Chương
III
528 - 508 trước
CN
Hai mươi năm
đầu tiên
-oOo-
CÔNG
CUỘC GIÁO HÓA VUA BIMBISÀRA
Ðức Phật nhận thức rất rõ rằng
thái độ của vua chúa đối với ngài sẽ đóng vai trò quan
trọng quyết định trong việc truyền bá Ðạo Pháp của ngài.
Vì thế ngài chọn Ràjagaha (Vương Xá), kinh đô vừa là hoàng
cung của vua Bimbisàra nước Magadha, nơi ngài vừa đến, làm
mục tiêu kế tiếp của cuộc du hành.
Có một số vấn đề quan trọng
trong việc tiếp xúc. Ngài không chỉ suy xét lại cuộc gặp
gỡ đầu tiên chưa nồng nhiệt mấy với nhà vua ngay khi ngài
mới khởi hành cuộc tầm cầu chân lý (năm 536 trước CN),
ngài còn quan tâm đến sự kiện vua Bimbisàra sẽ xem vị lãnh
đạo một giáo phái như một người sáng lập một số quan
điểm và vì vậy đó là một người có tiềm năng gây ảnh
hưởng đến việc trị quốc mà nhà vua biết được sẽ có
nhiều lợi ích về sau.
Ràjagaha cách Patna 70km về phía tây
nam gần một thị trấn nhỏ hiện nay ở Ràjgir, xưa kia là
kinh đô hùng mạnh nhất ở bắc Ấn sau Sàvatthi, kinh đô của
nước Kosala. Tầm quan trọng của nó chỉ mới nổi bật lên
vào thời đó chính là nhờ vua Bimbisàra đã mở rộng cổ
thành Giribbaja (Ða Sơn) và nâng nó lên vị trí kinh đô Ràjagaha
(Vương Xá).
Hai điều đã là yếu tố quyết
định trong việc lựa chọn địa điểm này làm thủ đô nước
Magadha dù vị trí ấy không thuận lợi về phương diện giao
thông. Ở phía nam Ràjagaha có một quặng sắt được khai thác
theo dạng oxýt sắt nhờ cách đào bới gần mặt đất, mà
phần lớn được làm thành vũ khí và dụng cụ trong thủ
đô. Còn về hướng đông nam cũng có một mỏ đồng. Tất
cả sự phú cường của đất nước Magadha đều tùy thuộc
vào các nguồn lợi khoáng sản này cùng các tiểu công nghiệp
liên quan đến việc chế tạo chúng.
Yếu tố thứ hai là về mặt chiến
lược. Thủ đô này nằm giữa hai dãy núi dài tạo thành một
thung lũng hình chữ Z có khả năng bảo vệ vững mạnh. Giá
trị phòng thủ của địa thế này càng được tăng cường
nhờ một bức thành khổng lồ chạy dọc theo các rặng núi,
đang được xây dựng vào thời ấy và khi hoàn tất, bức
thành dài đến 40km. Trung tâm kinh đô Ràjagaha là cổ thành
Giribbaja lại được thêm một cổ lũy bao bọc. Các rặng núi
bao quanh chắn gió từ mọi phía thành, nên mùa hạ khí trời
bên trong thung lũng vô cùng oi bức. Có bốn đường giao thông
dẫn ra ngoại thành, mỗi đường thuở ban đầu được một
cổng phòng vệ, cổng này đóng về ban đêm.
Vùng trung tâm thủ đô Ràjagaha không
chiếm toàn bộ thung lũng, mà chỉ nằm trên thanh ngang của
hình chữ Z ấy, đây là khu cổ thành Giribbaja, ở bên trong
cổ lũy ấy. Ðây chính là hoàng cung vua Bimbisàra, và đây
cũng là dinh cơ của giai cấp quý tộc võ tướng và đám thị
dân giàu có cùng các tiệm tạp hóa và các xưởng rèn đúc
của hoàng gia. Cung vua được xây trên các nền đá trần (các
nền đá này đã được nhiều nhà khảo cổ phát hiện và
trưng bày ngày nay), song chính tòa nhà lại được làm bằng
gỗ.
Vùng thung lũng trải rộng giữa
nội thành và ngoại thành gồm nhiều nhà bằng đất sét nằm
rải rác giữa các đám ruộng lúa, vườn xoài, và đồng cỏ.
Ngay khi đức Phật và Tăng chúng
của ngài, trong ấy có ba anh em tôn giả Kassapa cùng các vị
khổ hạnh bện tóc trước kia là môn đồ chư vị, vừa đến
Ràjagaha và nghỉ ngơi tại Latthivana (Trượng Lâm) ở phía
tây nam kinh thành, vua Bimbisàra được trình tấu: "Sa-môn
Gotama, nam tử của dòng Thích-ca" đã đến, liền lập tức
khởi hành cùng đại chúng quần thần, Bà-la-môn, gia chủ,
tùy tùng và vệ binh về phía khu rừng để chào mừng vị
quốc khách. Ở cổ Ấn Ðộ, có phong tục là vua chúa cũng
như thường dân thường đi tham kiến các bậc tu hành chứ
không mời chư vị đến yết kiến. Bằng cách này vua chúa
tỏ lòng kính trọng đối với chư vị đã giã từ thế tục
và cố tránh xâm phạm tự do của chư vị ấy.
Ðám quần thần của nhà vua không
biết chắc ai là Ðạo Sư của đoàn, Sa-môn Gotama hay Uruvela
Kassapa, nên đức Phật đặt ra một cách vấn đáp với tôn
giả Kassapa. Có lẽ cuộc đối thoại giữa hai vị đã được
dự trù trước; song dẫu sao đi nữa, nó cũng gây ấn tượng
mạnh đem lợi ích cho nhà vua và đã được đặt vào Kinh
Tạng Pàli theo thể thi kệ:
Ðức Phật:
Mới đây hiền giả Kassapa
Thờ lửa tại rừng Ưu-tần-loa,
Vì lý do gì từ bỏ lửa,
Xin hiền giả nói rõ cho ta?
Tôn giả Kassapa:
Phần thưởng được do
các tế đàn
Ðều là dục lạc với giai nhân,
Thế gian pháp thấy nào thanh
tịnh,
Con bỏ lòng ham thích tế đàn.
Ðức Phật:
Nếu tâm hiền giả chẳng
còn ham
Tìm thú vui trong lễ tế đàn,
Giờ đây lạc thú tìm đâu tá
Hiền giả nói ra thật rõ ràng.
Tôn giả Kassapa:
Con đã đạt an lạc Niết-bàn,
Không gì chấp thủ giữa trần
gian,
Mỗi người tự chứng trong tâm
trí,
Vì thế con nay bỏ tế đàn.
(Mv 1.22.4-5)
Sau khi nói xong những lời này, tôn
giả Uruvelà Kassapa liền quỳ xuống đảnh lễ đức Phật
và tuyên bố: "Ðức Thế Tôn là Ðạo Sư của con! Con là
đệ tử của ngài! Ðức Thế Tôn là Ðạo Sư của con! Con
là đệ tử của ngài!". (Mv 1.22.6)
Sự đảnh lễ quy ngưỡng của đại
trưởng lão Kassapa đối với vị trí lãnh đạo tinh thần
của Sa-môn Gotama ở thời điểm ấy vẫn chưa được nổi
danh mấy hẳn đã gây nhiều ấn tượng mạnh đối với nhà
vua. AÂm hưởng của việc này càng tăng thêm vì tôn giả Kassapa
đã công bố các lời ấy hai lần, làm cho chúng có hiệu lực
của một lời tuyên thệ.
Ðức Phật nắm ngay cơ hội thuận
lợi để giáo hóa vì giờ đây mọi sự chú ý đều đổ
dồn về phía ngài. Ngài thuyết bài Pháp thuận thứ cho cả
hội chúng, sau đó tất cả những người hiện diện gồm
luôn nhà vua đều tự nguyện làm đệ tử tại gia của ngài
(Mv 1. 22. 8).
Bản văn còn ghi lại một đoạn
khác nữa nói riêng về việc giáo hóa nhà vua. Chuyện kể
rằng, khi Seniya Bimbisàra, vua nước Magadha, đã thông hiểu
Giáo Pháp, thể nhập Giáo Pháp và có lòng tin đối với Giáo
Pháp, nhà vua liền nói với đức Phật Gotama:
"Trước làm một vương tử, đệ
tử có năm điều nguyện ước nay tất cả đều thành tựu.
Ðệ tử đã ước được lên làm vua, và được một bậc
Chánh Ðẳng Giác đến viếng thăm trong chính quốc độ mình.
Ðệ tử cũng nguyện cầu tự thân hành tiếp kiến bậc Chánh
Ðẳng Giác với tất cả lòng tôn kính quy ngưỡng, rồi bậc
Chánh Giác ấy sẽ thuyết Pháp cho đệ tử và đệ tử có
thể thông hiểu Giáo Pháp. Nay tất cả mọi nguyện ước kia
đều thành tựu. Ví như một người dựng lên một vật đã
bị quăng ngã xuống hay chỉ đường cho kẻ đã lạc lối,
hay đem đèn vào nơi tối tăm để những ai có mắt có thể
trông thấy hình sắc mọi vật; cũng vậy, đức Thế Tôn đã
thuyết giảng Chánh Pháp với nhiều phương tiện, ảnh dụ.
Bạch Thế Tôn, nay đệ tử xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy
y Tăng. Ước mong Thế Tôn nhận đệ tử làm cư sĩ tại gia
từ nay cho đến trọn đời".
(Mv 1. 22. 9-11, giản lược).
Sau đó nhà vua thỉnh cầu đức
Phật cùng chúng Tăng thọ trai ngày hôm sau và bậc Ðạo Sư
chứng tỏ ngài nhận lời bằng cách im lặng.
Sáng hôm sau, vua Bimbisàra tự thân
phục vụ đức Phật và Tăng chúng _ một vinh dự
lớn lao hiếm khi được dành cho ai. Song nhà vua còn để dành
một ngạc nhiên đầy kỳ thú hơn nữa: nhà vua tuyên bố cúng
dường một tặng vật lên "Tăng chúng với đức Phật là
bậc thượng thủ", đó là ngự viên Veluvana (Trúc Lâm), nằm
ngay trước Bắc môn thành Ràjagaha, để bậc Ðạo Sư có thể
an cư tại đó cũng gần kinh thành, nhưng lại ở trong một
vùng yên tĩnh, dễ ra vào cho khách vãng lai, mà cũng tiện ẩn
dật.
Sự cúng dường được công bố
có hiệu lực pháp lý theo nghi lễ thông thường: thí chủ
đổ nước trên tay người nhận vào trong một bình bát (dĩ
nhiên trong trường hợp này là bát vàng). Ðức Phật không
phát biểu lời tạ ơn long trọng nào cả, vì việc này sẽ
có giá trị ngang bằng việc cúng dường kia, như vậy sẽ
tiêu hủy phước đức mà phần thí chủ đã nhận được
cho mình. Thay vào đó, ngài bày tỏ niềm hoan hỷ bằng cách
thuyết một bài Pháp cho vua Bimbisàra. (Mv 1.22.15-18)
Việc giáo hóa quốc vương Magadha
có thể đã diễn ra vào tháng cuối năm 528 hay hai tháng đầu
năm 527 trước CN. Niên đại sau có lẽ đúng hơn. Vua Bimbisàra
trẻ hơn đức Phật năm tuổi và vào năm ba mươi mốt tuổi
đã lên ngôi trị vì mười sáu năm rồi.
Thời ấy không có vấn đề vua
Bimbisàra quy y Phật Pháp gây nên lòng ganh tỵ của những ngoại
đạo sư. Ngày xưa cũng như nay, người Ấn đã giữ tinh thần
khoan dung nhận làm tín đồ một trường phái mà vẫn không
bài bác các trường phái khác. Không có một giáo lý Ấn Ðộ
nào đòi hỏi địa vị độc tôn cả. Trước kia vẫn có tranh
chấp giữa các giáo phái nhưng không có giao chiến và Phật
Giáo cũng đặt nền tảng trên sự sống chung hòa bình. Nhiều
lần chúng ta đã nghe cách đức Phật Gotama dạy các tân tín
đồ tiếp tục cúng dường đạo sĩ các giáo phái mà chư
vị ấy vừa rời bỏ. (Mv 6. 31. 10 f)
Có nhiều dấu hiệu và không kém
phần quan trọng là lòng tín thành của nhà vua đối với đức
Phật trong hàng chục năm cho đến ngày nhà vua bị mưu sát,
chứng tỏ Ðại Vương Bimbisàra đã được cảm hóa sâu sắc
nhờ Giáo Pháp đức Thích-ca. Tính cách kỳ diệu của đức
Phật, niềm tin vững chắc do sự diện kiến ngài đem lại,
dáng quý tộc và tài hùng biện của ngài cũng như bản chất
trung dung trong các quan điểm của ngài được biểu lộ qua
"Trung Ðạo", đức độ cao thượng và đặc biệt là sức
hấp dẫn huyền bí của mục đích giải thoát ngài đề xướng
_ tất cả những điều này đã làm nhà vua nồng
nhiệt mộ đạo: nhà vua cảm nhận một sức thiêng liêng khiến
cho con người tràn đầy hỷ lạc và bên trong nhà vua bừng
lên một tia sáng nội tâm rọi vào cuộc sống. Ở độ tuổi
ba mươi mốt, vua Bimbisàra vẫn còn đủ trẻ trung để được
đạo Phật gây niềm hứng thú, tuy nhiên cũng đủ già dặn
để không mất tự chủ hợp lý đối với nhiệt tình.
Tầm quan trọng của việc cảm hóa
vua Bimbisàra đối với sự nghiệp hoằng Pháp thành công của
đức Phật không cần phải phóng đại chút nào. Hàng ngàn
thị dân Magadha noi gương nhà vua và công nhận Phật Pháp làm
thầy dẫn đường. Một số người thời ấy có lẽ đã làm
thế để được vua Bimbisàra ân sủng, nhưng phần lớn là
vì tín thành mộ đạo. Thật vậy, giáo lý mới xuất hiện
này đem lại điều mới lạ cho mọi người ở mọi giai cấp.
Ðạo Pháp thu hút giới quý tộc võ tướng vì tính cách cao
thượng và thích hợp với các phận sự phục vụ quốc gia;
lại cũng thu hút giới Bà-la-môn vì tính cách hợp lý và minh
bạch chính xác về nội dung tư tưởng triết học. Ðạo Pháp
cũng gây ảnh hưởng mạnh đối với giai cấp thương nhân
(Vệ-xá) bằng cách bài bác những tế lễ tốn kém trước
kia vẫn được cho là nhằm đem lại tài lợi trong thương
mãi, và cũng bằng sự cảm thông cách suy tư của giới kinh
doanh nữa. Ðối với giai cấp thợ thuyền và vô loại cùng
đinh, Ðạo Pháp hấp dẫn họ vì sự đánh giá thấp mọi
đặc quyền ưu đãi về huyết thống của các giai cấp trên.
Mặc dù có phần phán xét tiêu cực
về cuộc đời thế gian, đạo Phật vẫn được cảm nhận
là một tín ngưỡng của hy vọng, trình bày rõ cho mọi người
biết cách sử dụng quy luật Nghiệp Báo (Nhân Quả) để nỗ
lực tiến lên trong cái tôn ti trật tự của xã hội và sau
cùng sẽ đạt giải thoát. Nhờ việc cải hóa Ðại Vương
Bimbisàra, đạo Phật đã được xã hội công nhận và trở
thành đề tài bình luận trên cửa miệng mọi người. Con
đường đã mở rộng dành cho đạo Phật truyền bá khắp
nước Ấn.
TÔN
GIẢ SÀRIPUTTA VÀ MOGGALLÀNA TRỞ THÀNH CÁC ÐỆ TỬ
Dĩ nhiên đức Phật Gotama không
phải là vị Ðạo Sư phi truyền thống duy nhất ở thành Ràjagaha.
Một vị lãnh đạo giáo phái lừng danh khác ở kinh đô của
vua Bimbisàra là Sañ jaya. Giữa đám môn đệ của vị này,
tương truyền đã lên đến hai trăm năm mươi vị (Mv 1. 23.1),
có hai vị cao đồ đặc biệt tài giỏi là đôi thân hữu
Sàriputta (Xá-lợi-phất), và Moggallàna (Mục-kiền-liên).
Nhà tôn giả Sàriputta ở làng Nàlaka
(nay là Sarichak) gần Ràjagaha, thuộc gia tộc Bà-la-môn Upatissa.
Ngài có ba anh em trai Cunda, Upasena và Revata và ba chị em gái.
Thân phụ ngài là Vanganta và thân mẫu là Rùpasàrì. Ngài được
gọi theo tên mẹ, Sàriputta (Xá-lợi Tử).
Còn tôn giả Moggallàna thường được
gọi là Kolita vì ngài sinh trưởng ở làng Kolitagàma (nay là
Kul?) cạnh làng Nàlaka, lại đồng tuổi với tôn giả Sàriputta
nên hai vị vẫn chơi chung với nhau từ thuở thơ ấu. Thân
mẫu ngài là Moggallànì nên ngài được đặt tên theo mẹ,
thuộc giai cấp Bà-la-môn, trong khi thân phụ ngài là lý trưởng
làng Kolitagàma thuộc giai cấp võ tướng (Sát-đế-lỵ) vào
thời ấy được xem là giới thượng lưu. Truyện kể rằng
đôi bạn này đã quyết định đến dự đại lễ hội hằng
năm trên đỉnh núi - có lẽ là một loại hội chợ - để
trở thành các Sa-môn khất sĩ theo đạo sư Sañ jaya và sau
đó hai vị liền thực hiện ngay việc này. Hai vị hứa hẹn
rằng nếu ai trong hai vị đạt tuệ giác trước thì sẽ dạy
cho người kia.
Chính trong thời gian làm đồ đệ
của đạo sư Sañ jaya, tôn giả Sàriputta đi khất thực ở
thành Ràjagaha, gặp gỡ Tỳ-kheo Assaji (Mã Thắng). Vị này
trước kia từng là bạn đồng tu của đạo sĩ Gotama trong
thời còn hành trì khổ hạnh và sau đó đã được thọ giới
tại Vườn Nai ở Isipatana làm một trong năm vị Tỳ-kheo đầu
tiên ở đời này. Tôn giả Sàriputta chú ý ngay dáng điệu
cao quý và an tịnh của vị Tỳ-kheo lạ mặt này, nên tôn
giả đợi cho đến khi Tỳ-kheo Assaji đi khất thực xong rồi
mới thăm hỏi ai là bậc Ðạo Sư của vị ấy. Vị Tỳ-kheo
đáp mình chính là môn đồ của vị Sa-môn thuộc bộ tộc
Sakiya, và tôn giả Sàriputta lại hỏi về Giáo Pháp của bậc
Ðạo Sư. Mặc dù đã đắc A-la-hán (theo Mv 1. 6. 47), Tỳ-kheo
Assaji vẫn không thể trình bày đầy đủ Giáo Pháp. Tôn giả
bảo mình mới thọ giới, chỉ vừa tuân hành Giáo Pháp đức
Phật một thời gian ngắn, nhưng cũng có thể trình bày sơ
lược nội dung. Rồi tôn giả phát biểu vần thi kệ lừng
danh từ đấy về sau, đã được mọi tông phái Phật giáo
công nhận làm giáo lý căn bản:
Các pháp sinh ra tự một
nhân,
Ðức Như Lai đã giảng nguồn
căn,
Cách nào các pháp dần tiêu diệt,
Bậc Ðại Sa-môn cũng giải phân.
(Mv 1.23.5)
Tôn giả Sàriputta, với tài trí thông
minh phân tích và lý luận triết học vẫn thường được
tán dương từ lâu nay, lập tức thấu hiểu ý nghĩa câu nói
này: "Bất cứ vật gì chịu quy luật sinh khởi (ví dụ:
con người hiện hữu với nỗi khổ đau) đều phải chịu
quy luật đoạn diệt". Ðiều này có nghĩa là nếu không
tạo nguyên nhân để tái sanh đời sau, thì người ấy có
thể thăng tiến đến trạng thái đoạn diệt, tức Niết-bàn.
Tâm bừng ngộ nhờ tuệ giác này, tôn giả vội vàng đi đến
thân hữu Moggallàna để truyền cho bạn chân lý mới này (Mv
1. 23. 5-6).
Tôn giả Moggallàna, một thiền giả
đặc biệt có tài năng, cũng quán triệt ý nghĩa tinh nhanh
không kém bạn, nên tôn giả đề nghị cả hai nên đi ngay
đến gặp đức Phật và xin làm đệ tử ngài. Tuy nhiên, tôn
giả Sàriputta từ chối vì trước tiên hai vị phải cùng đi
hỏi ý kiến đạo sư Sañ jaya và các Sa-môn đồng bạn. Thế
rồi hai vị đều làm như dự định và các vị Sa-môn đồng
tu liền tuyên bố sẵn sàng đi đến yết kiến đức Phật.
Mặt khác, đạo sư Sañ jaya, cam kết là nếu hai vị ở lại
đó, hai vị sẽ được phân quyền lãnh đạo giáo phái ấy.
Khi hai vị Sàriputta và Moggallàna
từ chối lời đề nghị trên và ra đi cùng tất cả hai trăm
năm mươi môn đệ đến Trúc Lâm Tinh xá thỉnh cầu đức
Phật nhận vào Tăng đoàn, đạo sư Sañ jaya thất vọng đến
độ hộc máu mồm. Trong thời gian này đôi thân hữu được
đức Phật truyền giới Tỳ-kheo (Mv 1. 24) và chẳng bao lâu
đều đắc quả A-la-hán: tôn giả Moggallàna chỉ trong một
tuần và tôn giả Sàriputta vào tuần sau. Cả hai vị đều
trở thành hai đại đệ tử của đức Phật Gotama, và vẫn
giữ địa vị ấy suốt hơn bốn mươi năm.
Không lâu sau khi hai tôn giả này
trở thành Tỳ-kheo trong Tăng chúng, đức Phật tiếp một người
khách từ quê nhà Kapilavatthu. Ðây là tôn giả Kàludàyin, tức
Hắc Nhân Udàyin (Ưu-đà-di), như vẫn thường được gọi
vì màu da đen của vị ấy. Tôn giả là bạn từ thời thanh
niên của đức Phật, được quốc vương Suddhodana phái đi
tìm vương tử của ngài và thuyết phục đức Phật về thăm
kinh thành Kapilavatthu.
Kàludàyin thi hành sứ mạng với
tài khéo léo đặc biệt. Tôn giả gia nhập Tăng chúng và do
vậy dễ tiếp cận đức Phật bất cứ lúc nào. Sau đó dùng
nhiều lời lẽ miêu tả linh động, tôn giả cố gợi lên
trong lòng đức Phật nỗi nhớ quê hương của bộ tộc Thích-ca.
Bằng một giọng nói nồng nhiệt chứa chan tình cảm, tôn
giả minh họa vẻ diễm lệ của ngàn cây đang rộ nở hoa,
như một kẻ lữ hành dừng lại bên vệ đường ngắm cảnh
sắc của vạn vật:
Bạch Thế Tôn, nay hàng
cây lấp lánh
Ðỏ thắm và tàng cổ thụ buông
thòng
Ði tìm trái, còn hoa đỏ bao
chòm
Treo lủng lẳng, màu máu đào
rực rỡ.
Ðây là lúc xin Thế Tôn về
đó
Vì muôn hoa rộ nở khiến tâm
hoan.
Khắp cả vùng hương ngát tuyệt
trần gian,
Hoa rụng cánh báo tin lành kết
trái,
Nay đúng thời xin Thế Tôn trở
lại,
Mùa này ôi bao hỷ lạc ngập
tràn:
Khí trời không nắng gắt, chẳng
đông hàn.
Tộc Thích-ca, Câu-ly cùng chiêm
bái
Khi Thế Tôn hướng về tây đi
tới
Vượt qua dòng sông biếc Lỗ
- hi - ni.
(Thag 527 - 9)
Quả thật đức Phật đã đồng ý
để cho tôn giả thuyết phục. Ngài hứa với tôn giả rằng
ngài sẽ viếng kinh thành Kapilavatthu, không phải ngay lúc ấy,
mà sau mùa mưa kế đó là thời gian ngài đã dự định an
cư tại Ràjagaha. Tôn giả Kàludàyin vô cùng hoan hỉ, vội
vàng trở về Kapilavatthu mang tin lành trình Quốc vương Suddhodana.
Có lẽ tôn giả cũng dùng ngôn từ văn hoa bóng bẩy miêu tả
mọi việc, vì tôn giả vốn là người tinh thông nghệ thuật
tán tụng, điều này được chứng tỏ qua các vần thơ trong
Trưởng Lão Tăng Kệ (Thag 533-5), khi tôn giả ca ngợi Quốc
vương Suddhodana là thân phụ của đức Phật Thế Tôn, và
làm vinh danh cả cố mẫu thân của ngài nữa:
Bậc anh hùng quả là người
đại tuệ
Làm bảy đời gia hệ được
vinh quang,
Thích-ca, ngài là Thiên Chủ trần
gian
Vì sinh được bậc Thánh hiền
đích thật.
Tịnh Phạn Vương, phụ thân
ngài Ðại Giác,
Mẫu thân ngài là chánh hậu
Ma-gia
Dưỡng thai nhi, Bồ-tát, trọn
tâm bà.
Lúc thân hoại tái sanh trời
Ðâu-suất,
Ðức bà hưởng tràn đầy năm
Thiên lạc
Ðược từng đoàn thiên nữ
đứng vây quanh.
MÙA
MƯA TẠI RÀJAGAHA
Theo dự định, đức Phật an cư
mùa mưa 527 trước CN tại Ràjagaha (Vương Xá) đồng thời
các thảo am dành cho Tăng chúng đã được dựng lên ở Trúc
Lâm, đó là bước đầu của một tinh xá. Ðây là mùa mưa
thứ hai kể từ khi ngài bắt đầu truyền bá Giáo Pháp và
không phải là không gặp vấn đề rắc rối. Sự phát triển
Tăng đoàn ngày càng đông gây nên nhiều khó khăn bất ngờ
cho bậc giáo chủ.
Việc tập hợp quá nhiều Sa-môn
khất sĩ du hành quanh nội thành Ràjagaha mỗi buổi sáng sớm
và đứng yên lặng trước cửa nhà dân chúng với những bình
bát lớn - chứ không phải chỉ là chén nhỏ - chờ đợi thực
phẩm của thí chủ đưa đến kết quả là nhiều người trong
số khoảng 60.000 thị dân trở thành chán ngán về cảnh tượng
Sa-môn khất thực và xem các "khất sĩ đầu trọc" là mối
phiền nhiễu quấy rầy họ, dù chư vị ấy thuộc giáo phái
nào đi nữa.
Ngoài ra, lại còn có hậu quả tiêu
cực về mặt xã hội của việc du hành khất thực. Nhiều
người trước kia đã kiếm nghề nghiệp và sống đời bình
thường với vợ con bỗng nhiên nay đâm ra thích đời Sa-môn,
gia nhập Giáo đoàn để mặc gia đình bơ vơ túng thiếu. Dân
chúng kêu ca: "Sa-môn Gotama đang sống bằng cách làm cho người
ta tuyệt tự, vợ góa con côi, gia đình ly tán. Vị này đã
cải hóa cả ngàn đạo sĩ khổ hạnh bện tóc và hai trăm
năm mươi đồ đệ của đạo sư Sañ jaya, thậm chí các thiện
gia nam tử cao sang đệ nhất trong nước Magadha cũng theo đời
Phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa-môn này".
Vì thế các Tỳ-kheo thường bị
trêu ghẹo, nhất là bởi đám trẻ con học lóm được mấy
câu thơ từ người lớn:
Ngài đến từ Ða Sơn
Bậc Ðạo Sư trên đường
Dẫn theo đoàn khất sĩ
Của Sañ -jay đạo nhơn,
Sẽ còn ai thọ giới
Quy phục lực Sa-môn?
Ðức Phật nghe được câu thơ phỉ
báng này từ các Tỳ-kheo nhưng ngài không hề bận lòng nao
núng. Ngài bảo lời ong tiếng ve không kéo dài lâu được,
nhưng ngài là một nhà thao lược đại tài, tinh thông bản
chất con người, ngài liền tìm biện pháp đối phó. Ngài
đáp lại bằng một vần thi kệ được chư Tỳ-kheo nhanh chóng
truyền ra ngoài đời rất hữu hiệu:
Các bậc đại anh hùng,
Ðấng hiển lộ Thật Chân,
Chỉ đường theo Chánh Pháp,
Chân thật quả vô cùng.
Lẽ nào ai ganh tỵ
Các khất sĩ hiền nhân
Dẫn đưa người tiến bước
Bằng Giáo Pháp Như Chân?
Ðúng như bậc Ðạo Sư đã tiên đoán,
sau vài ngày lời chỉ trích không còn nữa (Mv 1. 24. 5-7). Có
thể chính vua Bimbisàra cũng đã dùng vài biện pháp ngăn chận
sự bất mãn của công chúng đối với các Sa-môn khoát y vàng.
Song song với những nỗ lực làm
cho quần chúng tôn trọng Tăng đoàn là những nỗ lực của
đức Phật hướng về nội bộ để rèn luyện các Tỳ-kheo
giữ đúng giới luật. Rõ ràng là qua việc giáo hóa tập thể
đạo sĩ khổ hạnh bện tóc của ba tôn giả Kassapa và các
môn đồ của đạo sĩ Sañ jaya, một số người gia nhập Tăng
chúng thiếu trình độ giáo dục sơ đẳng, với tư cách xử
sự khiếm nhã và đòi hỏi khất thực thô bạo đã vi phạm
giới luật gây niềm bất mãn. Bậc Ðạo Sư đưa ra một loạt
huấn thị để dạy chư vị ấy biết giữ phép xã giao nhã
nhặn. Ngài truyền chư Tỳ-kheo phải đắp y đúng luật Sa-môn,
cư xử khiêm tốn trước các thí chủ và thọ thực trong im
lặng (Mv 1. 25. 5).
Những trường hợp bất kính đối
với các vị thầy giáo huấn lớp tân Tỳ-kheo cũng khiến
ngài ban hành các giới luật về vấn đề này nữa. Ngài truyền
lệnh các Tỳ-kheo phải vâng lời dạy của vị giáo thọ (Mv
1. 25. 8), phải chăm sóc y phục của thầy giáo (Mv 1. 25. 10
+ 23), phải rửa sạch bình bát (Mv 1. 25. 11) và lau chùi sàng
tọa của thầy nữa (Mv 1. 25. 19).
Như chúng ta biết được qua phần
duyên khởi của nhiều kinh, đức Phật cũng muốn được đệ
tử phục vụ ngài như vậy. Hầu như lúc nào ngài cũng được
một thị giả (upatthàka) theo hầu cận, phận sự của
vị này là, ngoài mọi việc khác, còn phải quạt hầu bậc
Ðạo Sư trong lúc ngài thuyết Pháp dưới trời nóng nực (MN
12. 1). Nếu không có Tỳ-kheo trẻ nào hiện diện thì các đại
đệ tử xuất chúng như tôn giả Sàriputta cũng không ngần
ngại làm việc này. Các thị giả hầu cận vẫn thường thay
đổi luôn cho đến năm thứ hai mươi trong quãng đời hoằng
Pháp của đức Phật, tôn giả Ànanda, em họ ngài, mới giữ
chức vụ này và tận tụy hết lòng hầu hạ bậc Ðạo Sư
cho đến lúc ngài mệnh chung.
ÐỨC
PHẬT VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG
Giữ đúng lời hứa với tôn giả
Kàludàyin, đức Phật khởi hành trở về Kapilavatthu ngay khi
mùa mưa gió chấm dứt. Ngài không du hành một mình: tôn giả
Sàriputta và một số Tỳ-kheo khác theo hầu ngài. Lộ trình
dài 60 do-tuần. Một do-tuần (yojana): là một đoạn đường
mà một con bò kéo cày có thể đi được, độ chừng 10 km.
Ðức Phật Gotama phải dành sáu mươi ngày để đi khoảng
đường 600 km giữa Ràjagaha và Kapilavatthu. Sau khi đi được
một phần tư lộ trình lên phía tây bắc, ngài phải vượt
qua sông Hằng.
Ngày nay ta có thể tìm ra vài khái
niệm về các cuộc hành trình ấy như thế nào nếu ta nghĩ
đến những cuộc trường chinh do nhà lãnh tụ vĩ đại Gàndhi
và Vinobha Bhàve thực hiện. Theo lệ thường bậc Ðạo Sư
cứ tiếp tục độc hành hoặc thỉnh thoảng đàm đạo với
một vài đệ tử. Cách ngài năm bảy bước phía trước là
một số môn đồ trung kiên tiên phong mở đường và bảo
vệ ngài khỏi bị đám người bàng quan quấy nhiễu, và phía
sau ngài là đám Tỳ-kheo còn lại, một số với dáng điệu
chuyên chú giữ chánh niệm và tâm thiền định, một số khác
mệt mỏi bèn rút lui bỏ cuộc. Chỉ có ba dấu hiệu bên ngoài
phân biệt đức Phật với bậc Ðại Hiền Trí (Mahàtma: danh
hiệu của Gàndhi) và Vinobha: y phục của ngài không phải màu
trắng mà là màu vàng nâu pha đất sét đỏ (kàsàya),
ngài đi chân trần và không chống gậy. Ở cổ Ấn Ðộ, gậy
được xem là khí giới nên đức Phật không dùng chúng.
Các diễn biến tiếp theo sau thời
gian ngài đến thành Kapilavatthu chỉ được ghi lại từng đoạn
rời rạc trong Kinh Tạng Pàli theo thứ tự niên đại và nhiều
chỗ thiếu đồng nhất, tuy thế, chúng ta cũng có thể hình
dung được những chuyện đã xảy ra.
Theo phong tục, đức Phật nay đã
là một Sa-môn khất sĩ nên không thể đến viếng Quốc Vương
Suddhodana nếu chưa được thỉnh cầu. Ngài liền tạm trú
tại Nigrodhàràma (Ni-câu-luật Viên: Rừng Cây Ða), một nơi
ở phía trước kinh thành thường được các Sa-môn khổ hạnh
vãng lai, vốn có nhiều gốc đa cổ thụ (nigrodha: Ficus Bengalensis)
với những chòm rễ dài lủng lẳng trên không tạo thành một
khu rừng nhiều cây cao bóng mát đón mời du khách. Ngay lúc
ấy quốc vương chưa được tâu trình việc hoàng tử của
ngài vừa đến nơi. Chỉ vừa tảng sáng hôm sau, khi dân chúng
đã thấy vị thái tử Siddattha trước kia mang bình bát đi
khất thực trên các đường phố trong kinh thành, Quốc Vương
Tịnh Phạn mới được cấp báo việc này.
Cuộc nói chuyện đầu tiên giữa
hai cha con không diễn ra êm thắm mấy. Vua Suddhodana khiển trách
con mình đã tự làm mất danh giá khi đi khất thực trong quê
hương mình trước mắt mọi người. Vương tử Siddhattha nay
đã là bậc Giác Ngộ, lại bị quở mắng như một trẻ thơ,
liền tự biện hộ bằng cách bảo rằng truyền thống Sa-môn
là sống nhờ khất thực và chư Phật quá khứ cũng đã làm
như vậy. Phần Bhaddakaccànà tức Yasodharà, bà vợ trước
kia của đức Phật, người đã sống đời "sương phụ của
Tỳ-kheo" suốt tám năm ròng, vẫn còn đau xót về việc này
nên tìm cách bày tỏ nỗi hờn giận của bà. Khi đức Phật
đến thăm hoàng cung của vua cha lần thứ hai, bà truyền đưa
con trai của hai vị là Ràhula (La-hầu-la) bấy giờ đã lên
tám, đến và dặn: "Này Ràhula, ngài là cha của con đấy.
Con hãy đến xin ngài cho con phần tài sản của con". Cậu
bé Ràhula làm theo lời mẹ dạy. Cậu đến cung kính đảnh
lễ đức Phật và đợi cho đến khi ngài rời cung. Rồi cậu
đi theo ngài và thưa: "Bạch Sa-môn, xin cho con phần tài sản
của con". Phản ứng của đức Phật vừa uy nghiêm cao thượng
vừa công hiệu biết bao. Ngài ra lệnh cho tôn giả Sàriputta
nhận cậu bé làm Sa-di ngay lập tức tại chỗ. Như vậy tôn
giả Sàriputta trở thành vị giáo thọ của vương tôn Ràhula.
Quốc Vương Suddhodana không thể
nào nguôi lòng khi nghe tin nay vương tôn của ngài cũng đã
bị đưa ra khỏi gia đình, vội van xin bậc Ðạo Sư đừng
bao giờ truyền cho ai giới xuất gia làm Sa-di (pabbajà)
mà không được cha mẹ chấp thuận. Ví thử lúc ấy quốc
vương hy vọng đức Phật sẽ hủy bỏ giới Sa-di của vương
tôn Ràhula thì ngài chuốc lấy thất vọng mà thôi. Bậc Ðạo
Sư chỉ hứa làm theo lời thỉnh cầu ấy trong các trường
hợp về sau! (Mv 1. 54)
Mặc dù Kinh Ðiển nỗ lực trình
bày cuộc viếng thăm thành Kapilavatthu lần đầu của đức
Phật như một chuyến hoằng Pháp thành công, rõ ràng sự thành
công ấy cũng là hạn hẹp. Chỉ một số ít người tin theo
Giáo Pháp ngài. Dân chúng thành Kapilavatthu vẫn còn ghi trong
trí những hình ảnh quá sinh động của vị vương tử được
nuông chiều thuở trước nên không thể nào tin tưởng vào
vị trí của đức Phật, một bậc "Giác Ngộ" ngày nay. Họ
lại cần có một sự thận trọng về chính trị đối ngoại
nữa. Lúc ấy họ vẫn chưa biết chắc Ðại Vương Pasenadi
nước Kosala ngự tại thành Sàvatthi vừa là chúa tể tối
cao của cộng hòa Sakiya, sẽ nhìn giáo phái mới này ra sao.
Một vị trong dòng Sakiya được
thọ giới Tỳ-kheo có lẽ còn trước cả việc vương tôn
Ràhula thọ Sa-di giới, là Nanda Gotama (Nan-đà), em khác mẹ
của thái tử Siddhattha, tức con trai vua Suddhodana và bà kế
mẫu Mahàpajàpatì. Theo Kinh Ðiển, thái tử đã thuyết phục
hoàng đệ Nanda trở thành Tỳ-kheo và vị này miễn cưỡng
nhận lời do lòng kính trọng vị hoàng huynh chỉ lớn hơn
mình chừng vài ngày!
Hiển nhiên (theo Jataka 182) vương
tử Nanda, ít ra là thời gian đầu, không hoàn toàn phù hợp
với đời khất sĩ. Có lẽ để đối trị với những mối
hoài nghi do các vị đồng Phạm hạnh thường bày tỏ về
quyết tâm sống đời độc cư của tôn giả Nanda, nên khi
đức Phật đã ca ngợi các đức tính của tôn giả, nhưng
lại theo một phương thức ngoại giao khéo léo là trong lúc
vừa tán thán, ngài vừa vạch ra một đường lối tu tập
cho tôn giả Nanda: như phòng hộ các căn (giác quan), tiết độ
trong ẩm thực, chú tâm cảnh giác đối với thân tâm và từ
bỏ mọi xúc động trong tâm tư tình cảm (A.N 8.9). Sự giáo
giới ấy thật cần thiết vì tôn giả Nanda có diện mạo
khôi ngô tuấn tú, lại thường mang nặng những mơ tưởng
ái tình và còn toan tính chuyện cởi bỏ y vàng rồi hoàn tục
nữa. Mãi đến khi bậc Ðạo Sư chỉ rõ cho tôn giả thấy
dung sắc xoàng xĩnh của cô vợ cũ yêu quý là Janapadakalyànì,
tôn giả mới bắt đầu nghiêm chỉnh tu tập bản thân theo
luật Sa-môn. Ngay cả vị này về sau cũng đắc quả A-la-hán.
(Ud 3.2)
Ðức Phật còn truyền giới thêm
bảy vị Thích-ca nữa, không phải ở quê nhà Kapilavatthu mà
ở Anupiyà, một nơi trong cộng hòa Malla, đất nước ngài
ghé ngang qua trên đường về từ Kapilavatthu. Bảy vị này
trước kia đã rời kinh đô của bộ tộc Thích-ca để trở
thành nhóm Sa-môn khất sĩ sống riêng lẻ. Nhưng khi chư vị
gặp đức Phật ở Anupiyà, chư vị cảm thấy chấp nhận
sự hướng dẫn của ngài thì hợp lý hơn là tự mình đi
tìm chân lý cho mình.
Người đầu tiên trong nhóm này
được đức Phật thu nhận là Upàli (Ưu-ba-li), trước đây
làm nghề cắt tóc (Cv.7.1.1-4), một người tầm thường ở
địa vị thấp kém mà không ai ngờ lại có thể trở thành
một chuyên gia xuất sắc về giới luật và qui tắc xử sự
trong Tăng chúng. Hai vị nữa là Anuruddha (A-na-luật) và Ànanda
(A-nan), em họ của đức Phật, các nam tử cùng cha khác mẹ
của hoàng thân Amitodana, em trai phụ vương ngài. Cả hai vị
đều nổi tiếng về lòng tận tụy trung thành đặc biệt
đối với đức Phật. Các vị còn lại là Bhagu (Bạt-cù),
Kimbila (Kim-tỳ-la) và Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa). Vị sau cùng
cũng là em họ của đức Phật, hoàng tử của vua Suppabuddha
(Thiện Giác), em trai mẫu hậu ngài và là anh của công chúa
Bhaddakaccànà tức bà vợ cũ của ngài.
Nhân vật danh tiếng nhất trong bảy
vị này là Bhaddiya, con trai của bà Kàligodhà, "Hắc nữ Godhà",
vị nữ tộc trưởng của các phu nhân dòng Thích-ca giữ địa
vị quả phụ thừa kế. Có lẽ bà là quả phụ của một
quốc vương đã một thời cai trị cộng hòa Sakiya trước
vua Suddhodana, hoặc làm vị nhiếp chính của ngài. Ðiều này
giải thích lý do tôn giả Bhaddhiya được miêu tả là quốc
vương cai trị dòng Thích-ca (Cv 7.1.3) do nhầm lẫn với thân
phụ tôn giả.
Từ Anupiyà, chuyện kể rằng cuộc
hành trình tiếp tục đến Kosambì, thủ đô nước Vamsà (Cv
7.2.1), nơi đó bậc Ðạo Sư cùng chư vị hộ tống cư trú
tại vườn của triệu phú thương Ghosita (Cù-sư-la). Khu vườn
này mở rộng đón các du sĩ của mọi tông phái. Một thời
gian sau, vị này cung tặng ngài khu vườn ấy, vào dịp đến
thành Sàvatthi để buôn bán cùng nghe đức Phật thuyết Pháp
và trở thành đệ tử ngài.