Chương
II (tt)
CHÍNH
THỐNG GIÁO Ở BENARES ÐỐI LẬP PHONG TRÀO SA-MÔN KHẤT SĨ
Ngay thời đức Phật tại thế,
Benares đã lừng danh là nơi đặc biệt nhiều ân sủng cho
những ai đi tìm cứu rỗi dù không bằng với mức độ như
sau này ở thời Ấn giáo. Nhiều người tin rằng lễ tắm
ở sông Hằng tại Benares đặc biệt mang tính cứu độ linh
thiêng, và các người chết được hỏa thiêu trên các bến
sông (ghats) trong thành phố sẽ đi thẳng lên thiên giới
tạo cho nơi này một bầu không khí thần thánh.
Danh từ Vàrànasì hay Bàrànasì,
từ đó phát xuất tên Banàras hay Benares ngày nay, là do tên
hai con sông Varunà (Barnà) và Asi, về mùa khô, sông Asi chỉ
là một dòng nước nhỏ. Thành phố Benares nằm giữa hai miệng
sông trên tả ngạn (bờ tây) sông Hằng. Hữu ngạn (bờ đông)
sông Hằng ở Benares trước tiên chảy từ nam ra bắc, rồi
rẽ hướng đông bắc, là vùng không trồng trọt, chỉ là
một dãi đất rộng đen xám bị nước vùi sâu vào thời gió
mùa. Người ta tin là ai chết trên bờ đông con sông đối
diện thành phố này sẽ tái sanh làm con lừa!
Truyền thống cho rằng Benares xưa
là kinh đô thật ít mang tính thuyết phục. Thành phố này
có vẻ đã phát triển từ một giang cảng chuyển tàu thuyền
mọc lên ở góc sông Varunà và sông Hằng giao lưu, phía đông
bắc cầu Malavìya ngày nay, nơi đó hàng hóa được tháo ra
từ các ghe xuồng nhỏ trên sông Varunà đưa đến các thuyền
lớn trên sông Hằng. Tại đây và Bến Hoàng Gia (Ràj Ghàt)
kế cận, các nhà khảo cổ đã khám phá di tích nhiều tòa
nhà đá tối cổ của thành phố, từ thế kỷ thứ sáu trước
CN, đúng vào thời đức Phật. Trung tâm thương mại của thành
phố nằm khoảng 2km phía tây nam trên một ngọn đồi, tương
ứng với vùng Chauk (Chowk) ngày nay. Ðồi này cao khoảng 40km
trên mực nước sông và bảo vệ dân chúng khỏi bị nạn
lụt mà phần lớn thành phố dọc các bờ sông phải chịu
đựng hằng năm.
Ngay từ thời cổ đại, Benares đã
nổi tiếng về các loại gỗ tốt. Vải vóc, tơ lụa tinh xảo
và hạng thêu gấm dày thường dệt chen sợi vàng rất lừng
danh và được khách hàng ưa chuộng khắp tiểu lục địa
này. Người nào có sáng kiến cần thiết trong thương mại
và một số vốn để đầu tư, ứng tiền trước mua vải
sợi và cung cấp mẫu thời trang cho đám thợ dệt làm ra hàng
mới rồi lo việc xuất cảng bán sản phẩm có thể làm giàu
to. Ðiều này chắc hẳn là cách phụ thân chàng Yasa đã trở
thành vị phú thương xưa kia.
Một vài ngành kỹ nghệ và kinh
doanh có liên hệ đến vai trò tôn giáo của thành phố này
là việc sản xuất các thứ bình bằng đất và đồng dành
cho lễ rảy nước thánh, việc buôn hương trầm và nhiên liệu
dành cho lễ tế thần lửa, lễ hỏa thiêu, cùng các súc vật
hiến tế và làm tràng hoa. Một số lớn dân chúng Benares (có
lẽ khoảng 120.000 người thời ấy) đã sinh sống bằng cách
cung cấp các dịch vụ liên hệ việc hành hương như làm tế
sư ở các tế đàn hay hỏa táng, hướng đạo của đoàn lữ
hành, gia nhân quán trọ, hoặc bọn lừa đảo chuyên rình rập
đám người hành hương. Quanh thành phố trong một địa bàn
rộng lớn lại có những "nhân viên quảng cáo" đủ loại
luôn miệng hùng hồn tuyên bố các đặc tính của thành phố
thiêng liêng này và giá trị của nó trong sự cứu rỗi linh
hồn.
Mặc dù Benares với nếp sinh hoạt
nhộn nhịp bên bờ sông là một thành phố phồn thịnh thời
đức Phật, chúng ta cũng phải hình dung đó là một thành
phố khá khiêm tốn về phương diện kiến trúc. Những hình
dáng mà chúng ta thường nghĩ tới ngày nay khi nói về Benares
thật sự vào thời ấy chưa có. Ngày xưa không có nhiều ảnh
tượng hay đền đài vì các tế lễ Vệ-đà chỉ diễn ra
ngoài trời. Không có các bậc đá đưa xuống sông, mà chỉ
có các bờ đất sét, và cũng không có quang cảnh thành phố
nguy nga tráng lệ, mà chỉ có các dãy nhà gạch hoặc đất
sét, và thậm chí chúng cũng không mang được sắc thái điển
hình của Ấn Ðộ như ta thường thấy ngày nay.
Lãnh vực văn hóa lại càng nghèo
nàn hơn nữa: ta phải hình dung một nước Ấn Ðộ chưa có
các thiên anh hùng ca như Ràmàyana, Mahàbhàrata, Bhagavadgìtà,
các truyện thần thoại cổ điển chỉ mới ở thời kỳ non
trẻ, và thần Siva, mà kinh thành Benares trở thành nơi thờ
thần sau này, thời ấy chỉ là một tiểu thần thứ yếu,
còn phong tục thờ bò thiêng cũng chưa phát triển. Và cũng
như bây giờ, thời ấy không có một giới thẩm quyền nào
điều hành vấn đề tế lễ: mọi việc cúng tế không do
một nhóm người hay cộng đồng nào thực hiện, mà chỉ do
cá nhân. Mỗi người tự thi hành, hoặc nhờ người khác thi
hành các thủ tục lễ nghi mà vị ấy xét cần thiết cho mình.
Vậy thì Benares như thế nào thời
đức Phật? Quả thực đó là linh địa của tri thức Upanisad,
nơi mà những tư tưởng về tái sanh còn mới mẻ và quy luật
thưởng phạt tự nhiên đang được thảo luận rồi thông
qua; nhưng còn hơn thế nữa, đó là trung tâm tế đàn theo
kinh Vệ-đà vốn nằm trong tay một tập đoàn Bà-la-môn chuyên
nghiệp và cũng là trung tâm hỏa táng, một thành phố mời
mọc mua bán một đời sau trên thiên đàng! Rõ ràng là những
kẻ đang kiếm nhiều lợi nhuận béo bở nhờ các dịch vụ
này không thể nào thân thiện được với phong trào Sa-môn
tìm cầu giải thoát lại khinh thường mọi tập quán tế lễ
từ xưa ấy.
Do vậy đa số dân thành Benares đều
tỏ ra lạnh nhạt và thù ghét đối với các du sĩ khất thực
cắm lều ở ngoại thành với số lượng nhiều đáng lo ngại
như thế và lại thuyết giảng các tư tưởng phi truyền thống.
Nếu có vị nào liều lĩnh vào trung tâm thành phố thì bình
bát khất thực của vị ấy có thể chẳng nhận được gì
mà bản thân vị ấy còn bị nhục mạ nữa. Vì thế đa số
Sa-môn chỉ ở ngoại thành và tránh tiếp xúc với dân nội
thành.
Ðức Phật cũng đã làm như vậy.
Trong bốn mươi lăm năm hành đạo, ngài chỉ an cư mùa mưa
một lần duy nhất gần Benares, đó là vào năm 528 trước CN,
năm ngài thành đạo và thiết lập Tăng đoàn, mùa an cư ấy
tại Lộc Uyển ở Isipatana (Chư Thiên Ðọa Xứ), tức Sàrnàth.
Sau đó, ngài đã ở lại Isipatana hai ba lần nữa, có lẽ trên
đường về Kosambì, song ngài giới hạn việc du hành vào trung
tâm Benares đến mức tối thiểu. Nếu ngài không được gia
đình tôn giả Yasa cúng dường thực phẩm, ngài cũng không
đi khất thực ở trong thành phố, mà chỉ đến chợ gia súc
ở ngoại ô (AN 3. 126). Ngài rất ít liên hệ với dân chúng
theo chính thống Vệ-đà và tập tục tế lễ của họ.
Thực ra, đức Phật ủng hộ mọi
quan điểm bị đám tín đồ Bà-la-môn theo kinh Vệ-đà thù
ghét: ngài xem (1) việc rảy nước rửa tội và (2) tế thần
lửa đều là vô ích; (3) ngài công khai chỉ trích việc hiến
tế súc vật và (4) đối với lễ tế đàn theo kinh Vệ-đà,
ngài nêu quan điểm là mọi tế lễ đều có thể được loại
bỏ vì không cần thiết.
1) Lễ tắm nước: Niềm tin
tưởng nước có thể rửa sạch cho con người không chỉ các
chất dơ bẩn mà còn tẩy sạch hậu quả các tội lỗi như
phá bỏ lễ nghi, vi phạm luật giao tế giữa các giai cấp
xã hội v.v... là niềm tin tưởng thông thường ở Benares cũng
như các nơi khác. Ngoài sông Hằng còn có nhiều sông thiêng
khác nữa. Dòng nước sông được xem là có khả năng thanh
tịnh lớn hơn nước ao hồ. Nước biển được cho là không
chỉ vô hiệu quả trong việc thanh tịnh tâm linh mà còn rất
nguy hiểm vì nó làm hại phần tinh hoa con người.
Những Bà-la-môn thông thái hơn không
hoàn toàn tin tưởng ngây ngô như vậy về tính cách thanh tịnh
hóa của nước sông. Ðối với họ, nước chỉ tiêu hủy
tội lỗi của con người khi kẻ ấy không những đã tẩm
đầy mình bằng nước rửa tội, mà còn ý thức rõ rệt về
tính cách thiêng liêng của lễ "tẩy trần" này, vừa phối
hợp lễ nghi với một thái độ tinh thần đúng đắn. Chính
thái độ tâm linh này mới phân biệt được thánh lễ rửa
tội với việc tắm rửa chỉ nhằm tẩy sạch chất bẩn.
Tuy nhiên, yêu cầu này thường bị bỏ qua, cho nên việc rửa
tội đối với đa số dân chúng chỉ là những hình thức
bề ngoài hoàn toàn trống rỗng.
Một tín đồ điển hình của việc
tôn thờ nước thánh là Bà-la-môn Sundarika-Bhàradvàja: khi đức
Phật viếng thành Sàvatthi, Bà-la-môn này bất chợt hỏi ngài
không tắm sông Bàhulà gần đó sao, vì sông ấy đem lại giải
thoát, đó là nguồn công đức có thể thanh tịnh hóa con người
khỏi ác nghiệp (MN 7.39). Ðức Phật bác bỏ ý kiến sai lầm
ấy, vì không một cách tắm rửa nào có thể tẩy sạch các
hậu quả của ác nghiệp do người phạm tội gây nên. Con
người chỉ có thể thanh tịnh bản thân bằng các nghiệp
thanh tịnh đem lại an bình cho mọi loài.
Ngài cũng thuyết giảng như vậy
với Bà-la-môn Sangàrava, vị này tắm rửa sáng chiều với
ý định rõ ràng là tẩy sạch mọi tội lỗi đã phạm suốt
đêm ngày (SN 7.21). Ðức Phật giảng cho vị ấy hiểu: Giáo
Pháp ngài là cái ao, Giới Luật là bến tắm, và bất
cứ ai đến tắm mình tại đây đều có thể qua bờ bên kia,
đó là giải thoát. Ngài cũng phát biểu tương tự nhân
dịp lễ Astaka ở Gayà Sisà (Tượng Ðầu Sơn)
khi ngài thấy một nhóm du sĩ khổ hạnh bện tóc (jatila)
đang hành lễ rửa tội bằng nước:
"Những người tắm rửa
tại dòng sông
Không tẩy sạch mình bởi nước
trong,
Chân chính, công bằng: thanh tịnh
đó,
Người này đích thực Bà-la-môn."
(Ud 1. 9)
Giới tại gia và Tỳ-kheo đôi khi cũng
biểu đồng tình với thái độ đức Phật khinh chê lễ rửa
tội bằng nước ấy. Khi có người đến nhắc nhở vị đại
thần Nandaka đi tắm lễ chiều đang lúc vị này, là người
của bộ tộc Licchavi, từ Vesali đến nghe đức Phật thuyết
Pháp, vị ấy đáp: "Thôi đủ rồi, này hiền hữu! Ðừng
lo tắm rửa bề ngoài - tắm rửa nội tâm là đủ cho ta rồi,
đó là việc ta làm đệ tử bậc Giác Ngộ". (SN 55. 11.3)*
Ðề tài này cũng được nhắc đến
nhiều lần trong các vần kệ của Punna (Punnikà) con gái của
một nữ tỳ tại nhà trưởng giả Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc),
một thí chủ hào phóng hộ trì đức Phật, vị này đã trả
tự do cho nàng vì nàng đã thuyết phục Bà-la-môn Sotthiya quy
y Phật Pháp. Sau khi trở thành một Tỳ-kheo-ni, Punnà liền
ngâm bài kệ nêu những lý luận nàng đã dùng để cảm hóa
Sotthiya:
Ta nay gánh nước làm công,
Dù đông hàn phải xuống sông
hằng ngày,
Hãi kinh vì chủ đọa đày,
Sợ nhiều hình phạt lòng này
bất an.
Sợ gì hỡi vị La môn,
Chịu bao giá lạnh tay chơn run
hoài?
- Nàng ôi, đã biết rạch ròi,
Nàng còn muốn hỏi đây người
thiện chân,
Trẻ già làm việc bất lương,
Muốn tìm giải thoát: tắm trường
giang đây.
- Kẻ nào bảo thật ngu thay,
Ngâm mình xuống nước sạch
ngay tội người!
Vậy là ếch nhái, đồi mồi,
Bao loài thủy tộc lên trời
cả ru?
Kẻ làm ác nghiệp nhỏ to:
Bẫy mồi, săn bắn, mổ bò,
ngư ông,
Cùng phương trộm cắp, sát nhân,
Muốn tiêu trừ nghiệp tắm dòng
nước sông!
Ví dòng nước rửa tội xong,
Thì dòng nước cũng cuốn công
đức ngài.
Thế là mất hết cả hai,
Chỉ còn để lại mình ngài
trống trơn!
(Thìg. 236-243)
Lý luận này cũng dễ hiểu, nhưng
chỉ ứng dụng cho những ai tin tưởng một cách máy móc vào
việc tẩy sạch tội lỗi bằng nước sông thiêng.
2) Tục thờ lửa: Về việc
thờ lửa, thái độ đức Phật vẫn không biểu lộ quá rõ
ràng như vậy. Ðối với Bà-la-môn Sundarika - Bhàradvàja nói
trên là người tin tưởng vào việc thanh tịnh bản thân nhờ
lửa cũng như nhờ nước, ngài tuyên bố:
Bà-la-môn, đừng tin nhờ
đốt lửa
Sẽ đạt niềm thanh tịnh giữa
trần ai,
Kẻ nào tìm các phương tiện
bên ngoài,
Người trí bảo không thể nào
thanh tịnh.
Ta bác bỏ củi dâng bàn thần
thánh,
Ngọn lửa ta nhen nhóm ở trong
tâm,
Ngọn lửa ta luôn cháy, mãi sáng
bừng,
A-la-hán, ta theo đời thanh tịnh.
(SN 7.1.9)
Việc thi hóa các vần kệ thuộc về
đời sau, nhưng chắc chắn cũng đã phản ảnh trung thực ý
nghĩa lời ngài dạy.
Tục thờ lửa có nhiều hình thức
ở Ấn Ðộ cổ đại. Hình thức quan trọng nhất là tế đàn
lửa thiêng của Bà-la-môn theo kinh Vệ-đà do các Bà-la-môn
chuyên nghiệp thực hiện, tuân hành những lễ nghi thờ cúng
thật công phu để cho thần lửa Agni mang lễ vật lên Thiên
chúng. Một số người khác thờ thần lửa nỗ lực thanh tịnh
tâm hồn họ bằng cách đốt cháy các tội lỗi qua ngọn lửa
thiêng. Trong đám ấy có các vị khổ hạnh bện tóc (jatila),
một số đã theo đức Phật như tôn giả Nadikassapa (Ca-diếp
ở bên Dòng Sông) là một vị lãnh đạo các nhà khổ hạnh
Jatila, sau khi trở thành một Tỳ-kheo, đã tự trách mình
trước kia tin tưởng vào hiệu lực của việc thờ ngọn lửa
thiêng:
Bao lễ vật xưa ta cúng
dàng
Ðổ vào trong ngọn lửa thiên
đàng.
"Thế là thanh tịnh!" ta thầm
nghĩ,
Tục tử phàm phu thật rõ ràng.
(Thag 341)
3) Hiến tế súc vật: Mặc dù
lễ rửa tội bằng nước và thờ lửa không có giá trị đạo
đức dưới mắt đức Phật, ít ra chúng cũng không làm hại
ai. Còn các tế lễ bằng máu lại khác hẳn. Ở Ấn Ðộ cổ
đại mỗi năm các tế lễ này làm thiệt mạng vài người
cùng vài ngàn súc vật. Ta phải công nhận một thành tựu
văn hóa của đạo Phật là nhờ đó sự giết người sống
để tế lễ không còn nằm trong các phong tục thông thường
ở Ấn và tế lễ bằng súc vật ngày nay chỉ còn thấy ở
Bengal, nơi đó nữ thần Kàli (nữ Hắc thần) của Ấn
Ðộ giáo được xem là đòi hỏi việc ấy.
Ðối với đức Phật, súc vật
là mọi loài chúng sanh có toàn quyền sống và lòng từ bi
(mettà-karunà) của ngài trải rộng đến chúng không
kém gì đối với loài người. Ngài không thích việc giết
chúng để làm thức ăn cho người, mặc dù ngài là người
có đầy đủ óc thực tiễn để thấy rằng chế độ dinh
dưỡng toàn rau quả là điều không thể áp đặt chung cho
mọi người. Song ngài xem việc giết súc vật để tế lễ
là điều sai lầm, nhất là vì nhiều người tin tưởng rằng
việc giết lễ vật sống diễn ra càng chậm lại càng tăng
hiệu quả tế đàn. Thông thường bầy súc vật - trâu
bò, ngựa dê - đều bị bóp cổ. Mãi cho đến nay vẫn còn
một nơi trên bờ sông Hằng tại Benares được gọi là Dasàsvamedhaghàt,
Bến Tế Mười Ngựa, để kỷ niệm một lễ tế đàn của
hoàng gia.
Sự kiện các súc vật vô tội phải
hiến mạng sống cho các mục đích tín ngưỡng của loài người
không những làm động lòng trắc ẩn của ngài mà còn xúc
phạm cả ý thức về công bằng của ngài nữa. Ngài tin rằng
mọi loài đều phải trả nghiệp của chính mình, không thể
hối lộ mua chuộc thần linh cũng như không thể chuyển hậu
quả ác nghiệp (kamma) của mình cho ai khác - như việc
đền tội thay bằng con vật hiến tế.
Bất cứ khi nào có dịp thuận tiện
đưa đến, ngài đều chống đối các tư tưởng ấy, dĩ
nhiên không phải trên cương vị một nhà tiên tri đe dọa
hình phạt thích đáng, mà là một bậc hiền nhân với tâm
bình đẳng giảng giải và gợi ý chứ không cố tình bắt
buộc người khác chấp nhận Giáo Lý của ngài. Như ngài tự
nhận xét ngài không tranh chấp với đời (SN 22-94). Tính
hợp lý của tư tưởng ngài và vẻ kỳ diệu của nhân cách
ngài là tất cả những gì ngài muốn bày tỏ trước công
luận.
Ngài phản đối các đại tế lễ
bằng máu theo kinh Vệ-đà bằng cách nêu rõ sự vô dụng của
chúng. Khi vua Pasenadi nước Kosala chuẩn bị đại tế đàn
gồm 500 bò mộng, 500 bò đực, 500 bò cái, 500 dê và 500 cừu
cùng bắt buộc đám nô tỳ đi thâu góp đám súc vật này
từ các chủ buôn, có lẽ là không trả tiền, đức Phật
bình luận rằng không có tế lễ bằng người hay vật nào
đem lại kết quả gì cả. Bậc trí tránh xa các đại tế
đàn có bầy dê, bò trâu, v.v... bị giết. Trái lại, các tế
đàn không đẫm máu và không hao tốn nhiều sẽ giúp đỡ
người cúng tế và làm vui lòng chư Thiên. (SN 3.1.9)
Bà-la-môn Kùtadanta, một phú gia
ở Khànumata dự định mở một tế lễ còn trọng đại hơn
với 700 súc vật mỗi loại, nhưng đức Phật đã can gián
vị này khỏi làm việc ấy. Bằng cách kể một câu chuyện
theo kiểu chuyện Tiền Thân đức Phật (Jàtaka) ngài
thuyết phục Bà-la-môn Kùtadanta rằng thường xuyên cúng dường
các Sa-môn, xây tinh xá, quy ngưỡng Phật Pháp và giữ ngũ
giới (kiêng sát sanh, trộm cắp, tà hạnh trong các dục, nói
láo và uống rượu) cùng hành thiền là những cách tế lễ
không những dễ thực hiện hơn mà còn có nhiều công hiệu,
thực sự đem lại nhiều lợi ích nhất trong các loại tế
đàn. (DN 5.22.7)
Ngài dùng thêm nhiều lý luận bài
bác tế lễ bằng máu khi được một số Bà-la-môn chuyên
nghiệp hỏi ngài thời này - (tức thế kỷ thứ sáu trước
CN) còn có các Bà-la-môn sống theo giới luật cổ sơ chăng.
Ngài phủ nhận điều này, và mô tả các Bà-la-môn thời thượng
cổ là những vị độc cư không có tài sản gì, chỉ sống
hoàn toàn bằng cách khất thực, không cho phép giết trâu bò,
mà xem chúng như những thân hữu tối ưu cung cấp chư vị
đủ hương liệu, dầu xoa, thực phẩm, dõng lực, hảo tướng
và an lạc (SNip 295). Về sau các Bà-la-môn lạc tà đạo vì
theo gương các vua chúa sống xa hoa nên đã xúi giục vua chúa
tế lễ bò ngựa và cả người sống nữa, nhờ đó họ có
thể đòi lệ phí hành lễ. Thế rồi vua chúa truyền giết
hàng trăm ngàn gia súc với đao kiếm, ngay cả thần linh cũng
xem việc này là tội lỗi. Do việc giết hại các sinh linh
vô tội, các tế sư đã đọa lạc xa rời chánh đạo và người
có trí cùng quần chúng có đủ lý do đúng đắn khiển trách
các gia chủ dâng tế lễ quá hao tài tổn mạng đến như vậy.
(SNip 299 - 313)
4)Một việc nữa khiến phe chính
thống Bà-la-môn chống lại đức Phật là thái độ đối
lập lễ nghi của ngài. Không phải ngài phản bác mọi giới
luật tập quán, vì trong Giáo hội Phật giáo cũng có nhiều
giới luật tập quán. Nhưng điều ngài bài bác chính là
tư tưởng cho rằng lễ nghi luật lệ rất quan trọng đối
với việc giải thoát - thậm chí ta có thể đòi
hỏi sự giải thoát nhờ nghi lễ. Ngài công khai xem giới cấm
thủ (tuân hành một số nghi lễ giới luật) là một trong
mười kiết sử (samyojana) phải được phá bỏ, và đó là
một trong bốn sự chấp thủ (upàdàna) theo Giáo Lý của ngài.
Ngày nay ta cũng dễ hình dung được cảm tưởng của các Bà-la-môn
chuyên nghiệp sinh sống bằng cách làm các vị tế sư tinh
thông các nghi thức hành lễ và pháp thuật tế đàn thời
ấy, khi nghe nói đến các điều lệ trong Giới Luật của
đạo Phật đi ngược lại với quyền lợi của hội chúng
họ như vậy.
AN
CƯ MÙA MƯA ÐẦU TIÊN Ở ISIPATANA
Biết rằng dân chúng Benares không
ưa thích ngài, dầu cho họ có chú ý đến ngài đi nữa, cũng
không mong tìm được nhiều người công nhận Giáo Pháp ngài
ở Benares ngoại trừ những thân bằng quyến thuộc của tôn
giả Yasa, đức Phật cùng hội chúng Tỳ-kheo ít ỏi của ngài
an cư mùa mưa năm 528 trước CN tại Vườn Nai ở Isipatana (Chư
Tiên Ðọa Xứ) (nay là Sàrnàth). Lúc ấy chưa có một tinh
xá thích hợp. Nơi cư ngụ duy nhất gồm vài thảo am hoặc
khả quan hơn cả là các lều tre mái sậy mà các Tỳ-kheo dựng
lên để bậc Ðạo Sư và chư vị ở tạm.
Thời kỳ gió mùa không chỉ có
mưa lớn. Ðó là cả sự biến đổi người ta thường chờ
đợi từ tháng Tư - Năm trở đi như một cách xoa dịu khí
hậu cứ diễn tiến chầm chậm từng bước một. Hiện tượng
thiên nhiên báo trước thời gió mùa là cây cỏ nở rộ hoa,
mặc dù có nhiều loài hoa tô điểm thêm phong cảnh Ấn Ðộ
ngày nay do các nhà hàng hải người AÂu mang đến. Về phương
diện sinh thái, nước Ấn thời đức Phật không phong phú
như thời này. Nhưng các chòm hoa màu cam nghệ rực rỡ của
cây Kadamba (Nauclea cordifolia), cây Campaka (Michelia Champaka)
nở hoa vàng thơm ngát, cây hoa phượng vĩ (Butea frondosa)
đỏ ối trong rừng, cây hoàng hậu (Lagerstroemia flos-reginae)
với các hoa hình lồng đèn xanh nhạt, cây kim điệp (Cassia
fistula) với những chuỗi hoa vàng lộng lẫy, cây hoa san
hô đỏ chiếu lấp lánh (Erythrina indica) và cây Asoka
(Vô ưu: Saraca indica) với những hoa hình cầu đổi màu
từ cam đến đỏ. Tất cả phong cảnh này hẳn đã đủ làm
thích thú người Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ sáu trước CN.
Tiếp theo sau cảnh sắc rực rỡ
của thời nở hoa là thời rụng lá ngắn ngủi, các cành cây
chỗng lên trời khao khát như những bộ xương khô. Từ trước
đến giờ sương rơi xuống ban sáng làm cho cây cỏ thấm ướt
phần nào nay không còn nữa. Ðồng ruộng xám ngắt dưới
mặt trời gay gắt oi nồng. Mặt đất giống như vũng lầy
khô cằn lộ ra những đường nứt nẻ thật sâu. Nhiều nơi
khí nóng cuộn lên thành hình xoắn ốc như cái phểu hút bụi
từ đồng ruộng tung lên không.
Vài ngày sau, được bầy chim ưng
và quạ bay đi trốn báo hiệu, một cơn bão bùng ra - lều
tranh mất mái, cây cối gãy đổ nhưng cơn bão cũng qua đi
thật nhanh như lúc đến. Rồi cuối cùng, khoảng giữa tháng
sáu, cơn mưa thời gió mùa được mong đợi từ lâu đã bắt
đầu. Từ các đám mây khổng lồ từng giọt nước rơi xuống
càng lúc càng đều dặn hơn rồi bỗng nhiên cùng với sấm
chớp vang dội, trận mưa như thác đổ dần dần trở thành
mưa liên tục. Ðám trẻ con trần truồng thích thú chạy quanh
các vũng nước mưa đọng và ngay cả người lớn cùng vui
vẻ chường mặt ra ngoài chốc lát để hưởng bầu không
khí mát rượi làm tươi tỉnh.
Sau thời kỳ mưa liên tục, các
đám mây thỏa hiệp với mặt trời, mỗi thứ lần lượt
thay phiên nhau thống trị giang sơn vài giờ. Trong các khoảng
thời gian giữa những cơn mưa rào, phong cảnh cỏ cây đầy
hơi nước, rồi làn không khí oi bức lại đến thay thế cái
nóng nực trước đó không lâu.
Phong cảnh đổi thay thật lớn lao
mau chóng lạ thường. Các dòng sông lờ đờ trước kia bỗng
trở nên các nguồn nước lũ rộng lớn màu nâu chảy ồ ạt
đe dọa các vùng ở trên bờ với làn nước dâng cao rất
nhanh, đường sá chìm ngập bùn lầy khó đi lại. Nhiều nhà
bằng đất tan rã khiến cho các mái (cũng không phải là không
thấm nước) đổ ụp xuống đám người trong nhà. Thế giới
loài vật cũng phô bày một cảnh tượng khác thường: rắn
rít, bọ cạp bò ra khỏi lỗ vì ngập nước, những con nhái
bén tí ti nhảy ra đường và tiếng cóc ồm ộp kêu to. Trong
nhà, tắc kè chạy quanh tường, trên trần tìm ăn muỗi mòng,
sâu mọt đến căng phồng cả bụng.
Bầu không khí của thời kỳ gió
mùa đến cùng mọi vẻ biến đổi do nó mang lại đã gây
nhiều cảm hứng sau này cho biết bao thi sĩ theo đạo Phật,
thì dĩ nhiên bậc Ðạo Sư và các đệ tử ngài cũng nhận
thấy quang cảnh thiên nhiên này trong Vườn Nai tại Isipatana
ấy. Song mùa an cư đầu tiên năm 528 này phần lớn dành vào
việc tu học của chúng Tỳ-kheo. Ngoài các bài thuyết giảng
"Chuyển Pháp Luân" (Dhammacakka-ppattana) và Vô Ngã
Tướng (Anatta Lakkhana) (Mv1.6), còn ba bài khác nữa dành
cho các tuần lễ này đều được bảo tồn trong Kinh Tạng.
Qua một bài Pháp (Mv1.13; SN 4.1.4, ngài khuyến giáo chư Tỳ-kheo
- mặc dù chư vị đều được ngài xem là đã đắc quả A-la-hán
- cần phải suy tư đúng như thực hay như lý tác ý (yoniso
manasikara), đó là điều kiện ngài tuyên bố đã đưa ngài
đến Giác Ngộ. Trong bài thứ hai (Mv1.11; SN 4.1.5)
ngài tuyên bố ngài cùng chư Tỳ-kheo đều thoát
khỏi mọi kiết sử của nhân giới cũng như thiên giới; và
trong bài thứ ba (AN 3.15) ngài dạy chư
vị bài kinh Dụ Người Ðóng Xe phải làm hai bánh xe cho vua
Pacetana - một vị vua trong thần thoại cổ. Một bánh xe được
làm cẩn thận trong gần sáu tháng ròng, nên đứng vững vàng
sau khi chạy thử và sức đẩy đã hết, còn bánh kia chỉ
được làm trong sáu ngày, nên lảo đảo rồi ngã nhào vì
có nhiều khuyết điểm trong vành xe, nan hoa và trục. Cũng
vậy, chư Tỳ-kheo phải đoạn trừ các khuyết điểm và lỗi
lầm trong thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp để tránh
ngã nhào ra khỏi Pháp - Luật của ngài.
Kinh Tạng Pàli còn có thêm bốn
bài kinh do đức Phật thuyết tại Isipatana, tất cả đều
ghi dấu vài ba cuộc du hành của ngài đến nơi ấy về sau.
Ðiều này có thể được thấy rõ qua sự kiện thính giả
ở đấy gồm những người chỉ gia nhập hội chúng của ngài
sau năm 528.
Khoảng cuối mùa mưa, đức Phật
thuyết hai bài Pháp rất quan trọng đối với việc phát triển
Giáo hội tương lai. Ngài quyết định không giới hạn việc
truyền bá Chánh Pháp cho riêng ngài, mà đưa cả chư Tỳ-kheo
vào trọng trách này nữa. Do vậy, ngài gọi các đệ tử tụ
họp lại và dạy bảo chư vị đi làm sứ giả truyền Pháp:
"Này các Tỳ-kheo, hãy ra đi, vì
lợi ích và an lạc của quần sanh, vì lòng thương tưởng
đối với đời, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư
Thiên và nhân loại. Ðừng đi chung hai người cùng đường.
Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết Pháp (Dhamma) hoàn thiện ở phần
đầu (sơ thiện), hoàn thiện ở phần giữa (trung thiện),
hoàn thiện ở phần cuối (hậu thiện), cả về ý nghĩa lẫn
văn cú, hãy truyền bá đời Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ
thanh tịnh. Có những người nhiễm bụi ít trong mắt sẽ đọa
lạc nếu không nghe Pháp. Song nếu chư vị ấy nghe Pháp, chư
vị sẽ được giải thoát. Còn chính ta, này các Tỳ-kheo,
ta sẽ đi đến thành lũy Uruvelà (Ưu-lâu-tần-loa) để thuyết
Pháp". (Mv 1.11.1)
Chư Tỳ-kheo ra đi như đã được
huấn thị, và chẳng bao lâu sứ mạng của chư vị đạt nhiều
thành quả tốt đẹp. Chư vị đưa nhiều người từ bốn
phương về Isipatana để xin thọ giới. Tuy nhiên, chư vị chưa
hoan hỷ về điểm đức Phật đã dành quyền truyền giới
cho riêng ngài, và chư vị cũng thỉnh cầu ngài cho phép chư
vị có quyền ấy. Bậc Ðạo Sư không dễ gì ban ngay ước
nguyện ấy cho chư vị. Trước tiên ngài xem xét riêng vấn
đề ấy, rồi ngài thảo luận với chúng Tăng cuối cùng ngài
quyết định:
"Này chư Tỳ-kheo, ta cho phép chư
vị khi ở trong những xứ sở, thôn làng xa xôi có quyền truyền
tiểu giới xuất gia (pabbajà) (làm Sa di) và đại giới xuất
gia (upasampadà) (làm Tỳ-kheo). Việc ấy phải thực hiện theo
cách này: Trước tiên hãy cho giới tử cạo sạch râu tóc,
đắp các y vàng và phủ vai bên trái với thượng y; rồi khi
vị ấy đến đảnh lễ chân vị Tỳ-kheo truyền giới (như
một dấu hiệu của bổn phận đệ tử), hãy cho phép vị
ấy quỳ xuống cung kính nghiêng mình trước giới sư với
hai tay chắp lại. Sau đó vị ấy phải được dạy bảo lập
lại câu: "Ðệ tử xin quy y Phật, đệ tử xin quy y Pháp, đệ
tử xin quy y Tăng". Câu này phải được lập lại ba lần.
Này chư Tỳ-kheo, ta cho phép chư vị truyền tiểu giới xuất
gia và đại giới của một tân thọ Tỳ-kheo bằng cách nhận
Tam Quy này". (Mv 1.12.3-4)
Bằng cách cho phép chư Tăng truyền
giới xuất gia, đức Phật đã cắt cuống nhau liên kết Tăng
chúng và vị sáng lập Ðạo Pháp, khiến cho Tăng chúng có
thể sống đời độc lập của mình. Về sau, việc truyền
giới đã được tổ chức thành nghi lễ (Mv1.28.3-5) và bổ
sung nhiều tiết mục đặc biệt liên hệ đến giới tử và
giới sư.
Năm 528 trước CN là một năm đầy
kết quả mỹ mãn đối với đức Phật và ngài đã trở thành
vị lãnh đạo một trường phái trong phong trào Sa-môn khất
sĩ. Bấy giờ mùa mưa cùng thời kỳ ngưng hoạt động trong
năm đã trôi qua. Rừng núi, đồng ruộng đều xanh tươi mơn
mởn và lúa mạ được trồng từ giữa tháng sáu nay đã nhô
lên vài tấc trên mặt nước đồng. Mọi giếng và ao hồ
tràn đầy nước, đường sá đi lại được như cũ, và làn
không khí oi bức ngột ngạt của thời gió mùa đã nhường
chỗ cho những ngày ấm áp và đêm mát dịu. Như ngài đã
tuyên bố, đức Phật còn trẻ tuổi rời Vườn Nai ở Isipatana
và lên đường đi Uruvelà.
TRỞ
LẠI URUVELÀ
Lý do đức Phật muốn viếng thăm
nơi ngài thành Ðạo một lần nữa là đến thuyết Pháp cho
những gia chủ đã có lòng cúng dường ngài thực phẩm khi
ngài còn là nhà tu khổ hạnh. Kinh Tạng Pàli (Mv 1.14) tường
thuật một cuộc hành trình tuyệt đẹp của ngài trên đường
trở lại nơi ấy, chuyện này được xem là đã diễn tiến
trong khu rừng Kappàsiya.
Trong khi đức Phật ngồi nghỉ dưới
một gốc cây, một đám thanh niên nhốn nháo, rõ ràng thuộc
giai cấp sang trọng, chạy đến hỏi ngài xem ngài có nhìn
thấy một nữ nhân chạy ngang qua đó chăng. Ðám ấy giải
thích rằng họ gồm ba mươi người đến khu rừng này cùng
các cô vợ để vui chơi. Một người trong bọn còn độc thân,
đã mang theo một kỹ nữ. Bọn họ đuổi theo tìm nàng ấy
vì nàng đã trộm tài vật của họ và chạy trốn mất.
Ðức Phật hỏi: "Này các nam
tử, chư vị nghĩ thế nào? Ði tìm nữ nhân ấy và đi tìm
chính mình, việc gì tốt hơn?
Các nam tử đáp: Bạch Thế Tôn,
đi tìm chính mình tốt hơn.
Ðức Phật bảo: Vậy này các
nam tử, hãy ngồi xuống đây và ta sẽ thuyết Pháp cho chư
vị".
Sau đó ngài thuyết Pháp thuận thứ
và giảng bày Tứ Thánh Ðế cho chư vị. Ðược Phật Pháp
cảm hóa, ba mươi thanh niên ấy thỉnh cầu được thọ giới
Tỳ-kheo và đức Phật lập tức nhận lời.
Câu chuyện ly kỳ này có lẽ mang
tính lịch sử; chỉ riêng phần cuối hình như được các
vị kiết tập Kinh Tạng Pàli "tô điểm" thêm cho hoàn mãn.
Vì cả ba mươi thanh niên đầy đủ mọi lạc thú ở đời
lại trở thành - không phải cư sĩ tại gia - mà là Tỳ-kheo,
để cho hai mươi chín cô vợ trẻ trung phải trở về làng
làm các "sương phụ của chư Tăng" là chuyện khó tin vậy.
Ngoài tính cách lịch sử của câu
chuyện trên, phương thức truyền giới mà bậc Ðạo Sư sử
dụng cũng cần được lưu ý. Ðó không phải là Tam Quy như
đức Phật đã chỉ dạy, mà là câu " Hãy đến đây, Tỳ-kheo!"
(Ehi, Bhikkhu!) như ngài đã dùng khi ngài nhận tôn giả
Kondañ ñ a (Kiều-trần-như) làm vị Tỳ-kheo đầu tiên ở
thế gian (Mv1.6.32). Hình như cách truyền giới này chỉ được
vị Giáo chủ tối cao sử dụng mà thôi.
Ðại Phẩm (Luật Tạng) còn kể
nhiều sự kiện xảy ra trên đường đức Phật trở lại
Uruvelà với tính cách giáo dục khô cứng và cố ý biến mọi
việc thành các phép thần thông cả. Chúng ta cần theo sát
các câu chuyện ly kỳ này để có thể tìm ra vài chi tiết
lịch sử trong ấy.
Gần Uruvelà có ba anh em dòng họ
Kassapa sống đời đạo sĩ khổ hạnh bện tóc (jatila)
thờ lửa và nước. Mỗi vị lãnh đạo một giáo phái. Ðạo
sĩ Uruvela-Kassapa (Ca-diếp ở Ưu-lâu -tần-loa) có năm trăm
đệ tử, đạo sĩ Nadì-Kassapa (Ca-diếp ở Bên Dòng Sông) có
ba trăm đệ tử và đạo sĩ Gayà-Kassapa (Ca-Diếp ở Tượng
Ðầu Sơn) có hai trăm đệ tử, dù các con số này cũng không
được xem là chính xác.
Vì mùa đông Ấn Ðộ đã bắt đầu
và nhiệt độ ban đêm không quá âm điểm, đức Phật đến
am thất của đạo sĩ Uruvela-Kassapa và xin nghỉ qua đêm trong
am thất thờ lửa mà các vị đạo sĩ jatilas đang đốt
cháy. Vẻ tự tin và nhân cách của người khách lạ đã chinh
phục giáo chủ Uruvela-Kassapa khiến vị này không dám chối
từ, song bảo rằng căn lều thờ lửa có một con rắn độc
khổng lồ. Tuy nhiên đức Phật cũng không cảm thấy hãi kinh
mà rút lui, và ngài nghỉ qua đêm bình an trong căn lều "nhờ
thần lực của ngài". (Mv1.15)
Ngài ở lại thêm vài đêm nữa
trong khu rừng gần am thất đạo sĩ Uruvela-Kassapa và khu rừng
quanh ngài chiếu sáng rực lên ba lần. Ðạo sĩ Kassapa mời
đức Phật đến thọ thực buổi sáng trong am thất mình và
hết sức cảm phục khi nghe đức Phật đã được chư Thiên
đầy hào quang đến thăm viếng các đêm trước: đêm đầu
tiên ngài được Tứ Ðại Thiên Vương viếng, đêm thứ hai
được Sakka (Indra) Thiên Chủ viếng và đêm thứ ba được
Brahmà Sahampati (Phạm Thiên Ta-bà Chủ) viếng (Mv1.16.18). Ðặc
điểm lịch sử của câu chuyện này có thể là đức Phật
đã đốt lửa ban đêm để chống lạnh và các loài dã thú.
Trong lúc ấy, một đại tế đàn
sắp được tổ chức hằng năm tại am thất đạo sĩ Uruvela
-Kassapa, mong đợi khách hành hương đến chiêm bái từ khắp
quốc độ Magadha và đất nước Anga ở phía Ðông. Sợ rằng
đức Phật có thể lôi cuốn đám người ủng hộ phái du
sĩ jatilas về phía ngài, đạo sĩ Kassapa thầm cầu nguyện
đức Phật đừng đến dự lễ tế đàn. Biết được tâm
tư của đạo sĩ Kassapa, đức Phật khéo léo tránh xa thảo
am của vị này vào ngày tế lễ. Vị này kinh ngạc vì đức
Phật Gotama có thể đọc được tư tưởng người khác nhờ
tha tâm thông. (Mv 1. 19)
Sau khi đức Phật đã quan sát giáo
chủ Uruvela-Kassapa và đám môn đồ một thời gian, ngài thừa
cơ hội vị đạo sĩ già nua này tuyên bố khoác lác để hạ
vị này xuống đất. Nói thẳng vào lương tâm vị này, ngài
bảo: "Này hiền giả Kassapa, hiền giả không phải là một
vị A-la-hán và cũng không phải là vị đang đi trên con đường
đưa đến A-la-hán quả. Lối sống của hiền giả không phải
là cách đưa hiền giả đến chứng đắc A-la-hán, thậm chí
cũng không thể nhập A-la-hán Ðạo!".
Giáo chủ Kassapa, người mà trước
kia chưa một ai từng nói như vậy thẳng mặt, bấy giờ đã
hoàn toàn thảm bại. Vội quỳ xuống chân đức Phật, vị
ấy xin được gia nhập Giáo đoàn của ngài (Mv 1. 20. 17).
Ðức Phật tỏ ra rất công bằng
khi ngài không chấp nhận ngay lập tức sự quy phục của đạo
sĩ Kassapa, mà ngài bảo vị ấy phải xét kỹ hậu quả của
bước tiến này với đám môn đệ: "Này hiền giả Kassapa,
hiền giả là vị lãnh đạo trường phái 500 vị khổ hạnh
jatilas. Hãy thảo luận với cả hội chúng để chư vị có
thể làm việc gì thích hợp!". Ðạo sĩ Kassapa nghe lời
khuyên này, với kết quả là tất cả môn đồ đều cùng
vị ấy quy thuận gia nhập trường phái của đức Phật. Chư
vị đều cắt bỏ sạch các cuộn tóc bện kia, ném bỏ các
đòn gánh và dụng cụ thờ lửa xuống sông Nerañjarà. Rồi
đức Phật truyền giới Tỳ-kheo cho chư vị gia nhập Giáo
hội ngài. (Mv 1. 20. 17)
Khi các cuộn tóc bện và các dụng
cụ bằng gỗ trôi bồng bềnh xuôi dòng Nerañ jarà ngang qua
am thất của Nadì-Kassapa, vị này lo sợ có tai nạn gì đó
đã xảy ra cho trưởng huynh mình. Vị này đến thảo am vị
kia và Uruvela-Kassapa giải thích cho bào đệ mọi lợi ích khi
gia nhập Giáo đoàn đức Phật, và vị này cũng xin gia nhập
Hội chúng Tỳ-kheo cùng với tất cả ba trăm môn đồ. (Mv
1. 20. 20f)
Việc trên cũng xảy ra với đạo
sĩ Gayà-Kassapa, vị này cũng đi xem thử bào huynh có bình an
chăng khi thấy các vật thờ trôi bồng bềnh ngang qua thảo
am. Rồi vị này cũng gia nhập giáo đoàn Tỳ-kheo với tất
cả hai trăm môn đồ (Mv 1. 20. 22f)
Cùng với đám môn đồ mới thu
nhận đông đảo như vậy (cho dù có thể không đến con số
một ngàn vị) gồm toàn các vị khổ hạnh bện tóc jatilas
trước kia, giờ đây ngài đã truyền giới làm Tỳ-kheo tại
Uruvelà, đức Phật tiến về Gayà không xa là bao, nơi đó
cả đoàn dựng lều trên một ngọn đồi cách hướng tây
nam thành phố khoảng gần một dặm, tên gọi là Gayàsìsa
(Tượng Ðầu Sơn, nay là Brahmayoni). Tại đây đức Phật thuyết
bài Pháp với đề tài ám chỉ tập tục thờ lửa của nhóm
khổ hạnh jatilas. Ðó là bài Thuyết Giảng Về Lửa
(Àdittapariyàya Sutta, Mv1.21; SN 35.28) bắt đầu bằng những
lời nói lừng danh: "Tất cả đều đang bốc cháy!".
Bài kinh này dựa trên lý thuyết của đức Phật về nhận
thức, theo đó không chỉ có năm mà là sáu giác quan: ngoài
mắt, tai, mũi, lưỡi và thân là xúc giác, còn có tâm (Manas)
hay đúng hơn, là cơ quan suy tưởng. Tương ứng sáu giác quan
này là sáu ngoại xứ đối với con người: sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp (dhamma) hay đối tượng của tư tưởng.
Ngay khi một giác quan nhận thức (ví dụ: mắt) và ngoại xứ
tương ứng (vd: các sắc) tiếp xúc với nhau, thì nhận thức
(vd nhãn thức) sanh khởi. Bằng cách này một đối tượng
được đưa vào ý thức và được người ta nhận thức. Mọi
thực tại bên ngoài đều do sáu giác quan đưa đến cho ta:
chính sáu giác quan này tạo nên thế giới riêng tư của mỗi
người.
Tiếp theo đó là cách chúng ta
nhìn đời tùy thuộc vào bản chất các giác quan của ta, và
tùy thuộc vào cách chúng mang hình ảnh của đối tượng vào
ý thức của ta mà không làm sai lạc màu sắc chân thật của
đối tượng. Nếu giác quan của người nào bị tham sân si
chi phối thì tất cả nhận thức của người ấy sẽ bốc
cháy vì chúng làm sanh khởi thêm nhiều tham dục và sân hận
trong tâm người ấy: đối với người ấy toàn thế giới
đang bốc cháy. Song nếu người nào chế ngự được lục
căn thì sẽ giải thoát khỏi tham dục, cấu uế và sẽ được
giải thoát sanh tử luân hồi.
Nghe nói về lửa trong ý nghĩa triết
lý thâm áo như vậy chắc hẳn đã gây ấn tượng sâu sắc
trong tâm chư Tỳ-kheo trước đây là các đạo sĩ thờ lửa
theo cách cổ truyền.