|
|
c
ÐỨC
PHẬT LỊCH SỬ
The Historical Buddha
H.W.
Schumann (1982) M. O' C. Walshe dịch sang Anh ngữ (1989)
Nguyên
Tâm Trần Phương Lan dịch Việt (1997)
Viện
Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Xuất Bản
 |
Chương
IV (tt)
IV.- TINH THẦN CỦA GIÁO HỘI
Theo đúng bản chất Giáo Pháp của
đức Phật, phương diện trực giác dựa trên trí tuệ của
Tăng chúng phải được phát triển. Một giáo lý nhìn nhận
một trong các nguyên nhân khổ đau nằm trong vô minh (avijjà)
tất nhiên phải khuyến cáo dùng minh trí và tuệ giác làm
các phương thuốc trị liệu hợp lý. Vì thế không có gì
đáng ngạc nhiên khi các Tỳ-kheo có trí tuệ cao đều chuyên
tâm tu tập để chứng đắc tri kiến và tuệ giác (paññà),
và hơn hết là tìm cách đạt cứu cánh tối thượng ấy bằng
các phương tiện dựa trên trí tuệ.
Về phương diện khác, đức Phật
đã dạy các đệ tử là khổ đau phát xuất từ tham ái, và
khuyến giáo chư vị đối trị nó bằng cách tự điều phục
bản thân, Giới Luật (sìla), và thiền định. Do vậy,
nhiều Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni đã chuyên tâm tu tập điều thân
và thiền định. Các vị này không cảm thấy có nhu cầu suy
tư lý luận về Pháp cho mình nữa, bởi vì đức Phật đã
hiển lộ mọi sự cần thiết đưa đến giải thoát, cho nên
điều cốt yếu là theo đúng lời giáo huấn của ngài.
Sự cách biệt giữa hai thái độ
này chưa bao giờ lớn đủ để đe dọa sự đoàn kết của
Giáo hội, tuy nhiên nó cũng làm bận lòng Tỳ-kheo Mahà Cunda,
hiền đệ của tôn giả Sàriputta, khiến cho vị ấy phải
quan tâm suy nghĩ. Trong thời kỳ ở tại Sahajàti, vị ấy bảo
rằng điều đáng tiếc là có một số Tỳ-kheo chuyên tâm
về Pháp (Dhamma), nghĩa là nhằm đạt tri kiến tuệ giác
(Dhammayogà bhikkhù) đã chế nhạo các vị chuyên tâm
thiền định (jhàyanti). Ðúng ra, các vị "chuyên tu
trí tuệ" phải tán thán các vị "chuyên tâm thiền định",
là "những vị được an trú vì đã đạt đến Bất Tử
Giới với tự thân" (nghĩa là đã thực chứng Niết-bàn
trước, trong lúc nhập định). Cũng vậy, chư vị "chuyên
thiền định" phải tán thán chư vị "chuyên tuệ quán"
là những người "đủ trí tuệ thể nhập và thấy rõ con
đường thâm diệu đưa đến cứu cánh". (AN 6. 46)
Như vậy Tôn giả Cunda xác nhận, các vị tuệ quán
và các vị hành thiền hỗ trợ lẫn nhau, không ai có lý do
gì để tự cao hơn vị kia cả.
Giáo hội càng phát triển đông
đúc, số người gia nhập vì lý tưởng tu tập nội tâm càng
ít hơn số người xem đó là một cách sinh nhai và bảo trợ
mình. Những sự tai hại do các Tỳ-kheo hiểu sai lạc Giáo
Pháp như Tỳ-kheo Arittha (MN 22. 1) và Sàti (MN 38. 2) còn tương
đối nhẹ. Chỉ cần bậc Ðạo Sư cho chư vị vài lời khiển
trách, hoặc trong các trường hợp như Tỳ-kheo Arittha bướng
bỉnh khó dạy, thì Tăng chúng xử phạt họ.
Vấn đề khó giải quyết hơn đối
với các nhân vật cá biệt như Tỳ-kheo Ujjhànasañ ñ in, người
liên tục chỉ trích các vị đồng Phạm hạnh, hoặc Tỳ-kheo
Udàyin phạm Giới Luật vì đã tự khoe mình đạt tri kiến
mà chính vị ấy chưa chứng đắc, hoặc Tỳ-kheo-ni Candakàlì
hay gây sự. Tỳ-kheo-ni Thullanandà cũng đáng được nêu ra
đây. Tỳ-kheo-ni này là vị thuyết Pháp có biện tài, nhưng
tính phóng dật và hay bày mưu tính kế, tự cao tự đại và
cũng ưa chuộng cả nam giới nữa. Các đức tánh tích cực
của vị này khiến Ðại vương Pasenadi cũng như một số Tỳ-kheo-ni
trẻ hơn cảm phục, lại càng làm cho vị ấy nổi bật lên
như một tấm gương xấu về Giới Luật.
Mối đe dọa thực sự đối với
sự đoàn kết Giáo hội phát xuất từ các Tăng chúng địa
phương, như Tăng chúng ở Kosambì, bị các tranh chấp chia rẽ,
hay do các Tỳ-kheo tụ tập với nhau để thành lập các tiểu
giảng đường với ý định huấn luyện các Tỳ-kheo trẻ
theo quan điểm riêng của mình. Tại Kìtàgiri (giữa Sàvatthi
và Àlavi), chính các Tỳ-kheo Assaji và Punabbasu, tại Sàvatthi,
chính các vị Panduka và Lohitaka, và tại Ràjagaha, chính các
vị Mettiya và Bhumaja đã cố ngầm làm hại Giới Luật (Vinaya)
theo cách này. Vì lo sợ sẽ bị trừng trị theo Giới Luật,
cuối cùng hai phần tử ly khai tích cực nhất là Assaji và
Punabbasu rời bỏ Giáo hội mới làm dịu được tình hình
căng thẳng ấy.
Việc thuyết Pháp cho các Tỳ-kheo
trẻ với các quan niệm sai lạc cũng là phương pháp của Tỳ-kheo
Devadatta, người muốn chia rẽ Giáo hội và đặt mình vào
vị trí lãnh đạo một phần Tăng chúng.
Có trường hợp một nhóm Tỳ-kheo
tự gây tai họa cho mình do phản ứng quá đà và tâm thần
tán loạn. Ðức Phật đã dạy chư Tỳ-kheo tại Vesàli về
sự bất tịnh của thân cùng khuyến giáo chư vị quán thân
vô thường và bất tịnh. Sau đó ngài nhập thất để độc
cư thiền định. Khi ngài trở lại, ngài kinh ngạc khi thấy
số Tăng chúng địa phương ấy giảm sút. Tỳ-kheo Ànanda giải
thích: nhiều Tỳ-kheo quá chán ngán bản thân sau khi đức Phật
giảng Pháp, nên đã tự kết liễu đời mình!
Ðức Phật lập tức triệu tập
một buổi họp chư Tăng và đề nghị chư vị thay đổi phương
pháp bằng cách thực hành niệm hơi thở (SN 54. 9). Một câu
chuyện tương tự (Sv 3. 1) thậm chí còn nói đến một "giả
Sa-môn" tên là Migalandika có biệt tài chặt đứt đầu
những kẻ muốn tự sát!
Tự sát đi ngược lại giáo lý
đức Phật trong hai phương diện. Ngài tin chắc rằng ước
vọng tự hủy diệt tiềm ẩn dưới hành vi tự sát tất yếu
cản trở người ấy đạt đến giải thoát, vì giải thoát
tức là ly dục. Hơn nữa, tự sát là bỏ mất một cơ hội
may mắn vì tái sanh làm người thật hiếm có (MN 129. 19); và
chỉ loài người mới có đầy đủ sức mạnh tinh thần và
đạo đức để nhanh chóng thành tựu giải thoát khổ đau.
Một kiểu tự sát duy nhất có thể biện minh được là trường
hợp một vị A-la-hán, người đã nhiếp phục tham, sân, si
và sẽ không còn tái sanh, và vị ấy đang phải chịu đựng
một căn bệnh nan y. Kinh Ðiển Pàli nhắc đến ba trường
hợp như vậy của các Tỳ-kheo Godhika, Vakkali và Channa.
Phương cách đức Phật khéo léo
hàng phục các mưu toan nổi loạn và đi lạc vào tà đạo
chứng tỏ tài năng tuyệt diệu của ngài trong việc hướng
dẫn nhân loại. Ðồng thời, chúng ta cũng phải công nhận
ý thức chân chánh của Giáo hội, trong ấy đa số đều thành
tâm tầm cầu giải thoát khổ đau và không cho phép mình đi
lệch khỏi Trung Ðạo vì một vài phần tử bất thiện lạc
lõng.
Ta có thể tìm được vài ấn tượng
sâu sắc về bầu không khí trong lành buổi sơ khai Giáo hội
qua Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragàthà) và Trưởng
Lão Ni Kệ (Therigàthà). Nhiệt tình tu tập mà đức
Phật đã khơi dậy trong lòng các đệ tử, niềm lạc quan
về Giáo hội nguyên thủy trên con đường cứu khổ, niềm
hân hoan về thực chứng tâm linh và niềm duyệt hỷ về giải
thoát - tất cả mọi tâm trạng ấy đều được ghi lại rất
linh động ở đây.
Có 264 bài thi kệ với 1279 vần
thơ, do Tăng chúng sáng tác và 73 bài kệ với 522 vần thơ
của các Tỳ-kheo-ni, mỗi bài đều được xem là do một vị
có nêu danh tánh trong Giáo hội tự làm. Không ai có thể xác
nhận tất cả thi kệ ấy đều thực sự thuộc về tác giả
mà các bài kệ mang tên, hoặc tất cả đều phát xuất từ
thời đức Phật. Tuy nhiên, chúng chứng tỏ rằng các Tăng
Ni ấy tràn đầy hỷ lạc đến độ chư vị cảm thấy cần
phải diễn tả tâm trạng chứng đắc thắng trí (aññà)
qua các giai điệu trữ tình đầy thi vị kia. Các bản dịch
Anh ngữ này không cố gắng phổ thành thơ theo hình thức thi
kệ Pàli, mà chỉ diễn tả nội dung theo từng dòng chữ.
Người bị dằn vặt giữa cuộc
sống gia đình và đời sống du hành khất sĩ là Tỳ-kheo Jenta,
một vương tử. Chính nhận thức được tính vô thường của
vạn vật cuối cùng đã giúp vị ấy quyết định chọn đời
Tỳ-kheo:
Khó thay đời xuất gia,
Khó thay sống không nhà,
Uyên thâm là Phật Pháp,
Tài sản khó tìm ra.
Chọn một trong hai lối,
Thật nan giải cho ta,
Vậy phải luôn ghi nhớ:
Tính vô thường đâu xa!
(Thag 111)
Là những người chuyên tâm tầm cầu
giải thoát, một số Tỳ kheo khinh thường những đệ tử
tại gia mà chư vị cho là bị dục tham ràng buộc vào đời
thế tục. Ðiều này biểu lộ qua hai vần thơ của Tỳ-kheo
Isidinna:
Ta biết rõ một số người
thế tục
Vẫn tán dương Phật Pháp, nói
lên rằng:
"Các niềm vui thế tục thật
vô thường".
Song lòng đắm mê ngọc vàng
châu báu,
Trí ràng buộc vì thê nhi đông
đảo.
Họ biết đâu thâm diệu Pháp
vô lường,
Khi bảo rằng mọi hỷ lạc vô
thường,
Họ vẫn thiếu trong tâm nguồn
nghị lực
Ðể chặt đứt hoàn toàn bao
tham dục,
Nên vợ con, vàng bạc buộc ràng
thân.
(Thag 187-8)
Các khúc đạo ca của chư vị Tỳ-kheo
và Tỳ-kheo-ni dành thật nhiều vần thơ diễn tả chủ đề
"sự đổi thay từ đời sống thế tục đến đời sống
trong Giáo hội". Ðó là sự từ giã cả hai phương diện
ngoại giới lẫn nội tâm: thoát ly đời sống nghề nghiệp
và gia đình, đồng thời phủ nhận luôn thế giới trong luân
hồi sanh tử (Samsàra). Tỳ-kheo Sumangala gốc ở Sàvatthi
thấy được ích lợi lớn nhất của đời Tỳ-kheo là giải
thoát khỏi công việc đồng áng nhọc nhằn đau lưng mỏi
cổ. Vị ấy không tự xưng mình đến gần cứu cánh giải
thoát khổ đau, mà chỉ thúc giục mình nỗ lực tinh cần nhiều
hơn nữa:
Tự do, ta được thoát
ra,
Tự do, giải thoát khỏi ba vật
này:
Cong cong, lưỡi hái, cán cày,
Bao phen xới đất cả ngày còng
lưng!
Lao công nô dịch nhọc nhằn,
Dẫu đang còn đó, ta luôn nhủ
lời:
"Thôi thôi, thế đã đủ rồi!
Từ nay thiền định cả đời
Su-mân!
Chuyên tâm, tỉnh giác, tinh cần,
Chuyên tâm, tỉnh giác, tinh cần,
Su-mân!
(Thag 43)
Cũng được giải thoát khỏi ba "vật
cong cong" khác nhờ gia nhập Giáo đoàn là Tỳ-kheo-ni Muttà,
một thiếu nữ bị đem gả cho một Bà-la-môn gù lưng. Ngoài
sự giải thoát khỏi cuộc hôn nhân và việc nội trợ tề
gia, đặc biệt là việc giã ớt thành bột, nàng còn được
giải thoát sanh tử:
Tự do, ta được thoát
ra,
Tự do, giải thoát khỏi ba vật
này:
Cong cong, cái cối, cái chày,
Cùng phu quân của ta đây lưng
gù!
Thoát ly sanh tử, tự do,
Xả buông bao mối buộc ta vào
đời.
(Thìg 11)
Vần kệ của Tỳ-kheo-ni Sanghà là
một khúc hoan ca chiến thắng vì được giải thoát khỏi tham
ái và vô minh. Bài thi kệ nhỏ này là một bằng cớ nữa
cho thấy các Tăng Ni được phép diễn tả niềm giải thoát
qua thi kệ:
Ta giã từ nhà, sống xuất
gia,
Bỏ con, thân thuộc, đám trâu
bò,
Ta đà giải thoát tham, sân hận,
Cùng với vô minh cũng quẳng
xa.|
Khi nhổ dục tham cho tận gốc,
Niết-bàn an tịnh đến tâm ta.
(Thìg 18)
Tỳ-kheo Suràdha cũng diễn tả niềm
vui giải thoát của mình:
Ðoạn tận từ nay gốc
tái sanh,
Lời khuyên Thắng Giả đã viên
thành.
Ta đà ném bỏ xa "màng lưới",
Trừ diệt sanh y đối với mình.
Cứu cánh làm ta phải bước
ra,
Xuất gia, theo nếp sống không
nhà,
Cuối cùng mục đích ta thành
đạt,
Triền phược ta tiêu hủy bấy
giờ.
(Thag 135-6)
Chúng ta bắt gặp âm điệu chiến
thắng tương tự trong hàng chục bài kệ và cảm hứng ngữ
khác của Kinh Tạng Pàli. Ðiều này thật dễ hiểu, vì cái
gì còn có thể đè nặng lên một người đã cắt bỏ mọi
mối ràng buộc trong xã hội và tâm trí, người không thiếu
thốn gì cả vì không mong cầu gì cả, người tin tưởng rằng
dù việc gì xảy ra chăng nữa cũng không ảnh hưởng đến
"mình"? Bất cứ kẻ nào giữ quan điểm như vậy cũng
không thể bị việc gì làm xúc động và có lý do chính đáng
để xem cảnh sống ấy của mình là hạnh phúc.
Sự tương phản giữa cuộc sống
trong Giáo hội và "một thời vang bóng" xa xưa thường
thường làm số Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni nhớ lại quãng đời
trước kia giữa thế tục. Vì vậy nhóm kệ "trước và
sau" khi xuất gia trong hai tuyển tập thi kệ này của Tăng
chúng và Ni chúng thật đặc biệt phong phú. Trong ví dụ điển
hình sau đây, cô gái lầu xanh Vimala nhớ lại đời quá khứ
của mình. Theo cách nàng diễn tả, có lẽ nàng không phải
là một trong những kỹ nữ giàu sang, có học thức ở kinh
đô, mà chỉ là một gái giang hồ tầm thường giữa đường
phố:
Ngày xưa, kiêu mạn bởi
da ngà,
Dung sắc diễm kiều, danh tiếng
ta,
Tưởng tuổi xuân không hề giảm
sút,
Thật ta mê muội, quá ngây thơ.
Châu báu trang hoàng cả tấm
thân,
Ðiểm tô, mê hoặc đám nam nhân,
Ðợi chờ bên cửa lầu xanh
ấy,
Ðặt bẫy tìm mồi, giống thợ
săn.
Ta khoe mình giắt ngọc, cài vàng,
Trơ trẽn phô bày thân hở hang,
Làm đủ mọi mưu toan quyến
rũ,
Ta thường cười nhạo lắm ngu
nhân!
Nay trọc đầu, y phủ tấm thân,
Sống nhờ khất thực, bước
lên đường,
Khi ngồi dưới một gốc cây
nọ,
Ta đạt định tâm, thọ tưởng
ngừng.
Mọi dây ràng buộc cả thiên,
nhân,
Ta chặt đứt xong, giải thoát
thân,
Lậu hoặc nhiễm ô đều diệt
tận,
Tâm ta an tịnh, đạt thanh lương.
(Thìg 72-6)
Tỳ-kheo-ni Vimalà nhớ lại quãng đời
đứng đường cũ với nỗi thích thú như vậy khiến người
nghe các vần kệ của vị này có thể hoài nghi về sự đoạn
tận lậu hoặc (àsava) ấy. Có lẽ ý tưởng được
bảo đảm cho tuổi già ít ra cũng chiếm một phần nào trong
ước nguyện xuất gia của vị này.
Song gây xúc động hơn và có vẻ
đáng tin hơn là lời tự thuật của chính chàng trai quét đường
Sunìta ở thành Ràjagaha trước kia, người được đức Phật
giải thoát ra khỏi cuộc đời khốn cùng bằng cách thu nhận
vào Tăng đoàn. Cũng như nhiều người đồng thời, Sunìta
cảm phục sâu sắc trước nhân cách và lòng từ bi của đức
Phật, nên đã xem ngài như một vị cứu tinh nhân loại:
Vốn sinh gia tộc thật
bần hàn,
Khốn khó, ta thường chẳng đủ
ăn,
Số phận dành cho nghề hạ tiện,
Nên ta phải quét đám hoa tàn.
Ta thường bị kẻ khác khinh
khi,
Ðối xử tệ tàn, với chán
chê,
Ta mất hết luôn lòng tự tín,
Cúi đầu tuân lệnh mọi người
kia.
Rồi một ngày, ta gặp Phật-đà,
Vây quanh hộ tống bởi Tăng-già,
Ðại Hùng lúc ấy đang
đi đến
Vương Xá, thủ đô Ma-kiệt-đà.
Ðòn gánh vội quăng, tiến lại
gần,
Cúi đầu đảnh lễ thật nghiêm
trang.
Bỗng nhiên đứng lại vì từ
mẫn,
Ðối với ta, ngài Tối Thượng
Nhân.
Quỳ dưới đôi chân bậc Ðạo
Sư,
Bên ngài, ta đứng, khẩn cầu
thưa:
"Xin Người Tối Thượng trên
trần thế
Chấp nhận con rày được xuất
gia".
Ðạo Sư từ mẫn đủ bao trùm
Thương xót ta, cùng khắp thế
gian,
"Hãy đến, Tỳ-kheo!" ngài dạy
bảo,
Thế là thọ giới, nhập Tăng
đoàn.
Từ đó độc cư, ở giữa rừng,
Không hề giải đãi, thật tinh
cần,
Chuyên tâm tu tập lời Sư phụ,
Bậc Thắng Giả khuyên nhủ phải
làm.
Rồi vào canh nhất một đêm
qua,
Ta nhớ nhiều đời sống thuở
xưa,
Canh giữa dần trôi, Thiên nhãn
trí
Ta thanh tịnh hóa tự bao giờ,
Và vào canh cuối đêm hôm ấy
Ta xé màn si ám thoát ra.
(Thag 620-27)
Trong bốn đoạn kệ nữa (có lẽ không
đích thực của Sunìta), vị ấy tả cảnh khi mặt trời ló
dạng, Thiên Chủ Indra và Phạm Thiên đến đảnh lễ vị ấy,
nay là bậc A-la-hán, và đức Phật tuyên bố chính nhờ giữ
giới hạnh nghiêm minh và điều phục thân tâm mà con người
trở thành một Bà-la-môn chân chánh, chứ không phải do nguồn
gốc sinh trưởng:
Lúc đêm vừa hết, mặt
trời lên,
Thiên chủ Indra với Phạm
Thiên,
Cùng đến bên ta, và đảnh lễ
Tôn vinh ta, vội chắp tay tiên:
"Chúc mừng ngài, hỡi bậc Cao
Tăng,
Kính lễ ngài, đây bậc tuyệt
trần,
Lậu hoặc của ngài đều đoạn
tận,
Cúng dường xứng đáng với
tôn nhân".
Khi nhìn Thiên chúng đến bên
ta,
Ðảnh lễ tôn vinh, bậc Ðạo
Sư
Liền mỉm miệng cười và dạy
bảo:
"Ðiều thân, Phạm hạnh, với
đầu đà
Nhờ đây, người trở thành
thanh tịnh,
Tối thượng La-môn quả
thật là !"
(Thag 628-31)
Tỳ-kheo Nàgasamàla diễn tả sự Giác
Ngộ qua một bài thi kệ. Một cơ hội gặp gỡ tình cờ đã
làm động lực khiến vị ấy trở thành một bậc A-la-hán:
Rực rỡ xiêm y, ngọc
điểm trang,
Vòng hoa sực nức phấn chiên-đàn,
Ðứng kia, đường cái trong làng
nọ,
Vũ nữ múa theo khúc nhạc vang.
Khất thực ta đi tận xóm làng,
Bước qua, chợt thấy bóng cô
nàng,
Xiêm y lộng lẫy đang giăng bẫy,
Như của Ma vương, chính tử
thần.
Thấy vầy, sanh khởi ở trong
ta
Quán sát thâm trầm bản chất
kia,
Hiểm họa dục tham vừa hiển
lộ,
Ta liền chán ngán cõi Ta-bà.
Do vậy, ly tham, giải thoát tâm,
Hãy nhìn chân lý Pháp cao thâm!
Tam Minh lúc ấy ta vừa đạt,
Thành tựu vuông tròn Pháp thượng
nhân.
(Thag 267-70)
Vì Trưởng Lão Tăng Kệ và Trưởng
Lão Ni Kệ là những bài đạo ca có mục đích gợi cảm xúc
cho người nghe để tìm Chánh Ðạo đưa đến đoạn tận khổ
đau, cho nên chủ đề ở đây là chính con người và ít nhắc
đến thiên nhiên. Tuy thế, ta cũng thường nghe nói về các
cơn mưa lớn hằng năm buộc các Tỳ-kheo phải dựng lều cho
mình hoặc ẩn dật trong một tinh xá cố định để an cư
mùa mưa. Nỗi lòng mong đợi mùa mưa bắt đầu được Tỳ-kheo
Subhùti nêu lên thành thi kệ, vị này là em trai đại phú thương
Ànathapindika. Túp lều nhỏ vị ấy dựng xong đã sẵn sàng
và chính nội tâm vị ấy thật kiên cố. Vị ấy bèn bạo
dạn thách thức thần mưa Parjanya (trong Vệ-đà) mở
các cổng nhà trời trút nước xuống:
Lều ta be bé, vui thay,
Mái lều khéo lợp, mưa ngay,
xin ngài,
Tâm ta định tĩnh, thảnh thơi,
Tinh cần giữ vững, nhờ trời
mưa cho !
(Thag 1)
Tất cả các bài kệ được trích
dẫn trên đều ở ngôi "ta", chứ không có bài nào ở
ngôi "chúng ta" cả, đây chính là đặc điểm trong thái
độ căn bản của Giáo hội đức Phật. Vì mỗi người phải
nỗ lực giải thoát tự thân, nên đạo Phật cốt yếu dành
cho cá nhân mỗi người. Tăng chúng không phải là một cộng
đồng sùng bái thần linh hay một giáo đoàn chuyên môn tế
lễ, mà là một tập hợp các cá nhân trong đó mỗi người
tự đi tìm cho phần mình cứu cánh giải thoát chung của mọi
người bằng những phương pháp giống nhau. Khi đức Phật
nhấn mạnh nhiều như trên về tình thân hữu giữa các Tỳ-kheo
(SN 3. 08) , chắc chắn lý do là để ngăn cản chư
vị khỏi cô lập mình vì quá hướng nội.
Như vậy, tinh thần tập thể chiếm
địa vị thứ yếu trong Giáo hội, sau chủ trương tự lực
cá nhân. Tuy nhiên, tinh thần ấy từ trước đến nay vẫn
hiện hữu. Nó được biểu lộ qua bài kệ sau đây của Tỳ-kheo
Kimbila. Vốn sinh trưởng trong bộ tộc Sakiya tại quê nhà của
đức Phật ở Kapilavatthu, Tỳ-kheo Kimbila dùng từ ngữ "các
Thích tử" để chỉ tất cả các đệ tử được thọ
giới của đức Phật, theo hai nghĩa:
Ðông Trúc Lâm, đây chúng
ta an trú,
Các Sa-môn Thích tử sống tương
thân,
Xưa giã từ bao của cải kim
ngân,
Nay tri túc phần ăn bình khất
thực.
Với kiên tâm, tinh cần, đầy
nghị lực,
Ðồng tiến lên mục đích quyết
không lùi,
Ðồng kính yêu Giáo Pháp, chính
niềm vui,
Bao lạc thú trần gian nguyền
dứt bỏ.
(Thag 155-56)
Mặc dù mỗi Tỳ-kheo phải tự chứng
đạt cho phần mình sự điều phục tham, sân, si, mọi Tỳ-kheo
đều là huynh đệ, là "Sa-môn Thích tử". Các nỗ lực
kề vai sát cánh của chư vị kết hợp thành mối dây thân
hữu và tin cậy lẫn nhau trong Giáo hội.
GIÁO HỘI VÀ
GIỚI ÐỆ TỬ TẠI GIA XÉT VỀ PHƯƠNG DIỆN XÃ HỘI HỌC
Ðối với một Tỳ-kheo, sự gia
nhập Tăng đoàn hủy bỏ mọi phân biệt giai cấp cũng như
mọi con sông mất hết danh tánh khi đổ vào biển cả (AN 8.
19)* . Vì vậy, ta có thể nghĩ rằng đặc
biệt các giai cấp tiện dân và vô loại khốn cùng sẽ lợi
dụng việc thọ giới xuất gia để thoát khỏi hoàn cảnh
hạn hẹp của mình và Giáo hội sẽ trở thành ngôi nhà cứu
tế cho những người có vị trí hèn kém trong xã hội. Song
chuyện ấy lại không xảy ra ở trường hợp này: Giáo
hội đức Phật thu hút những giai cấp cao trong xã hội hơn
là các giai cấp thấp.
Kinh Ðiển Pàli nêu danh tánh 457
nhân vật lịch sử, những người đồng thời đức Phật,
tự xưng mình là tín đồ Phật Pháp: 291 Tỳ-kheo, 61 Tỳ-kheo-ni,
74 nam cư sĩ và 31 nữ cư sĩ. Chúng ta không thể xác định
được giai cấp của tất cả các trường hợp ấy. Trường
hợp 92 Tỳ-kheo và 22 Tỳ-kheo-ni có nguồn gốc xã hội không
rõ ràng, do vậy họ không thể được đưa ra để phân tích
về phương diện xã hội học. Số tu sĩ còn lại được phân
theo các giai cấp khác nhau như được nêu trong Bản số 2.
Vì tùy thuộc vào nhiều hoàn cảnh
tình cờ khác nhau mà danh tánh một vị nào đó có được
lưu trữ trong Kinh Tạng Pàli hay không, nên ta không thể quá
xem trọng con số tuyệt đối chính xác về các Tỳ-kheo và
Tỳ-kheo-ni thời ấy. Nhưng tỷ lệ các giai cấp của cả Tăng
chúng và Ni chúng lại rất có ý nghĩa, cho thấy giai cấp
Bà-la-môn chiếm đa số. Giai cấp của những người đã
từng được dạy dỗ theo một mối quan tâm đặc biệt về
các vấn đề tôn giáo cũng chiếm phần lớn nhất trong sự
công nhận Phật Pháp, dù giáo lý này đi ngược quyền lợi
của các Bà-la-môn chuyên nghiệp tế lễ để sinh
sống. Giới Bà-la-môn là những người được chuẩn bị đầy
đủ kiến thức nhất để tán thán tính cách tân kỳ của
Phật Pháp và sẵn sàng nhất để từ giã gia đình xuất gia
theo Phật Pháp. Một danh sách trong Kinh Ðiển liệt kê "Các
Ðệ Tử Xuất Chúng" (AN 1. 14) nói đến 41 vị Tỳ-kheo
lỗi lạc; 17 vị trong đó (tức 41,5%) có gốc Bà-la-môn. Một
kết quả tương tự cũng tìm được từ 259 Tỳ-kheo có thi
kệ ghi lại trong Theragàthà (Trưởng Lão Tăng Kệ), 113 vị
trong ấy (tức 44%) có gốc Bà-la-môn. Tuy nhiên, tỷ lệ số
Tỳ-kheo-ni gốc Bà-la-môn lại khá thấp.
| |
TỲ-KHEO |
TỲ-KHEO-NI |
| |
số |
% |
số |
% |
| Bà-la-môn
Sát-đế-lỵ
Vệ-xá
Chiên-đà-la
Thủ-đà |
96
57
27
13
6 |
48,2
28,6
13,5
6,6
3,1 |
15
13
10
12
- |
38,4
33,2
25,8
2,6
0 |
| Tổng
cọng: |
199 |
100 |
39 |
100 |
Trong khi các Khattiyas (Sát-đế-lỵ:
võ tướng, quý tộc) và Vessas (Vệ-xá: thương nhân,
đại phú) chiếm địa vị thứ hai và thứ ba trong Giáo hội
như vẫn được mong đợi, ta lại ngạc nhiên vì thấy số
người Candàlas (Chiên-đà-la: vô loại, khốn cùng)
vượt hơn số Suddas (Thủ-đà: thợ thuyền,
nô lệ). Rõ ràng một số người Chiên-đà-la thực sự muốn
tìm cách thoát cảnh bần hàn bất lợi về phương diện xã
hội qua việc xuất gia. Thành phần này gia nhập Giáo đoàn
không nhiều hơn có lẽ vì hai lý do: đặc biệt hạng người
ấy thường hay bị những căn bệnh ngăn cản họ xuất gia
và lại có nỗi lo ngại phải nỗ lực tu tập tâm trí gắn
liền với đời Tỳ-kheo là việc xa lạ đối với họ. Những
người Chiên-đà-la gia nhập Tăng chúng thường gặp khó khăn
khi tìm hiểu Phật Pháp vì họ thiếu học vấn sơ đẳng.
Ðáng chú ý là chính các Tỳ-kheo thuộc nguồn gốc khốn cùng
luôn luôn bị đức Phật khiển trách vì đã hiểu sai lạc
giáo lý. Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là các nguồn gốc
khiêm tốn thiết yếu gây trở ngại cho giải thoát, vì việc
tu tập bản thân không đòi hỏi các khả năng học vấn theo
hình thức bề ngoài.
Nhóm người ít nhất trong số các
vị xuất gia là giới Suddas (Thủ-đà). Ðiều này có
các lý do đặc biệt. Các vị Thủ-đà có tài nghệ tay chân
khéo léo, nên thường được kêu gọi đi lao động cưỡng
bách cho nhà vua (ràjakariya) và cho xã hội nhiều hơn
các hạng kia trong các công tác chuyên nghiệp như đào giếng,
xây đập và dựng các công thự. Ðể duy trì công việc lao
động chuyên nghiệp này, quan chức nhà vua thường cản trở
các vị Thủ-đà gia nhập Giáo hội và đôi khi có lẽ đã
ngăn ngừa việc họ "xuất gia" bằng những lời "đe dọa trả
thù" gia đình họ.
Về phần đám người Thủ-đà làm
nô lệ để sinh sống thì họ đã có những phận sự theo
hợp đồng cố định rất khó thoát ra. Hơn nữa, họ còn
mắc nợ chủ nhân vì những số tiền lương trả trước,
và người mắc nợ thuộc về hạng người bị cấm gia nhập
Giáo hội.
Các thống kê về mặt xã hội của
giới tại gia đặt trên một căn bản rất hạn hẹp. Tất
nhiên danh tánh các đệ tử tại gia ít được ghi vào Kinh
Tạng hơn các vị xuất gia, vì vậy ta có các con số quá nhỏ
không thể đánh giá chính xác được. Trong số bảy mươi
bốn (74) nam và ba mươi mốt (31) nữ cư sĩ, những người
đồng thời đức Phật được nhắc đến trong Kinh Ðiển,
ta không biết rõ giai cấp của hai mươi hai (22) nam và mười
lăm (15) nữ. Tỷ lệ các giai cấp của phần còn lại [năm
mươi hai (52) nam và mười sáu (16) nữ] cũng khác nhau, vì vậy
ta cần có hai bản riêng biệt (Bản 3 và 4).
| |
NAM
CƯ SĨ |
|
NỮ
CƯ SĨ |
|
số |
% |
|
số |
% |
| Bà-la-môn
Vệ-xá
Sát-đế-lỵ
Thủ-đà
Chiên-đà-la |
18
15
11
5
3 |
34,5
29
21
9,6
5,9 |
Sát-đế-lỵ
Vệ-xá
Bà-la-môn
Chiên-đà-la
Thủ-đà |
8
3
2
2
1 |
50
18,8
12,5
12,5
6,2 |
| Tổng
cọng: |
52 |
100 |
|
16 |
100 |
Ðiều duy nhất lộ rõ từ các bản
thống kê có căn cứ nhỏ hẹp này là giới Vessa (thương nhân)
được nhiều đại diện vững mạnh giữa các cư sĩ hơn trong
Giáo hội, vừa chiếm vị trí ở đó, không phải thứ ba mà
là thứ hai.
Từ ngàn xưa, giới thương gia đã
quen tìm cách bảo đảm công việc buôn bán thành công phát
đạt qua hình thức yêu cầu cử hành các tế lễ theo Vệ-đà
rất tốn kém, và các Bà-la-môn chuyên nghiệp, các tế sư
thông thạo, thường ra tay bóc lột khai thác nguồn lợi tức
này. Nay Giáo lý đức Phật làm cho họ có thể cầu mong phát
đạt theo cách rẻ tiền hơn. Các thương gia suy xét, nếu phẩm
vật cúng dường các Tỳ-kheo của đức Phật đem lại công
đức phước nghiệp, thì chúng cũng có thể đem lại sự "mua
may bán đắt".
Tầng lớp Vessa vốn là các trái
chủ, do vậy họ có những số tiền cho vay khổng lồ, nên
cũng thấy giáo lý mới này hấp dẫn vì nó không cho phép
đám người mắc nợ được thọ giới xuất gia (Mv 1. 46).
Không giống các đoàn thể Sa-môn khác, Tăng đoàn của đức
Phật không cung cấp nơi trú ẩn cho đám người tìm cách trốn
chủ nợ!
Giới thương gia cũng hài lòng vì
đức Phật có thiện cảm đối với các hoạt động kinh tế,
ngoại trừ các nghề buôn bán vũ khí, nô lệ, súc vật, thịt
sống, rượu nồng và thuốc độc (AN 5. 177). Ngài không truyền
bá việc từ chối tiêu dùng hàng hóa vì mục đích khổ hạnh
có hại cho kinh doanh, nhưng chỉ dạy giữ tiết độ và tự
điều thân. Ngài đã đưa ra những đề nghị hợp lý đối
với người thương gia thực tiễn và đạo đức thương mại.
Trong một số bài thuyết giảng, ngài giải thích cho các Tỳ-kheo
bằng hình thức ảnh dụ rằng chỉ có người thương gia chuyên
cần làm việc sáng, chiều, tối mới có thể trở nên phát
đạt (AN 3. 19). Một thương gia cần có con mắt tinh tế, nghĩa
là kiến thức về hàng hóa và thị trường, trí thông minh
lúc mua bán và năng lực gây niềm tin vững chắc, vì vậy
các nhà tài chánh sẽ sẵn sàng cho vay tiền lấy lãi để
có vốn đầu tư thêm nữa (AN 3. 20). Cách sử dụng tài sản
hợp lý nhất là chia làm bốn, dùng một phần tư để sinh
sống, một nửa để đầu tư kinh doanh và một phần tư để
dành (DN 31. 26).
Vai trò giới thương nhân trong sự
công nhận và truyền bá đạo Phật từ trước đến nay chưa
được xét đến. Hơn ai hết, các thương gia là giới đệ
tử giàu tiền, có khả năng cúng dường các tinh xá, đồng
thời họ là số người du hành nhiều, nên chính họ truyền
bá kiến thức Phật Pháp vào các miền xa xôi. Chính nhờ
phương tiện vận chuyển bằng xe bò thô sơ của các đoàn
thương mãi lữ hành xa xưa mà giáo lý đức Phật đã tìm
đường đi khắp bốn phương trời.
Các thương gia là nhóm có thế lực
nhất trong các đệ tử cư sĩ ủng hộ đạo Phật, nhưng không
phải là đông nhất. Giới tại gia phát xuất từ mọi tầng
lớp xã hội, vì tất cả đều rất cảm phục bậc Ðạo
Sư có biệt tài hùng biện vừa là bậc Hiền triết sâu sắc.
Cách thuyết giảng của ngài còn lôi cuốn họ vì nó không
đem lại cảm tưởng giới tại gia là các Phật tử thứ yếu.
Do các mối liên hệ xã hội, người đệ tử tại gia (upàsaka)
thấy khó đạt sự buông xả nội tâm và Giải thoát khổ
đau hơn người xuất gia, nhưng vị ấy vẫn có thể thực
hiện được điều này. Kinh Ðiển Pàli (AN 6. 19-39) liệt kê
danh sách hai mươi mốt (21) vị gia chủ trở thành A-la-hán
mà chưa hề làm Tỳ-kheo bao giờ cả. Danh sách ấy không đầy
đủ các vị nam A-la-hán cũng không bao gồm các nữ cư sĩ
thành tựu cứu cánh này. Trong giáo lý đức Phật, phụ nữ
được xem có cùng khả năng giải thoát như nam giới. Vì thế
không có gì đáng ngạc nhiên khi Giáo hội nhận được sự
ủng hộ nhiệt tình như vậy từ các nữ đệ tử.
Thật cũng đáng cho ta điều tra
số phần trăm dân chúng ở vùng "Trung Nguyên" được cảm
hóa theo đạo Phật trong thời ngài tại thế. Ðáng tiếc là
Kinh Ðiển Pàli không cung cấp đủ chứng cớ để giải đáp
vấn đề này. Chỉ do đọc Kinh Ðiển, ta có cảm tưởng là
giới Phật tử gồm khoảng từ 15 đến 20% dân chúng trong
nước và vào khoảng 2 đến 3% của số ấy là Tỳ-kheo và
Tỳ-kheo-ni, chứ không rõ sự thực đích xác.
ÐỨC PHẬT
VÀ HỆ THỐNG GIAI CẤP
Một số sách trước đây đã ca
ngợi đức Phật như một nhà cải cách xã hội chống lại
hệ thống giai cấp cùng với các bất công của nó. Song cách
diễn tả ngài như vậy có được chứng minh không?
Ðức Phật chắc chắn không chấp
nhận lời xác định của các Bà-la-môn rằng họ được sinh
ra từ miệng của Phạm Thiên (Rv 10. 91. 12). Ngài nêu cho Sa-di
Vasettha biết, khắp nơi ai cũng thấy phụ nữ Bà-la-môn có
thai hoặc cho con bú, do vậy rõ ràng những người thuộc giai
cấp này được sinh ra đời theo cách bình thường (DN 27. 3-4)
. Trong lúc nói điều ấy, dĩ nhiên ngài lờ đi sự
thật là huyền thoại kia nhằm giải thích nguồn gốc của
giai cấp Bà-la-môn, chứ không phải chỉ từng đứa trẻ Bà-la-môn
riêng biệt.
Song cho dù ngài bác bỏ nguồn gốc
thiêng liêng của người Bà-la-môn, và như thế tức là bác
bỏ luôn toàn bộ hệ thống giai cấp, ngài vẫn tin rằng hệ
thống giai cấp ấy phát xuất từ cơ chế hoạt động của
toàn thế giới này. Các giai cấp được tạo điều kiện
thành hình do quy luật tự nhiên về tái sanh và hạnh nghiệp,
theo quy luật ấy các hành động cố ý quyết định tính chất
của đời sống trong kiếp sau:
"Các loài hữu tình vừa là chủ
nhân của nghiệp (kamma), vừa thừa kế nghiệp, nghiệp là
thai tạng từ đó họ sinh ra, họ là quyến thuộc của nghiệp,
vừa cư trú trong nghiệp của mình. Nghiệp phân chia các loài
hữu tình thành các hạng hạ liệt và ưu thắng" (tức
là các hình thái tái sinh và các giai cấp cao thấp). (MN 135.
3)
Sự bất bình đẳng giai cấp là
kết quả nghiệp quá khứ; mỗi người đều tạo được vị
trí xã hội riêng do nghiệp. Theo quan điểm của đức Phật
về thế giới, nổi dậy chống lại hệ thống giai cấp là
điều vô nghĩa cũng như vô ích.
Ngoài ra, dân chúng ở vùng "Trung
Nguyên" không cảm thấy hệ thống giai cấp quá đè nặng lên
cuộc sống. Các giai cấp chính (vanna) và các tiểu giai
cấp (jàti) họp thành một tôn ti trật tử về địa
vị và nghề nghiệp phát xuất từ sự phân chia sức lao động
trong đó giới trí thức - vì lý do lịch sử phần lớn đều
là lớp hậu sinh của những đám ngoại xâm gốc Indo-Aryan
da trắng - chiếm các địa vị cao. Hệ thống giai cấp tập
họp quần chúng lại theo cách sinh nhai và giáo dục, ví dụ
một bé trai được mong chờ sẽ nối nghiệp cha và về sau
sẽ kết hôn với người trong giai cấp mình. Song không ai bị
bắt buộc phải nối nghiệp cha hoặc chấp nhận mối hôn
nhân cùng bộ tộc cả.
Những thành phần trong hai giai cấp
thấp kém (Vệ-xá và Thủ-đà) cũng không phải là không thể
vươn cao trong xã hội. Bất kỳ ai tạo được tài sản hay
thế lực chính trị đều có thể vượt lên khỏi nguồn gốc
của mình và được công nhận, nếu không phải cho mình thì
ít ra cũng cho con cháu mình, làm thành phần của giai cấp hoặc
tiểu giai cấp cao hơn. Thời đức Phật còn quá xa sự khắt
khe mà hệ thống giai cấp mang nặng vào thời Trung Cổ của
Ấn Ðộ giáo, và cũng còn xa cách đối xử độc ác tàn nhẫn
với những người làm công việc dơ bẩn bị đuổi ra khỏi
xã hội như những kẻ "không thể tiếp xúc được".
Giữa bốn giai cấp, các Sát-đế-lỵ
(võ tướng, quý tộc) thuộc giai cấp cao nhất, còn cao hơn
các Bà-la-môn, sự kiện ấy được đức Phật và hầu hết
dân chúng vùng "Trung Nguyên" xem là vấn đề dĩ nhiên. Thậm
chí nhiều Bà-la-môn cũng không ngần ngại thừa nhận các
Sát-đế-lỵ là tầng lớp cao nhất, mặc dù cuộc tranh chấp
dành ưu thế tối cao giữa các tầng lớp này đã bắt đầu
và đã tiến về miền Tây với thắng lợi của các Bà-la-môn.
Một đặc điểm trong thời kỳ chuyển tiếp là thanh niên
Bà-la-môn Ambattha, khi nói với đức Phật, đã đề cập tôn
ti trật tự các giai cấp từ trên xuống dưới là: Sát-đế-lỵ,
Bà-la-môn, Vệ-xá, Thủ-đà, nhưng rồi ngay sau đó, lại
xác nhận rằng cả ba giai cấp kia ra đời cốt để phục
vụ các Bà-la-môn (DN 3. 1. 15)..
Cách người Bà-la-môn nhìn mình
ra sao xuất hiện rõ ràng trong lời nói của Sa-di Vàsettha gốc
Bà-la-môn, vị này kể lại với đức Phật về những lời
lăng mạ mà vị ấy phải chịu đựng khi gia nhập Tăng-già:
"Các Bà-la-môn bảo: ‘Giai cấp Bà-la-môn là cao nhất ...
chỉ riêng Bà-la-môn là da trắng, mọi người khác đều da
đen. Chỉ một Bà-la-môn có thể thành thanh tịnh, các người
khác không thể. Chỉ các Bà-la-môn là con của Phạm Thiên...’".(DN
27. 3)
Một trong các lý luận mà các Bà-la-môn
cố dùng để tạo thành kiến cho các người đồng đẳng
cấp chống đối Sa-môn Gotama là ngài công nhận sự thanh
tịnh của cả bốn giai cấp. (MN 93. 2)
Ðức Phật phản bác không phải
chính hệ thống giai cấp trong bản chất của nó, mà là thái
độ giả tạo trong tâm con người trước những thành phần
thuộc giai cấp khác. Ngài chống đối sự kiêu mạn của các
Bà-la-môn và quan niệm cho rằng sự tùy thuộc vào giai cấp
có liên hệ với giá trị nhân cách của mỗi người. Hàng
chục lần ngài nhấn mạnh là những sự phân biệt giữa mọi
người trong xã hội không phát xuất từ sự khác nhau nào
trên căn bản nhân cách. Tất cả bốn giai cấp đều có khả
năng giải thoát khổ đau, cũng như từ bốn ngọn lửa có
các loại nhiên liệu củi gỗ khác nhau vẫn bùng lên bốn
ngọn lửa giống nhau (MN 90. 24). Bất kể ở giai cấp nào,
tất cả mọi người đều phải đọa địa ngục vì ác nghiệp
của mình. Cũng vậy, tất cả đều có khả năng phát triển
phước nghiệp và từ tâm (MN 93. 10).
Một biện pháp khôn ngoan của đức
Phật là chống đối sự kiêu mạn về nguồn gốc sinh trưởng
của giai cấp Bà-la-môn, đồng thời lại tỏ ra kính trọng
tinh thần cao quý của giai cấp Bà-la-môn bằng cách chuyển
ý nghĩa từ "Bà-la-môn" thành một quan niệm đạo đức. Ngài
tuyên bố rằng một con người là Bà-la-môn không phải do
nguồn gốc sinh trưởng, mà do cách xử thế đáng kính và
phẩm hạnh đạo đức. Dù con người thuộc giai cấp nào đi
nữa, bất cứ ai đã tu tập sự điều thân cần thiết đều
xứng danh Bà-la-môn.
Có lần ngài thấy một số Tỳ-kheo
trưởng thượng xuất thân từ giai cấp Sát-đế-lỵ đến
gần, ngài gọi: "Hãy đến đây, các Bà-la-môn!" và khi
nghe một Tỳ-kheo đứng đó có gốc Bà-la-môn hỏi ý nghĩa,
ngài đáp:
Diệt trừ mọi ác pháp,
Thánh đạo bước tinh cần,
Tỉnh giác, ly triền phược,
Ðấy chính Bà-la-môn.
(Ud 1. 5)
[LINKS][PHẬT
GIÁO THẾ GIỚI][NHẠC
PHẬT GIÁO][PHÁP THOẠI][CHÙA
VIỆT NAM]
E-MAIL:
banbientap@thuvienhoasen.org
|