Chương
III (tt)
-oOo-
TRỞ
LẠI RÀJAGAHA
Năm 526 trước CN chứng
kiến đức Phật trở về thành Vương Xá lần nữa, nơi đó
ngài an cư mùa mưa tại Vehuvana (Trúc Lâm) "tinh xá" như trước.
Một trong những nơi ngài thường đến thăm nhiều nhất là
Gijjhakùta (Linh Thứu Sơn), một cao nguyên ở sườn đồi phía
nam Ðỉnh Chatha nhìn xuống phía nam cảnh thung lũng Ràjagaha
thật ngoạn mục cho ta hưởng được làn gió nhè nhẹ hiếm
có ở vùng thung lũng phía dưới. Chẳng bao lâu Linh Thứu Sơn
trở thành địa điểm được bậc Ðạo Sư ưa chuộng và
đôi khi ngài lên đó ngay cả trong mùa mưa hoặc đêm tối.
Tại đây ngài có thể chủ trì các Pháp thoại mà không bị
quấy nhiễu và dành hết thì giờ giáo giới chư Tỳ-kheo,
nên hàng chục bài kinh đã được ngài thuyết giảng tại
đây. Có hai hang động thiên nhiên ở sườn bắc núi này,
động lớn được gọi là Ðộng Lợn Rừng, các hang này che
chở chư vị những lúc bão tố và có thể ở tạm ban đêm
lúc khẩn thiết.
Trong mùa an cư thứ hai
tại Ràjagaha, đức Phật có hai mối kỳ ngộ chứng tỏ tầm
quan trọng và giá trị đối với ngài cùng Tăng chúng. Ðó
là cuộc gặp gỡ y sĩ Jìvaka (Kỳ-bạt) và trưởng giả Anàthapindika
(Cấp Cô Ðộc).
Cuộc tiếp xúc với
y sĩ Jìvaka diễn ra như sau: khi mệt nhọc vì các chuyến du
hành xa, đức Phật rời nội thành Ràjagaha để về Linh Thứu
Sơn và ngồi nghỉ bên ngoài đông môn của nội thành dưới
bóng mát của một vườn xoài. Vườn này thuộc về vị ngự
y Jìvaka Komàrabhacca, mà theo lời đồn đại, vị này là con
của một kỹ nữ giàu sang trong thành Vương Xá đã bỏ rơi
con mình sau khi sinh. Cũng theo lời đồn, một vương tử đã
tìm thấy hài nhi và nuôi đến trưởng thành (Mv 8. 1. 3-4).
Dù sao đi nữa, sự thật là vị này đã học y khoa bảy năm
tại Ðại học lừng danh Takkasìla (Skt: Taksasìla) (Mv 8.1.6)
và trở thành nổi tiếng nhờ nhiều cách điều trị thần
kỳ. Vị này vừa mới chữa cho vua Bimbisàra khỏi bệnh âm
sang, sau đó nhà vua bổ nhiệm chức ngự y thường trực của
mình kiêm thái y chính thức của các vương phi và cả Tăng
chúng của đức Phật (Mv 8. 1. 13-15).
Y sĩ Jìvaka liền nắm
lấy cơ hội đức Phật đến thăm vườn xoài này để đàm
luận đôi điều với "bậc Ðại Sa-môn" mà theo lệnh vua,
vị ấy có trách nhiệm chăm sóc sức khỏe. Do nghề nghiệp
được giao có liên quan đến sự bảo vệ sinh mạng, vị y
sĩ hỏi đức Phật về thái độ của ngài đối với việc
sát sinh và cách dùng thực phẩm toàn rau quả (trường trai):
"Bạch Thế Tôn, con
nghe nói rằng nhiều súc vật bị giết vì ngài, và ngài dùng
món thịt đặc biệt dành để cúng dường ngài. Có đúng
vậy chăng?
-- Này Jìvaka, bất
cứ ai nói như vậy là không nói sự thật. Ðúng ra, ta nói
rằng thịt không được nhận làm món khất thực trong ba trường
hợp: nếu ta thấy, nghe và nghi (con vật ấy bị giết vì vị
Tỳ-kheo này) song nếu không phải các trường hợp trên, thì
vị Tỳ-kheo có thể thọ dụng món thịt.
Nếu một Tỳ-kheo
đi khất thực trong thôn làng hay thị trấn với tâm từ (mettà)
biến mãn khắp mọi chúng sanh, và một gia chủ mời vị ấy
thọ thực ngày mai, vị ấy có thể nhận lời. Nhưng trong
lúc vị ấy đang thọ thực ngày hôm sau tại nhà kia, vị ấy
không nên nghĩ là vẫn ước mong được mời một bữa cao
lương mỹ vị như vậy thêm lần nữa. Vị ấy nên thọ dụng
món khất thực mà không tham đắm lạc thú ẩm thực. Này
Jìvaka, ông có nghĩ rằng một Tỳ-kheo làm như vậy là tự
hại mình và hại người khác không?
-- Thưa không,
bạch Thế Tôn.
-- Này Jìvaka,
nếu ông nói đến sự cố ý diệt tận của ta thì điều
đó chỉ đúng theo ý nghĩa duy nhất này: "Ta đã đoạn diệt
tham, sân, si ở trong ta khiến cho chúng không thể sanh khởi
được nữa trong tương lai. Bất cứ kẻ nào sát sanh vì ta
hay một đệ tử của ta sẽ phạm một ác nghiệp gồm có
năm phần, đó là, dẫn con vật đi, hành hạ nó (lúc lôi kéo),
giết chết nó, và do vậy hành hạ nó thêm lần nữa và cuối
cùng là cúng dường ta và đệ tử ta không đúng Chánh Pháp".
(MN 55, lược thuật)
Cảm phục vì lời dạy
của đức Phật, y sĩ Jìvaka tuyên thệ xin gia nhập hội chúng
đệ tử tại gia. Và vào một dịp khác, khi đức Phật đến
an trú trong vườn xoài này, vị y sĩ lại tìm cách học tập
các bổn phận của một cư sĩ. (AN 8.26)
Từ đó y sĩ Jìvaka hoan
hỉ đảm trách nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho Tăng chúng
mặc dù việc đó làm vị y sĩ bận rộn rất nhiều mà không
nhận thù lao gì cả. Có lần đức Phật hỏi ý kiến về
"khí huyết cơ thể thiếu lưu thông", y sĩ Jìvaka liền chữa
khỏi với dầu xoa bóp, thuốc nhuận tràng, cách tắm nước
ấm (ở các suối nước nóng gần Ràjagaha) và nước cốt
trái cây (Mv 8.1.30-33). Ðối với các Tỳ-kheo xanh xao bạc nhược,
vị ấy khuyên tập thể dục và tắm trong lều có sưởi ấm
(Cv 5. 14. 1), rõ ràng đó là cách điều trị kê đơn thật
hợp lý.
Việc bổ nhiệm Jìvaka
làm y sĩ của Tăng chúng chỉ có một hậu quả phụ không
mấy ai ưa thích, khi nhiều người có đủ thứ tật bệnh
khác nhau xin gia nhập Giáo hội làm Tỳ-kheo với mục đích
được vị danh y này chữa trị miễn phí! Vì vậy y sĩ Jìvaka
thỉnh cầu đức Phật không chấp thuận các người bệnh
được thọ giới. Bậc Ðạo Sư nhận lời đề nghị này
và đưa ra những huấn thị thích hợp. (Mv 1. 39. 5-7)
Vì thấy đức Phật
thường đến viếng Vườn Xoài trên, vị y sĩ suy đoán là
đức Phật đặc biệt thích cảnh này nên đã dâng cúng bậc
Ðạo Sư Vườn Xoài Jìvaka. Phần nền tảng của tinh xá ngày
xưa ở đấy nay còn thấy được bốn bức tường dài với
các dãy nhà phụ nhỏ hơn, tất cả đều được che mái hình
vòng cung thuở ấy.
Một đệ tử tại gia
xuất sắc thứ hai tự tuyên thệ làm người hộ pháp vừa
là thân hữu của đức Phật cũng trong năm 526 trước CN ấy
là Sudatta Anàthapindika, Tu-đạt Cấp Cô Ðộc, như ông thường
được gọi vì tính ông bố thí hào phóng. Ông sinh trưởng
ở Sàvatthi và kết hôn với em gái của một thương gia thành
Ràjagaha. Là người buôn bán vàng trở thành đại phú nhờ
nghề này, ông thuộc thành phần lãnh đạo ngành này ở Sàvatthi,
là chủ tịch nghiệp đoàn, đến thành Ràjagaha để lo công
việc với người em vợ.
Ông rất kinh ngạc nhìn
thấy mọi sự chuẩn bị long trọng linh đình trong nhà em vợ
để cúng dường đức Phật và Tăng chúng ngày hôm sau. Lòng
đầy hiếu kỳ về người mang danh hiệu được tôn vinh là
một đức Phật, một bậc Giác Ngộ, ông không ngủ được
đêm ấy và thức dậy trước lúc tinh sương để đi tìm đức
Phật. Lúc ấy bậc Ðạo Sư tạm trú trên vùng nghĩa địa
hỏa táng Sìtavana (Thanh Lâm: Rừng Mát) và đã thức
dậy. Ngài đang đi kinh hành để hưởng khí mát lạnh ban mai,
chẳng bao lâu cuộc đàm đạo càng thêm hứng khởi, qua đó
đức Phật thuyết cho ông Anàthapindika nghe bài Pháp thuận
thứ. Bằng cách phát nguyện Tam quy, ông tuyên thệ xin làm
cư sĩ tại gia và cung thỉnh đức Phật đến thọ thực ngày
hôm sau (Cv 6. 4. 1-5).
Buổi cúng dường này
cũng diễn ra tại nhà em vợ ông ở Ràjagaha và chấm dứt
với lời ông cung tặng đức Phật cùng Tăng chúng một nơi
an cư mùa mưa ở Sàvatthi. Ðiều kiện duy nhất đức Phật
yêu cầu là một nơi an cư như vậy phải ở trong một vùng
biệt lập (Cv 6. 4. 7)
Khi trở về Sàvatthi,
ông Anàthpindika lập tức đi tìm một khu đất thích hợp.
Ông tìm được ngự viên của vương tử Jeta, hoàng nam của
Ðại Vương Pasenadi Kosala. Tuy nhiên, vương tử Jeta không muốn
nhượng bớt tài sản. Vương tử tuyên bố chẳng muốn bán
ngự viên này dù với giá một trăm ngàn đồng tiền kahàpanas.
Lời nói ấy được
ông Anàthapindika, một người thông thạo luật pháp, lập tức
trình lên pháp đình hoàng gia làm trọng tài phân xử. Tòa
án quyết định rằng việc nêu giá tiền ấy, cho dù chỉ
là một cách từ chối, cũng tạo nên lời cam kết muốn bán
(vì hễ ai không muốn bán sẽ không nêu giá cả!) và thế
là ngự viên này được chuyển qua tay ông Anàthapindika, vị
hào phú mà quần chúng tin rằng thực sự đã phải lát khắp
bề mặt ngự viên này với số đồng tiền vàng theo giá mua
(Cv 6. 4. 9-10).
VUA
PASENADI TRỞ THÀNH ÐỆ TỬ TẠI GIA
Việc ông Anàthapindika phát nguyện
cúng dường Tăng chúng một tinh xá ở Sàvatthi (khoảng 110
km ở đông bắc Lucknow) khiến đức Phật phải khởi hành
lên kinh đô nước Kosala không lâu sau cuộc đàm đạo với
nhà đại phú này. Cuộc bộ hành của ngài theo lộ trình xe
ngựa thông thường ngang qua Vesàli (Cv 6. 5. 1), thủ đô của
cộng hòa Licchavì và có lẽ cũng qua kinh thành Kapilavatthu nữa,
tuy thế biết rằng "Bụt nhà không thiêng", lần này
ngài không dừng lại nơi đây nữa. Khi đến Sàvatthi, ngài
an trú tại Jetavana (Kỳ Viên hay Thắng Lâm), nơi mà ông Anàthapindika
vừa mới tậu được, và khu vườn ấy hiển nhiên mở rộng
đón chư vị đại diện tất cả mọi giáo phái.
Sáng hôm sau, chúng Tăng thọ thực
tại nhà ông Cấp Cô Ðộc và câu chuyện sau đây diễn ra:
Ông Cấp Cô Ðộc: Bạch Thế
Tôn, chúng con sẽ phải sắp đặt mọi việc ở Kỳ Viên như
thế nào?
Ðức Phật: Hãy sắp đặt nơi
đây cho Tăng chúng từ bốn phương trời, cả hiện tại lẫn
tương lai nữa.
Ông Cấp Cô Ðộc: Lành thay, bạch
Thế Tôn. (Cv 6. 9)
Lúc ấy ông không làm lễ rót nước
lên tay chính thức chuyển nhượng quyền sở hữu chủ, mà
chỉ có lễ trao quyền sử dụng Kỳ Viên cho Tăng chúng, nhưng
nhờ câu đối đáp khôn khéo của đức Phật, nơi này tiếp
tục tồn tại thật lâu dài sau khi ngài diệt độ. Ông Cấp
Cô Ðộc vẫn là sở hữu chủ hợp pháp của Kỳ Viên, nơi
mà ông trao quyền tùy nghi sử dụng vào tay Giáo đoàn đức
Phật như một vật cho mượn vĩnh viễn.
Mặc dù chuyện kể ông Cấp Cô
Ðộc xây dựng ngay một tinh xá trong Kỳ Viên sau khi mua (Cv
6. 4. 10), và mặc dù ta có nghe nói đến việc xây dựng lần
thứ hai sau khi ông Cấp Cô Ðộc trao quyền sử dụng vào tay
Tăng chúng (Cv 6. 9. 1), hình như các ngôi nhà kiên cố không
thấm nước chỉ được xây rất lâu sau đó nhiều năm. Mãi
đến mười một năm sau (515 trước CN) đức Phật mới an
cư mùa mưa tại Kỳ Viên, trừ vài lần tạm trú ngắn hạn
trong các mùa khác. Từ năm 508 trở đi, ngài dùng Sàvatthi làm
nơi an trú mùa mưa hằng năm và đã trải qua mười tám thời
kỳ gió mùa tiếp tại Kỳ Viên Tinh Xá. Sáu mùa mưa khác ngài
an trú tại Ðông Viên Tinh Xá (Pubbàràma) cũng ở Sàvatthi,
một ngôi nhà do nữ cư sĩ hào phóng Visàkhà Migàramàtà (Tỳ-xá-khư
Lộc Mẫu) cúng dường.
Kỳ Viên ở khoảng 500 m phía tây
nam thành Sàvatthi (Maheth ngày nay), hiện được gọi là Saheth.
Các sách cổ miêu tả đó là vùng trồng nhiều cây rậm rạp
che bóng mát, một phần là xoài. Trẻ con xưa thường chơi
đùa gần công viên này, đôi khi vào lội nước trong cái ao
đức Phật vẫn dùng để tắm rửa. Cái ao nay đã hư hỏng,
nằm bên ngoài về phía đông vùng này lộ rõ cho du khách biết
đường đến Saheth tức Kỳ Viên thuở xưa. Ngoài ra không
còn di tích gì về các ngôi tinh xá thời đức Phật.
Trong đám dân chúng ở Sàvatthi không
lảng tránh con đường tới Kỳ Viên để nghe đức Phật thuyết
Pháp và thích thú diện kiến ngài (darsana) là Ðại Vương
Pasenadi nước Kosala, người vào độ tuổi bằng đức Phật.
Vị vua này đến gần đức Phật với tâm trạng hoài nghi:
Vua Pasenadi: Thưa Sa-môn Gotama,
có phải tôn giả tuyên bố đã chứng đắc Vô Thượng Giác
Ngộ như một đức Phật Chánh Ðẳng Chánh Giác chăng?
Ðức Phật: Quả thật ta tuyên
bố như vậy.
Vua Pasenadi: Trẫm biết các Sa-môn
thượng thủ của các giáo phái, khi trả lời câu hỏi của
trẫm, tất cả đều bảo chư vị không đạt vô thượng Giác
Ngộ. Nay làm thế nào tôn giả có thể trở thành một bậc
Ðại Giác như thế, khi tôn giả còn quá trẻ tuổi và xuất
gia chưa được bao lâu?
Ðức Phật: Thưa Ðại Vương,
có bốn loại người và vật không được khinh thường vì
trẻ tuổi: đó là: một vị quý tộc (Sát-đế-lỵ), một
con rắn, một ngọn lửa và một vị Tỳ-kheo. (SN
3.1 lược thuật)
Nhà vua hiểu lời nói trên ám chỉ
luôn đến tuổi trẻ của chính mình, nên rất cảm phục trước
câu đối đáp linh lợi hoạt bát này và tuyên thệ làm đệ
tử tại gia của đức Phật bằng cách phát nguyện Tam Quy.
Dù nay ta có tin việc vua Pasenadi
quy y Phật diễn ra ngay sau buổi đàm thoại đầu tiên hay không,
thì sự thật là niềm tin cẩn và thiện cảm thân hữu đã
phát sinh rất nhanh giữa vị Ðại Vương này và bậc Ðại
Sa-môn. Chỉ riêng Tương Ưng Bộ Kinh (SN 3) có không ít hơn
hai mươi lăm Pháp thoại rải rác trong nhiều năm giữa hai
vị, qua đó vua Pasenadi phát biểu các tư tưởng, nhận xét
và kinh nghiệm của mình, rồi đức Phật nêu ra quan điểm
của ngài.
Một vài Pháp thoại mang tính giáo
dục của Ðạo Sư đối với đệ tử, như trường hợp đức
Phật xoa dịu nỗi thất vọng của nhà vua khi chánh hậu Mallikà
(Mạt-lợi)của ông vừa hạ sinh một công chúa thay vì một
hoàng nam mà ông hằng mong ước (SN 3.16), hoặc ngài an ủi
nhà vua về việc tổ mẫu qua đời (SN 3.22), và giúp ông nhiếp
phục sầu bi về sự từ trần của ái hậu Mallikà bằng cách
suy tư đến tính bất khả kháng của mạng chung (AN 5.49).
Trong các trường hợp khác, đức
Phật khuyên nhủ vua với tình thân hữu. Do vậy có chuyện
ghi lại rằng vua Pasenadi là người thích hưởng cao lương
mỹ vị đã phát triển một cái bụng phệ, có lần đến
yết kiến đức Phật với dáng thở hổn hển mệt nhọc khiến
đức Phật cảnh giác vị vua này:
Người nào luôn sống
chú tâm,
Tỏ ra tiết độ, hộ phòng lúc
ăn,
Dục tham người ấy giảm dần,
Giữ gìn sức khỏe, chậm tăng
tuổi già.
Lập tức nhà vua ra lệnh cho vị thanh
niên đang quạt hầu phải nhắc nhở mình vần kệ này trước
mỗi buổi ăn (SN3.13).
Cũng giống như việc vua Bimbisàra
công nhận Giáo Pháp đã khởi đầu sự thành tựu đột phá
trong việc truyền đạo ở quốc độ Magadha, nay việc giáo
hóa vua Pasenadi cũng bảo đảm cho sự thành tựu tốt đẹp
đồng đẳng ở quốc độ Kosala. Tin "Ðại Vương quy y Giáo
Pháp của Sa-môn Gotama" lan rộng nhanh như ngọn lửa rừng,
chẳng bao lâu đến tận các nước cộng hòa chư hầu, gồm
cả xứ sở của bộ tộc Sakiya nữa.
VUA
PASENADI VÀ VƯƠNG QUỐC KOSALA
Ðại Vương Kosala với dáng đẫy
đà xuất hiện theo lời mô tả trong Kinh Tạng Pàli như một
mẫu người rất sống động phối hợp cuộc đời xa hoa,
thái độ ân cần thân thiện với cách suy tư đầy triết
lý và tài chính trị tinh khôn đầy mưu lược.
Vua này là con của Ðại Vương Mahàkosala.
Phụ vương đã trao quyền cai trị cho ông ngay sau khi ông du
học trở về từ Takkasìla, và sau khi ông chứng tỏ tài cai
trị trong chức vị thống đốc thành Kàsi (Benares). Viện Ðại
học ở Takkasìla, thủ đô Gandhàra, là cơ quan giáo dục cao
trọng nhất ở Nam Á, với một chương trình học đầy hấp
dẫn. Ngoài các môn triết lý và thần học (nghiên cứu triết
lý Vệ-đà, các kỹ năng tế lễ, chú thuật, văn phạm kinh
Vệ-đà) và các môn thế học về luật pháp và chính trị,
còn dạy nhiều nghề thực tiễn (như y khoa, luyện voi, đấu
kiếm và bắn cung). Ðại học này mở ra cho bất cứ người
nào thuộc giai cấp quý tộc Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn có
đủ các điều kiện cần thiết. Học phí rất cao, nhưng các
sinh viên nghèo thời ấy có thể phục vụ các giáo sư để
thay vào món học phí phải trả (Jàt.252). Mọi sinh viên đều
sống trong khu đại học theo kỷ luật nghiêm khắc. Hình phạt
đối với các vị vi phạm trật tự thường là cách trừng
trị bằng roi gậy.
Cả việc vua Pasenadi tham đắm lạc
thú ẩm thực lẫn khát vọng đền bù khoảng thời gian đã
mất ấy bằng những cuộc tình ái có thể phát sinh từ lối
sống khắc khổ thời sinh viên ở Takkasìla. Kinh sách vẫn
thường nói đến nhiều vị vương phi của ông. Gạt bỏ qua
một bên mọi thông lệ của xã hội và giai cấp, ông đã
chọn nương tử yêu kiều Mallikà làm chánh hậu, đó là con
gái của một nhà làm vòng hoa, người đã biết dùng mọi
vẻ diễm lệ an ủi khôn khéo cho ông nguôi sầu sau một trận
chiến bại. Nhà vua rất quý trọng trí thông minh xử sự của
bà, và thường tham khảo ý kiến bà trước khi quyết định
việc cai trị. Ta còn biết được tên của bốn vương phi
khác nữa: đó là chị em vương phi Somà và Sakulà, vương phi
Ubbìrì và vương phi Vàsabhakkhattiyà thuộc dòng Thích-ca. Khi
vua Pasenadi muốn cưới một người vợ từ bộ tộc Thích-ca,
nàng đã được rước về từ kinh đô Kapilavatthu theo lời
cầu hôn của ông. Sau này nàng trở thành mẫu hậu của thái
tử Vidùdabha.
Việc học tập của vua ở Takkasìla
đã làm cho trí tuệ ông thêm sắc bén, nhưng khó làm cho ông
thích hợp việc trị nước. Ðôi khi các tư duy triết lý ngăn
cản ông quyết định và thỉnh thoảng các ý tưởng ấy lại
khởi lên giữa công việc triều chính khiến cho ông chán nản.
Ông từng nói với đức Phật là ông quá bực mình vì nhiều
điều dối trá mà ông phải nghe khi làm chủ tọa pháp đình
đến độ ông giao quyền xử án cho một vị phán quan khác
(SN 3. 7. 2). Lắm phen ông dùng câu nói này với đức Phật:
"Khi con lắng tâm suy nghĩ, tư tưởng này nảy ra trong trí
con..."(SN 3. 4. 2), một cách phát ngôn rõ ràng biểu lộ
bản tính hay suy tư của ông.
Nếu quốc sự cho phép, vua Pasenadi
hẳn đã dành nhiều thì giờ hơn cho các mối quan tâm về
triết lý và đạo giáo của ông. Tuy nhiên, những suy tư về
chính trị buộc ông phải biết hạn chế và phân phát ân
huệ đồng đều giữa các giáo phái có thể ảnh hưởng đến
dư luận quần chúng. Ông đã làm cân xứng với các tặng
vật dành cho hội chúng đức Phật -- trong đó nổi bật nhất
là ngôi giảng đường của tinh xá ở quần thể Kỳ Viên
và Vương Lâm Tinh Xá (Ràjakàrama) -- bằng cách ban lợi tức
thu thuế ba ngôi làng cho ba vị Bà-la-môn chuyên nghiệp lừng
danh về tri thức Vệ-đà. Thực ra ông không bao giờ từ bỏ
đạo tế thần theo Vệ-đà, và có lần chẳng chú ý gì đến
sự khinh bỉ của đức Phật, ông đã tổ chức một đại
tế lễ bằng máu (SN 3.9).
Việc ủng hộ tôn giáo đòi hỏi
rất nhiều tiền bạc. Có một lần, khi nhà vua muốn đào
sâu vào trong công khố để làm lợi cho Tăng chúng đức Phật,
vị triều thần Kàla cố can ngăn ông. Sự can đảm này phải
trả giá đắt. Ðức Phật bày tỏ thái độ bất bình đối
với Kàla, ngay sau đó vua Pasenadi bãi chức viên quan này. Trường
hợp trên nêu rõ ảnh hưởng của đức Phật đối với nhà
vua, đồng thời chứng minh rằng ngài biết cách bảo vệ quyền
lợi của ngài nữa.
Quốc độ Kosala của vua Pasenadi
dài 350 km từ tây sang đông và rộng 270 km từ bắc xuống
nam. Ðiểm cực tây của nó nằm khoảng 70 km phía tây vùng
Lucknow ngày nay. Từ đây biên giới quay ngược lên phía bắc
và đông bắc, đi vào vùng trung tâm cao nguyên Tarai rồi cong
dần về hướng đông đến sông Gandak (tức Sadànìra), nó
đi dọc sông này một đoạn nữa về phía nam, tiếp tục xuôi
về nam đến tận sông Hằng, chạy song song với thượng lưu
sông này cho đến khi nó rời con sông ở phía đông bắc thành
Benares, sau đó lại tiếp tục theo hướng tây bắc trở về
khởi điểm.
Một phần ba địa hình bầu dục
mô tả theo đường biên giới này, toàn thể phía bắc và
đông bắc không phải là vùng trung tâm của Kosala, mà bao gồm
các lãnh thổ do các quốc vương được địa phương ấy bầu
lên cai trị. Ðây là các nước cộng hòa và địa phận các
bộ tộc mà Ðại Vương Pasenadi làm chúa tể. Cơ cấu hành
chánh mà vua Pasenadi đã nhận được từ phụ vương để cai
trị cả lãnh thổ rộng lớn này không được hữu hiệu lắm,
khiến cho trách nhiệm lãnh đạo không dễ dàng gì. Ngoài hai
vị đại thần đáng tín nhiệm là Ugga và Àrohanta, nếu không
có hai vị này cố vấn thì nhà vua ít khi quyết định được
một vấn đề chính trị, nói chung vẫn có mối bất hòa giữa
đám quần thần và sự tranh chấp của họ đã nhiều lần
làm kinh thành bàn tán xôn xao. Cũng chính vì các triều thần
này nói bóng gió với nhà vua rằng Ðại tướng Bandhula đang
nhắm đến ngai vàng mà nhà vua đã tin theo, để rồi sai người
giết vị đại tướng, mang lại những hậu quả sẽ được
bàn đến sau này.
Những hiềm khích giữa đám quần
thần và mối nghi hoặc thường xuyên ám ảnh vua về lòng
trung thành của họ khiến cho ta dễ hiểu việc ông dành cho
mình mọi sự bang giao thương nghị với các nước cộng hòa
và bộ tộc dưới quyền thống trị tối cao của ông. Trong
các vấn đề liên quan các nước chư hầu, đám quần thần
không được xen vào. Ðại Vương bàn luận trực tiếp với
từng vị tiểu vương và buộc họ phải tuân theo vì ông đã
đặt các đại tướng "của họ’ dưới mệnh lệnh riêng
của ông. Thỉnh thoảng các tiểu vương đến báo cáo tại
hội nghị tiểu vương diễn ra ở thành Savatthi dưới quyền
chủ tọa của Ðại Vương Pasenadi.
Một bài kinh trong Tương Ưng Bộ
(3.12)kể lại một cuộc hội nghị gồm năm vua, song không
nói tên bốn vị vua vây quanh Ðại Vương Pasenadi là ai. Có
lẽ đó là quốc trưởng bộ tộc Sakiya từ Kapilavatthu, quốc
trưởng bộ tộc Koliya từ Ràmagàma, quốc trưởng bộ tộc
Moriya từ Pipphalivana, và một trong hai quốc trưởng của cộng
hòa Malla, hoặc từ Kusinàrà hoặc từ Pavà tới. Thay vào một
trong hai vị này, quốc trưởng Kàlàma từ Kesaputta cũng có
thể đã hiện diện.
Bài kinh không nói cho ta biết mục
đích chính trị của hội nghị này, mà chỉ cho ta thấy thỉnh
thoảng các quốc vương cũng bàn luận triết lý -- trong dịp
này đó là vấn đề giác quan nào -- mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân -- đem lại lạc thú tối cao. Theo đề nghị của vua Pasenadi,
vấn đề được đưa đến đức Phật, ngài đáp rằng mỗi
giác quan đều mang lại lạc thọ lẫn khổ thọ. Không giác
quan nào có thể được đánh giá cao hơn cái khác, nhưng trong
trường hợp so sánh các dục lạc, thì giác quan nào đem lạc
thú tối cao phải được xem là thượng đẳng, bất kể giác
quan nào cả. Nay chúng ta có thể giả thiết rằng việc tham
vấn này theo lời đề nghị của Ðại Vương Pasenadi đã làm
tăng thêm uy tín của đức Phật trong các xứ sở chính gốc
của các quốc vương kia và mở đường cho việc tiếp nhận
Giáo Pháp ngài.
Chúng ta cũng không nên đánh giá
quá cao tầm cỡ thủ đô nước Kosala. Bức tường bao quanh
thành Sàvatthi (tức là Mabeth) vẫn còn được phát hiện ngày
nay. Nó mang hình chữ nhật giáp giới phía bắc với sông Aciràvati
(hay Ràptì) và chiếm khoảng 3 km2. Một chỗ trũng
dài trên mặt đất ở phía nam thành, hình như ám chỉ rằng
Sàvatthi ngày xưa được hào lũy bao bọc. Kinh thành được
phồn thịnh nhờ các phương tiện giao thông thuận lợi hơn
là nhờ vị trí thủ đô. Sông Aciràvatì nối thủ đô nước
Kosala với hệ thống thủy lộ trên sông Hằng. Ðường xe
ngựa từ Takkasìla ở phía tây chia ra hai nhánh tại Sàvatthi,
nhánh đông nam đưa đến Ràjagaha và nhánh nam xuôi về Kosambì.
Như vậy Sàvatthi nằm trên một trong những tuyến đường
thương mại quan trọng nhất ở cổ Ấn Ðộ.
Sự kiện này đem lại nhiều tiền
bạc, nhưng cũng tăng thêm vấn đề canh phòng an ninh. Vua Pasenadi
đã phải chiến đấu không ngừng chống bọn đạo tặc thảo
khấu trong nước. Và đôi khi lại còn ra lệnh bắt "một số
đông thường dân" (SN 3. 10). Nguy hiểm nhất là Rừng Người
Mù (andhavana) trải dài từ Sàvatthi về hướng nam, nơi
bọn cướp đã có lần làm mù mắt một Tỳ-kheo. Ngay cả
nhà vua cũng không được an toàn ở đó. Có lần vua Pasenadi
sắp du hành ngang qua rừng ấy với một đám hầu cận ít
ỏi, các thám tử cấp báo tin rằng bọn sơn tặc đang mai
phục ông. Lập tức ông ra lệnh quân đội bao vây khu rừng.
Bọn cướp liền bị bắt và bị đâm bằng cọc xuyên qua
người.
CÁC
VŨ KỲ AN CƯ TẠI RÀJAGAHA VÀ VESÀLI
Việc đơn giản nhất đối với
đức Phật có lẽ là an cư mùa mưa 525 trước CN tại Sàvatthi,
nơi ấy Kỳ Viên của ông Cấp Cô Ðộc hẳn đã sẵn sàng
để cho ngài sử dụng. Tuy nhiên, hoặc là vấn đề nhà cửa
tại Kỳ Viên hình như còn quá sơ sài tạm bợ đối với
ngài, hoặc là vì ngài đã hứa với Ðại Vương Bimbisàra
đến an cư thời kỳ gió mùa năm ấy tại Ràjagaha, dầu trong
trường hợp nào, mọi nguồn kinh điển đều đồng ý rằng
ngài đã trải qua những tháng mưa năm 525 tại Ràjagaha thêm
một lần nữa. Ðây là mùa mưa gió thứ ba ngài an cư ở kinh
đô nước Magadha.
Ðức Phật lại sống qua thời kỳ
gió mùa năm sau tại Ràjagaha, mặc dù ngài gặp nhiều hoàn
cảnh bất ngờ làm xáo trộn. Năm ấy, 524 trước CN, những
cơn mưa lớn đã đổ xuống phía nam sông Hằng, và đức Phật
đang chuẩn bị sống ba tháng an tịnh tại Veluvana để hành
thiền và giáo giới chư Tăng, thì có một sứ thần đến
Ràjagaha từ Vesàli, thủ đô cộng hòa Licchavi. Ðó là Mahàli,
một thân hữu của Ðại Vương Bimbisàra, ông trình tấu rằng
đang có đại nạn ở Vesàli (Vaisàli ngày nay): hiện vẫn chưa
có dấu hiệu mưa đến và người ta sợ rằng mưa sẽ bỏ
mặc làm ngơ nước cộng hòa Licchavi. Nạn đói kém đã bùng
ra, nhiều người đã chết, và thêm vào đó, hiện đang có
bệnh bao tử và đường ruột hoành hành (dịch tả do các
giếng nước bị ô nhiễm) đòi mạng thêm nhiều nạn nhân
nữa. Do vậy sứ thần Mahàli xin vua Bimbisàra thuyết phục
đức Phật đến Vesàli cứu khổ cho kinh thành và cả nước
cộng hòa này.
Nếu bản tường trình (ghi trong
Luận tạng) nêu ra chính xác các lý luận của Mahàli, thì
nó trình bày một cách nhìn mới về đức Phật. Ơû đây
ngài không được nhìn theo vị trí một bậc Ðạo Sư thuyết
giảng con đường giải thoát vòng sinh tử luân hồi, mà như
một người có khả năng gây ảnh hưởng đến thiên nhiên
khiến cho mưa rơi xuống. Năm năm sau ngày thành Ðạo, đức
Phật đã trở thành một vị Ðại Siêu Nhân (Mahàpurisa)
trong mắt quần chúng.
Kinh điển không nói rõ đức Phật
Gotama có khoan dung chấp nhận hay bài bác quan điểm này về
ngài. Ngài đã đồng ý với lời thỉnh cầu của sứ thần
Mahàli theo đề nghị của vua Bimbisàra, ra đi cùng vài đệ
tử đến thành Vesàli, và vượt qua sông Hằng năm ngày sau.
Ngay khi ngài đặt chân lên bờ phía bắc trong cộng hòa Licchavì
thì nguồn nước lũ từ cổng trời mở ra, trận mưa được
chờ đợi từ lâu cũng đổ xuống khắp xứ sở này!
Ðức Phật giao nhiệm vụ chống
bệnh dịch tả cho đệ tử ngài, tôn giả Ànanda, người mà
theo chuyện kể lại, đã được ngài dạy kinh Bảo Châu (Ratana
Sutta) vì mục đích này. Nhiều nhà Ấn Ðộ học có thể
không tin rằng kinh này (SNip 222-38) thực sự của chính đức
Phật, nhưng điều quan trọng là chính kinh này được gán
cho tác dụng chữa bệnh. Ðó là một trong những kinh Phật
dựa trên một tư tưởng tiền Phật giáo đã được đề
cập ở phần trước, tức là mỗi sự thật dù có tầm quan
trọng về nội dung tư tưởng ra sao đi nữa, cũng chứa đựng
thần lực, và qua lời phát biểu sự thật ấy, do "tác động
của chân lý" (saccakiriyà) ấy, ta có thể đạt được
bất kỳ một kết quả nào mong muốn -- thậm chí sự thật,
"chân lý" được nói đến chỉ là một niềm tin:
Dẫu châu báu đời này
hay đời kế,
Bảo vật nào trên thiên giới
huy hoàng,
Không một thứ gì có thể sánh
ngang
Với tối thượng bảo châu là
đức Phật,
Ðức Như Lai là bảo châu đệ
nhất,
Nhờ Chân lý này hạnh phúc ngập
tràn!
(Kinh Bảo Châu, kệ 224)
Chỉ trong một thời gian ngắn, tôn
giả Ànanda đã trấn áp thành công bệnh dịch tả nhờ thần
chú nói lên chân lý này. Các nhà bình giải ngày nay dĩ nhiên
sẽ gán sự thành công này cho số lượng nước mát tràn đầy
đã lại sẵn sàng để sử dụng nhờ thời kỳ gió mùa đến.
Cộng hòa Licchavi (với Vesàli là
thủ đô) đã kết hợp với cộng hòa Videha (thủ đô là Mithilà)
cùng một số bộ tộc được gọi là Liên bang Vajji vẫn được
miêu tả với nhiều thiện cảm trong Kinh Tạng Pàli. Số quý
tộc võ tướng khoảng 14.000 người Licchavi điều hành công
việc của chừng 250.000 cư dân của nước này, và đề cử
các quốc vương, đã nhiều lần được tán dương về ý thức
trách nhiệm trị nước. Các kỳ họp hội đồng nhân dân
ở Vesàli được triệu tập bằng một hồi trống, được
một trong ba quốc vương Licchavi chủ tọa và tổ chức chu
đáo, còn các biện pháp được chấp thuận thông qua đều
được hội nghị cương quyết biến thành hành động. Công
lý được thực hiện nhanh chóng và khách quan.
Mặc dù đất nước tương đối
phồn thịnh, các vị quý tộc Licchavi vẫn sống khiêm tốn.
Nhiều vị võ tướng trẻ tuổi chỉ ngủ trên nệm rơm và
thực hành nhiều kỹ năng quân sự (SN 20.8) . Họ cũng luyện
chó dữ để đánh trận và được kiêng nể về tài thiện
xạ. Tuy nhiên thỉnh thoảng cao hứng quá độ, họ ẩu đả
và giành giật các thức ăn như mía, kẹo, bánh, mứt từ đám
hàng hóa cung cấp cho thành phố. Ðôi khi -- có lẽ để thử
lòng can đảm -- họ còn đánh vào mông đàn bà con gái.
(AN 5.58)
Mặc dù dân chúng Vesàli nỗ lực
làm nhà thật khang trang dành cho đức Phật ở trong kinh thành
và mặc dù ngài được cung cấp đầy đủ tiện nghi tại
Sảnh Ðường Có Nóc Nhọn ở Ðại Lâm (Mahàvana), ngài cũng
không cảm thấy hoàn toàn thoải mái trong chuyến du hành đến
Vesàli này. Chúng ta không hiểu rõ lý do, song chúng ta được
biết là, mặc dù ngài đã được thỉnh cầu và nghênh tiếp
như một vị cứu khổ cứu nạn, ngài vẫn rời kinh thành
này bảy ngày sau đó (hoặc theo một bản sớ giải khác thì
nửa tháng sau) và trở về Ràjagaha, nơi ngài an cư phần mùa
mưa còn lại.
THÀNH
LẬP GIÁO HỘI TỲ-KHEO-NI
Người ta phỏng đoán là trong lúc
đức Phật vẫn còn ở Vesàli, ngài nghe tin phụ vương Suddhodana
sắp lâm chung tại Kapilavatthu. Ðể kịp gặp vua cha trước
khi từ trần, bậc Ðạo Sư đã du hành qua không gian đến
kinh thành này vừa kịp để thuyết giảng một bài kinh cho
phụ vương Suddhodana, nhờ đó nhà vua đắc quả Giác Ngộ
và có thể nhập Niết-bàn lúc mệnh chung. Ðó là câu chuyện
thần thoại theo ý một luận sư.
Sự thật trong sử ký là vua Suddhodana
từ trần vào cuối năm 524 trước CN, còn đức Phật về thăm
quê hương lần nữa vào năm 523, lúc ấy vua Suddhodana đã được
hỏa táng từ lâu, và một vị quốc vương mới đã được
bầu lên cai trị. Ta không đọc được nơi nào trong Kinh Tạng
bảo vị tân vương này thuộc về dòng họ Gotama cả.
Có lẽ vào dịp viếng thành Kapilavatthu
lần thứ hai này đức Phật làm người trung gian hòa giải
cuộc xung đột về việc sử dụng nguồn nước sông Rohinì.
Sông Rohinì (nay là Rowai) làm biên giới giữa cộng hòa Sakya
và lãnh thổ bộ tộc Koliya, đã được ngăn bằng con đập
do hai bộ tộc này cùng xây từ đó họ kéo nước đổ vào
đồng ruộng. Vào khoảng tháng Năm - Sáu năm 523, mực nước
thấp đến độ chỉ đủ đưa vào một bên bờ này hoặc
bờ kia, nên cuộc tranh cãi bùng ra giữa nông dân hai bộ tộc
Sakiya và Koliya. Những lời lẽ mạ lỵ được hai bên tung
vào nhau và một cuộc xung đột - Kinh Ðiển gọi đó là một
chiến tranh - hình như không tránh khỏi.
Lúc ấy đức Phật đương giữa
hai trận tuyến như người trung gian hòa giải. Uy danh của
ngài là bậc Giác Ngộ, địa vị ngài là người thân tín
của vua Pasenadi, vị Ðại Vương mà cả hai bộ tộc đều
làm chư hầu, cùng biện tài của ngài đã tạo nên phép thần
kỳ hy hữu ít ai ngờ được. Bằng cách nêu lý luận rằng
nước sông không giá trị bằng nhân mạng, ngài đã ngăn
chận thành công sự đổ máu và xoa dịu những người tranh
cãi đầy cuồng nộ ấy (Jàt 536).
Trong dịp đức Phật về thăm Kapilavatthu
lần này, kế mẫu của ngài là bà Mahàpajàpati đến gần
ngài với một đề nghị mà ngài thấy không thể chấp nhận
được và hết sức phiền toái. Do việc xuất gia của thái
tử Siddhattha, vương tôn Ràhula và vương tử Nanda, bà không
còn ai để săn sóc trừ công chúa Sundarìnanda, con gái bà;
hơn nữa, sau khi vua Suddhodana từ trần bà không còn phận sự
gia đình, vì vậy tuổi hạc đã cao, bà trở về với đạo
giáo.
Một hôm bà tìm thấy đức Phật
ở Nigrodhàràma (Ni-câu-luật Viên: Rừng Cây Ða) ngoại kinh
thành, bà liền thưa:
"Nếu nữ giới cũng được xuất
gia sống không gia đình (làm Tỳ-kheo-ni) trong Giáo Pháp của
Thế Tôn thì thật hạnh phúc thay!". Ðức Phật tránh né
và phủ nhận, thậm chí giữ nguyên lời chối từ khi bà Mahàpajàpati
lập lại lời thỉnh cầu đến ba lần. Bật khóc khi nghe lời
chối từ này, mà bà tưởng là vong ân bạc nghĩa, bà quay
trở về thành Kapilavatthu (Cv 10. 1. 1).
Ít lâu sau, đức Phật rời quê
nhà và dần dần đến thủ đô Vesali của người Licchavi,
nơi ấy ngài được an cư trong Sảnh Ðường Có Nóc Nhọn
như năm trước. Cùng lúc ấy, bà Mahàpajàpati lại cố thu
hết can đảm một lần nữa, cắt tóc và đắp y vàng như
một Tỳ-kheo, rồi được một số nữ nhân dòng Sakiya hộ
tống, bà đi theo đức Phật suốt cuộc du hành này. Với đôi
chân sưng phồng và đất bụi bám đầy, bà đến Vesàli, tại
đó, tôn giả Ànanda thấy bà đang tiến lại gần Sảnh Ðường
Có Nóc Nhọn. Bà vừa khóc vừa kể cho tôn giả nghe ý nguyện
của bà là xin bậc Ðạo Sư cho phép thành lập Giáo hội Tỳ-kheo-ni
(Cv 10. 1. 2)
Có lẽ bà không thể nào tìm được
một nhà biện luận nào tài tình hơn nữa. Tôn giả Ànanda
động lòng chuyển ý nguyện tha thiết nhất của bà Mahàpajàpati
lên đức Phật, ngài lại từ chối. Vì vậy tôn giả Ànanda
bắt đầu biện hộ cho trường hợp này:
-- "Bạch Thế Tôn, nữ giới xuất
gia sống không gia đình trong Pháp và Luật của Thế Tôn, có
khả năng chứng đắc quả vị Giác Ngộ được chăng?
-- Này Ànanda, có thể được.
-- Bạch Thế Tôn, vì nữ giới
có khả năng về việc này, và vì hoàng hậu Mahàpajàpati Gotamì
đã có công lớn đối với Thế Tôn, vừa là di mẫu của
Thế Tôn, vừa là kế mẫu, nhũ mẫu bảo vệ Thế Tôn, vì
chính lý do này nên Thế Tôn cho phép nữ giới xuất gia sống
không gia đình trong Pháp và Luật của Thế Tôn thật hạnh
phúc thay!
-- Này Ànanda, nếu mẫu hậu Mahàpajàpati
cam kết tuân theo Tám Trọng Giới này thì hãy xem đây là lễ
thọ giới của bà". (Cv 10. 1. 3-4, giản lược)
Rồi ngài nêu Tám Trọng Giới ,
tất cả đều nhằm mục đích làm cho Ni chúng (Bhikkhunì) phục
tòng Tăng chúng. Ngay cả một Tỳ-kheo-ni đại trưởng lão
cũng ở địa vị thấp hơn một tiểu tăng mới thọ giới
và phải cung kính đảnh lễ vị ấy. Khi nghe tôn giả Ànanda
nói Tám Trọng Giới này, bà Mahàpajàpati chấp nhận mọi điều
kiện trên (Cv 10. 1. 2-5) và như vậy bà được thọ giới làm
Tỳ-kheo-ni đầu tiên của Giáo hội Phật giáo (Cv 10. 2. 2)
Ðức Phật đã không đồng ý thành
lập Giáo Hội Tỳ-kheo-ni; cũng chỉ vì bổn phận đạo lý
buộc ngài hoàn thành ước nguyện của bà kế mẫu mà bỏ
qua lời chối từ ban đầu. Những điều ngài suy nghĩ về
Giáo Hội Tỳ-kheo-ni biểu lộ qua lời ngài nói với tôn giả
Ànanda khi vị này trình ngài việc bà Mahàpajàpati chấp nhận
Bát Kính Pháp:
"Này Ànanda, nếu nữ giới không
được phép xuất gia sống không gia đình trong Pháp và Luật
này, đời Phạm hạnh có thể tồn tại lâu dài, Chánh Pháp
có thể tồn tại một ngàn năm. Nhưng nay vì nữ giới đã
được xuất gia, đời Phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu
dài, và Chánh Pháp sẽ chỉ tồn tại năm trăm năm.
Giống như những gia đình nào
có nhiều phụ nữ và ít nam nhân dễ trở thành mồi ngon cho
bọn đạo tặc cướp tài sản, cũng vậy là Giáo hội có
nữ giới được phép xuất gia.
Giống như một ruộng lúa chín
có bệnh dịch trắng như xương và ruộng mía chín bị bệnh
rỉ sét đỏ phải tàn tạ, cũng vậy là Giáo hội có nữ
giới được phép xuất gia.
Giống như một người xây con
đê làm hồ chứa nước, để cho nước không tràn qua bờ
được, cũng vậy, này Ànanda, ta đã ban hành Bát Kính Pháp
này cho các Tỳ-kheo-ni". (Cv 10.1.6, giản lược, hoặc AN.
4.-6.51)
Song mọi việc đã hóa ra tốt đẹp
hơn bậc Ðạo Sư tiên đoán. Quả thật Hội chúng Tỳ-kheo-ni
đã suy tàn vào thế kỷ mười hai, còn Giáo Pháp và Hội chúng
Tỳ-kheo đã sống lâu hơn nhiều lần khoảng thời gian năm
trăm năm được tiên đoán ấy và vẫn tồn tại vững mạnh
đến ngày nay.