy nắng và phỏng da. Tuy nhiên những loại kem chống nắng được bào chế với kỹ thuật cao, có công thức phối hợp với các chất antioxidant mới có công hiệu ngăn chận các tia tử ngoại, nhưng khả năng rất hạn hẹp. Cách tốt nhất là chúng ta nên ăn nhiều loại rau trái hàng ngày để củng cố sức đề kháng của cơ thể rồi bôi thêm kem chống nắng là phương pháp tốt và hữu hiệu nhất trong việc đề phòng bệnh ung thư da mà thôi.

    Ngoài ra các nghiên cứu cũng cho biết chất antioxidant trong diệp lục tố của trà xanh cũng có công hiệu chống lại bệnh ung thư da và một vài loại ung thư khác.

    Tóm lại sự ăn uống đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của con người. Biết cách ăn uống thích hợp cũng là phương pháp hữu hiệu để ngăn ngừa các loại bệnh nan y hiện nay đang lan tràn trên thế giới.
     
     

    Bài IV

    SINH TỐ C TRONG CAM, CHANH, QUÍT 
    VÀ BƯỞI CHỐNG ĐƯỢC BỆNH CẢM CÚM MÙA ĐÔNG

    Tại Úc Châu, hàng năm khi đến mùa đông, dân chúng thường hay mắc phải bệnh cảm cúm. Tuy cảm cúm không phải là chứng bệnh khó trị, nhưng nếu khinh thường hoặc không chạy chữa kịp thời và đúng cách, nó có thể làm cho sức đề kháng của cơ thể bị suy yếu và rất dễ bị vi khuẩn của các bệnh tật khác tấn công. Vi thế các cơ quan y tế của chính phủ thường hay khuyến cáo dân chúng, nhất là những người già cả, bệnh hoạn hay yếu đuối nên chích ngừa để đề phòng bệnh cảm cúm mỗi khi mùa đông sắp đến.

    Tuy nhiên người ta cũng có thể đề phòng bị cảm cúm bằng cách giữ gìn cho cơ thể luôn luôn được khỏe mạnh mà sự ăn uống với đầy đủ chất bổ dưỡng cũng đóng một vai trò vô cùng cần thiết.

    Theo thống kê, hàng năm mỗi người trong chúng ta trung bình mắc phải bệnh cảm cúm nặng hay nhẹ tổng cộng là 6 lần. Các chứng bệnh cảm cúm này cùng với vi khuẩn của những bệnh tật khác sẽ đồng lõa với nhau tàn phá sức khỏe của chúng ta và làm cho sức miễn nhiễm bị suy yếu. Vì thế chúng ta sẽ bị cảm cúm trầm trọng hay biến chứng sang các bệnh tật khác. Các chuyên gia y tế thường khuyến cáo chúng ta nên giữ gìn sức khoẻ để phòng bệnh tốt hơn là để bị bệnh rồi mới chạy chữa. Nhưng giữ gìn sức khỏe không phải chỉ chú trọng tới thường xuyên hoạt động về thể lực mà phải biết cách ăn uống sao cho cơ thể có khả năng đề kháng lại bệnh tật một cách hữu hiệu.

    Ông Peter Sevcek, một chuyên gia y tế cho biết, sinh tố C trong rau quả mà đặc biệt trong cam, chanh, quít và bưởi có khả năng dinh dưỡng đáng kể làm gia tăng sức mạnh và số lượng bạch huyết cầu nên đề kháng được một số bệnh tật mà trước mắt là bệnh cảm cúm mùa đông.

    Những người thường dùng sinh tố C hàng ngày ít khi bị bệnh hoặc nếu đã bị bệnh rồi thì số ngày nghỉ dưỡng bệnh cũng giảm thiểu được 30 phần trăm. Trong số 100 người dùng sinh tố C hàng ngày thì có 40 người hoàn toàn không mắc phải chứng bệnh nào hết kể cả bệnh cảm cúm mùa đông. Sinh tố C cũng là một thành phần trong hợp chất antioxidant có khả năng phòng chống lại với sự suy thoái tế bào gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Các loài động vật khác có khả năng tự sản sinh ra lượng sinh tố C đủ để cung ứng cho nhu cầu của cơ thể. Tuy nhiên con người thì không có cái khả năng bẩm sinh đó nên phải hấp thụ từ bên ngoài như thuốc men và sự ăn uống. Nhưng có điều cơ thể của chúng ta có thể sản sinh ra một chất xúc tác gọi là Calcium L-Threonate có nhiệm vụ kích thích sự hấp thụ sinh tố C. Song không phải ai cũng có khả năng tiếp nhận đồng đều. Những người ít có khả năng tiêp thụ sinh tố C lại thường là những người dễ bị thất thoát sinh tố C qua đường bài tiết.

    Hiện nay sinh tố C được các hãng dược phẩm bào chế từ hóa chất hay các hợp chất thiên nhiên với nhiều nhãn hiệu thương mại khác nhau. Tuy nhiên sinh tố C hàm chứa trong các loại rau quả mà nhất là trong cam, chanh, quít và bưởi là dồi dào và tốt nhất vì nó còn giữ được đặc tính thiên nhiên vì chưa thông qua giai đoạn bào chế bằng phương pháp khoa học nên rất thích hợp cho sự dinh dưỡng của con người.

    Bài V

    DẦU MÈ TRONG ĂN UỐNG VÀ DINH DƯỠNG

    Mè là một loại thực vật thường được trồng rất nhiều tại các nước nhiệt đới và ôn đới thuộc vùng Á Châu. Hạt của nó rất nhỏ nhưng lại chứa rất nhiều dầu. Có hai loại mè: Mè hạt đen thường được gọi là mè đen và mè hạt trắng thì thường được gọi là mè trắng. Tuy nhiên khi đã ép thành dầu rồi thì người ta chỉ gọi một tên duy nhất là Dầu Mè chớ không có phân biệt đen hay trắng. Mè không được thông dụng tại các quốc gia Âu Mỹ cho lắm, mặc dầu một phần lãnh thổ của Âu Châu và Bắc Mỹ đã có trồng mè. Dầu mè chứa rất nhiều khoáng chất và protein có phẩm chất cao, rất thích hợp cho sự ăn uống và dinh dưỡng của con người.

    Dầu mè là một loại dầu thực vật chứa rất nhiều chất béo dễ tan nên được hấp thụ trực tiếp vào tế bào và được cơ thể tiêu dùng ngay. Lọai chất béo này cũng cung cấp khí oxy cho cơ thể để đốt các thức ăn thành ra năng lượng góp phần hữu hiệu trong sự thanh lọc để loại trừ các chất cặn bã. Dầu mè cũng còn phòng ngừa và chữa trị được bệnh táo bón, bệnh ung mủ, da chốc lở và một số bướu độc nữa. Nó cũng công hiệu để làm cho an thần, chữa chứng mất ngủ, kích thích sự hoạt động và gia tăng sức mạnh của cơ tim vì nó chứa nhiều thành phần sinh tố E và đặc biệt rất hữu ích cho người phụ nữ trong thời kỳ thai nghén. Hạt mè và dầu mè là một thứ thức ăn rất tốt cho những bệnh nhân đau gan và mật vì nó là một loại dầu rất dễ tiêu hóa.

    Mè hữu ích cho sức khỏe của con người trong nhiều phương diện. Nên chúng ta cần khuyến khích trẻ con ăn nhiều thực phẩm bằng mè để thay thế cho bánh kẹo bình thường vì trong lãnh vực dưỡng sinh mè chứa nhiều chất bổ dưỡng thiên nhiên và hoàn hảo nhất cần thiết cho sự tăng trưởng của cơ thể con người.

    Trong xã hội văn minh và hoạt động không ngừng nghỉ, con người lúc nào cũng căng thẳng từ thần kinh não bộ cho đến các cơ quan ngũ tạng. Người ta thường hay ăn uống vội vàng và không chú trọng đến phẩm chất của thức ăn. Cho nên ngoài bao tử ra, gan cũng là cơ quan chịu rất nhiều ảnh hưởng. Tuy nhiên muốn cho gan được khoẻ mạnh và luôn hoạt động điều hòa không gì tốt hơn là phải ngó ngàng và chăm sóc nó. Mè và dầu mè là loại thực phẩm không thể thiếu trong mọi gia đình. Hàng ngày chúng ta có thể ăn mè rang rắc vào cơm gạo lứt, ăn bánh mì mè hoặc có thể dùng dầu mè để trộn xà lách rất thơm ngon và rất tốt cho gan và mật. Mè chứa rất nhiều protein gồm 8 loại amino acids căn bản cho nhu cầu dinh dưỡng. Khi gan và mật khỏe mạnh, sức dề kháng của cơ thể chúng ta cũng mạnh theo, nên có khả năng chống lại được các vi khuẩn viêm gan độc hại xâm nhập vào cơ thể. Khi ăn mè chúng ta phải nhai cho thật kỹ để cho hạt mè nát hẳn hoàn toàn rồi mới nuốt vào thì khả năng hấp thụ dưỡng chất của cơ thể mới có công hiệu hơn.

    Mè thường được trồng ở vùng ôn đới có nhiều nắng ấm nên tiếp nhận rất nhiều năng lượng từ ánh nắng mặt trời. Bản thân nó đã là một thứ thảo mộc khỏe mạnh rồi. Nguồn năng lượng khỏe mạnh đó sẽ du nhập vào cơ thể chúng ta bằng đường ăn uống.

    Mè cũng còn có khả năng làm giảm cơn đau nhức và bắp thịt mệt mỏi. Chúng ta chỉ cần dùng dầu mè để xoa bóp vào những chỗ đau thì chốc lát sau sẽ thấy thoải mái. Nó cũng là một thứ thuốc nhuận trường rất hay và sử dụng lâu dài chỉ tốt chớ không hề gây ra những phản ứng bất lợi. Mè là một loại thực phẩm hoàn hảo. Nhưng tiếc thay không mấy ai trên thế giới này để ý đến nó. Vậy khi chúng ta sử dụng mè và thấy nó thật sự là một thức ăn tốt thì cũng cần nên phổ biến cho bạn bè và đồng hương. Một khi thân thể khỏe mạnh cường tráng thì bệnh tật khó xâm nhập được.

    Tại vùng Cận Đông như ở Palestine, mè được dân chúng coi như là một loại thực phẩm dưỡng sinh và thuốc gia truyền đã được sử dụng từ ngàn xưa. Riêng tại Á Đông, dân Nhật là một sắc dân đã biết tận dụng sự ích lợi của mè để điều trị nhiều loại bệnh tật. Phương pháp Oshawa của Nhật Bản ăn bằng gạo lứt muối mè để chữa bệnh nan y cũng được nhiều người biết và áp dụng có hiệu quả.

    Bài VI

    SỰ ÍCH LỢI CỦA DẦU Ô-LIU TRONG
    ĂN UỐNG VÀ PHÒNG CHỐNG BỆNH TẬT

    Dầu ô-liu là một loại dầu ăn thảo mộc ngày nay được sử dụng một cách phổ biến trên thế giới. So với mỡ động vật và các loại dầu ăn thảo mộc khác thì dầu ô-liu rất tốt và rất bổ ích cho sức khỏe của con người. Chất béo của trái ô-liu có khả năng kích thích sự tiêu hóa và điều hòa hệ thống tiêu hóa. Đặc biệt hơn cả là lá của cây ô-liu cũng có công dụng như một loại dược thảo. Nó có đặc tính như thuốc trụ sinh có khả năng tiêu diệt được vi khuẩn của một số bệnh tật.

    Sự khám phá trên đây không phải là mới mẻ. Từ ngàn xưa loài người đã biết dùng lá ô-liu sắc thành nước uống để chữa trị bệnh nóng lạnh và các bệnh cảm cúm thông thường.

    Theo nghiên cứu của các khoa học gia gần đây cho biết, lá ô-liu có chứa một loại dược chất là oleuropein vừa có khả năng như thuốc trụ sinh rất mạnh. Ngoài ra nó cũng chứa hợp chất antioxidant có công hiệu đề kháng lại sự suy thoái tế bào (nguyên nhân gây bệnh ung thư) và còn làm hạ giảm được huyết áp... Hơn nữa nó cũng còn có khả năng tăng gia sức mạnh của hệ thống miễn nhiễm của cơ thể, chống đỡ tiến trình lão hóa của con người và tiêu diệt được nhiều loại vi khuẩn khác nhau.

    Ngày nay người ta đã áp dụng phương pháp khoa học tối tân để trích tinh chất của lá ô-liu một cách thuần khiết để chữa trị bệnh cảm hàn, diệt trùng và chữa được một số bệnh nấm độc ở ngoài da. Riêng việc người ta sử dụng lá ô-liu để chữa bệnh cao huyết áp đã được ghi chép trong các sách dược thảo học tự ngàn xưa. Nó cũng còn làm cho bắp thịt được thư dãn, điều hòa sự tuần hoàn huyết và chữa trị được một số bệnh tim thông thường. Nó cũng giúp máu huyết lưu thông đến tận các mao huyết quản, ngăn ngừa được sự đông máu nên có khả năng phòng ngừa được chứng tai biến mạch máu não.

    Qua sự trình bày trên đây, chúng ta thấy dầu ô-liu là một loại dầu thực vật rất tốt cho sức khỏe của con người. Vì vậy chúng ta nên sử dụng dầu ô-liu để thay thế cho các loại dầu mỡ khác để vừa xào nấu thức ăn một cách ngon miệng mà lại vừa có khả năng phòng ngừa được một số bệnh tật có ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe của chúng ta.

    Bài VII

    NHA ĐAM HAY LÔ HỘI,
    CÂY KIỂNG VÀ DƯỢC THẢO

    Nha đam hay lô hội thường thấy được trồng khá nhiều tại những nhà yêu thích cây kiểng ở Việt Nam. Một số bà con mình ở thôn quê cũng coi cây nha đam như một loại thuốc dân gian cổ truyền bằng cách lấy chất keo của nó đắp lên mắt nhặm để chữa bệnh đau mắt hay đắp lên vết thương nhẹ để cầm máu. Trước đây đồng bào ta chưa có kinh nghiệm nhiều về công dụng của nha đam vì không có phương tiện nghiên cứu kỹ lưỡng. Tuy nhiên trong những năm gần đây, sau khi khoa học đã khám phá ra công hiệu của nha đam trong lãnh vực y dược, các nhà thương mại chụp lấy cơ hội, thần thánh hóa và quảng cáo rầm rộ để đưa lên thị trường như một loại thuốc tiên và đã giúp cho một số nhà đầu tư trên thế giới làm giàu một cách nhanh chóng. Hiện nay một số tư gia trong cộng đồng người Việt tại Úc Châu cũng trồng nha đam, vừa để làm kiểng và vừa để làm thuốc như một phong trào.

    Theo sử sách, nha đam đã được loài người biết dùng từ hơn 4 ngàn năm nay như một loại dược thảo. Năm 1862, khoa học gia George Elbers là người Ai Cập đầu tiên đã khám phá ra công dụng của nha đam được biên chép trong sách cổ đã có từ 3500 năm trước Thiên Chúa giáng sinh. Những khám phá khoa học khác cũng xác nhận chính người Trung Hoa và người Ấn Độ cũng biết dùng loại dược thảo này từ ngàn xưa và đã được ghi chép trong một số sách sử. Các y sĩ của Hy lạp và La Mã thời cổ như Dioscorides và Pliny The Elder đã nhận thấy công hiệu rộng lớn của nha đam và theo truyền thuyết thì Aristotle đã thuyết phục Alexander Đại Đế xâm lăng hòn đảo Socotra ở Ấn Độ Dương để chiếm hữu loại thần dược này hầu trị thương cho binh sĩ của họ bị chiến thương ngoài mặt trận. Nữ hoàng Ai Cập Nefertiti và Cleopatra cũng đã xếp hạng nha đam là một loại mỹ phẩm tốt nhất để dưỡng da thời bấy giờ.

    Theo thống kê của các nhà thực vật học, hiện có hơn 200 loại nha đam được tìm thấy trên thế giới gồm cả những loại mọc hoang dã hoặc được người ta trồng tỉa và chăm bón. Nhưng tựu trung chỉ có ba hay bốn loại là có đặc tính dược chất cao và phù hợp theo tiêu chuẩn dược thảo.

    Người ta đã dùng chất keo của nha đam để uống hầu điều trị một số bệnh tật hoặc phối hợp với vài loại thuốc khác để làm kem dưỡng da và hiện được bày bán hợp pháp ngoài thị trường với nhiều nhãn hiệu thương mại khác nhau.

    Nha đam gồm có 75 hợp chất khác nhau đã được các khoa học gia phân tích và tập trung vào các nhóm chính sau đây:

    1.-Nhóm Sinh Tố: Nha đam gồm rất nhiều sinh tố đáng kể như sinh tố A, C và E nên là một loại antioxidant quan trọng có khả năng đề kháng lại sự tự phân hủy và suy thoái tế bào nên ngăn ngừa được sự nguy hiểm của một số bịnh ung thư. Đặc biệt nha đam là một loại thực vật có chứa sinh tố B12 nên rất thích hợp để làm thuốc bổ thiên nhiên cho người trường chay.

    2.-Nhóm Chất khoáng: Nha đam hàm chứa các loại chất khoáng cần thiết cho cơ thể như magnesium, manganese, kẽm, đồng, chromium, calcium, sodium, potassium và đặc biệt nhất là chất antioxidant selenium.

    3.-Nhóm Amino Acids: Có 22 loại Amino acids cần thiết cho cơ thể của con người để tạo thành protein theo nhu cầu nhưng nha đam đã chứa đến 20 loại. Điều quan trọng hơn cả là có 7 loại amino acids mà cơ thể của con người không thể tự biến chế được mà chỉ hấp thụ trực tiếp từ thức ăn bên ngoài thì nha đam đã chứa đến 7 loại trong số 8 loại này.

    4.-Nhóm Đường: Nha đam có chứa chất đường quan trọng là Polysaccharides có tác dụng củng cố hệ miễn nhiễm và trung hòa được một số chất độc trong cơ thể.

    5.-Nhóm Enzymes: Hai chất enzymes quan trọng trong nha đam là lypases và proteases có khả năng tiêu thực và làm mạnh bộ máy tiêu hóa nên rất hữu ích cho những bệnh nhân bị bệnh bao tử và đường ruột.

    6.-Nhóm Lygnin: Đây là một nguyên tố có khả năng thâm nhập sâu vào da để bảo vệ da một cách rất công hiệu.

    7.-Nhóm Saponins: là một nguyên tố có hình thức như bọt xà bông, có công hiệu chống lại các loại vi khuẩn, nấm hoặc men độc làm cho da bị chốc lở hoặc mụn nhọt.

    8.-Nhóm Anthraquinones: Có khả năng như thuốc chỉ thống, chống lại sự đau nhức, diệt trừ được một số vi khuẩn và đặc biệt là một loại thuốc nhuận trường rất tốt, êm dịu và dùng lâu không bị quen lờn hay phản ứng bất lợi.

    Cây nha đam hiệu dụng trong những trường hợp sau đây:

    Chữa lành các vết thương, cầm máu, nhuận gan, giúp ích cho sự tiêu hóa, chống lại sự phân hủy tế bào của cơ thể nên phòng ngừa được sự phát sinh của một số bịnh ung thư độc hại. Nó cũng có khả năng làm chậm lại tiến trình lão hóa và đặc biệt chữa được bịnh ngoài da và làm cho da được tươi nhuận hồng hào. Hiện nay, các loại xà bông kể cả thuốc gội đầu và kem dưỡng da có phối hợp thành phần nha đam thiên nhiên được bày bán khắp nơi trên thị trường nước Úc và đã được khá đông khách hàng chiếu cố.

    Tóm lại nha đam hay lô hội là một loại được thảo có công hiệu trong nhiều lãnh vực chữa trị một số bịnh tật. Tuy nhiên một số nhà sản xuất đã cố ý thổi phồng hiệu nghiệm của nó một cách quá đáng hầu quảng cáo để thu đạt được lợi nhuận lớn lao trên thị trường thương mại. Dù vậy, nha đam vẫn là một thứ thảo mộc thiên nhiên thật sự hữu ích và dễ trồng nên chúng ta cũng có thể dùng nó để vừa làm cây kiểng trang trí ngoại thất và vừa làm dược thảo để sử dụng mỗi khi cần thiết.

     
    [LINKS]  [PHẬT GIÁO THẾ GIỚI]  [NHẠC PHẬT GIÁO]  [PHÁP THOẠI]  [CHÙA VIỆT NAM]
    E-MAIL: banbientap@thuvienhoasen.org