Phẩm
2
PHƯƠNG
TIỆN
Được gọi
là cốt lõi của Tích môn, phẩm quan trọng này là mấu chốt
của giáo pháp của đức Phật trong nửa đầu của bộ kinh
Pháp Hoa. Nhan đề tiếng Nhật của phẩm này là “Hòben”
(Phương tiện), một từ ghép gồm hai chữ, hò (phương) và
ben (tiện). Hò nguyên nghĩa là “vuông” nhưng có khi nghĩa
là “đúng”. Ben nghĩa là “phương pháp” hay “phương tiện”.
Do đó, hòben nghĩa là “phương pháp đúng” hay “phương
tiện đúng”. Tục ngữ Nhật Bản có câu Uso mo hòben(một
lời nói dối có thể thích hợp), lối hiểu từ này đã bị
lệch với ý nghĩa thực sự của nó, thật là đáng tiếc.
Từ hòben vốn là nhằm trỏ một ý niệm, “một phương pháp
soi sáng áp dụng thích hợp cho người hay cho trường hợp”.
Nếu chúng ta không nhớ cái nghĩa gốc của nó thì chúng ta
không thể hiểu chương này một cách đúng đắn được.
Khi ngài Văn-thù
báo trước rằng “Trong lần thuyết giảng cuối cùng, chắc
chắn đức Phật sẽ giảng về vô thượng Bồ-đề mà Ngài
đã đạt được” thì tất cả hội chúng đều náo nức
chờ đức Phật mở đầu bài thuyết giảng. Bấy giờ đức
Thế Tôn lặng lẽ và sáng suốt xuất định và hỏi ngài
Xá-lợi-phất: “Vì chư Phật có thể nhập vào trạng thái
chân thực của mọi sự vật, trí tuệ của chư vị rất thâm
sâu và vô lượng. Môn trí tuệ của chư vị thì khó hiểu
và khó nhập, hàng Thanh văn và Bích chi không thể lĩnh hội
được. Vì sao ? Vì chư Phật đã từng thân thiết với vô
số chư Phật mà thực hành trọn vẹn Pháp vô lượng của
hết thảy chư Phật một cách dõng mãnh và nhiệt tâm, đã
thăng tiến và nổi danh khắp chốn.
“Vì chư
Phật đã thành tựu Pháp thâm sâu, chưa từng có nên những
ai không tu tập Pháp này một cách thâm sâu thì không thể
hiểu được ý nghĩa của Pháp này. Chư Phật cũng đã thuyết
giảng Pháp này bằng nhiều cách khác nhau khi có cơ hội thuận
tiện; người nghe rất khó hiểu ý định thực sự của chư
Phật và rất khó hiểu chư vị thuyết giảng như thế là
nhằm mục đích gì.
“Này Xá-lợi-phất
! Từ khi Ta thành Phật, bằng nhiều lập luận, nhiều thí
dụ, Ta đã thuyết giảng rộng rãi, và bằng vô số phương
tiện thiện xảo khiến chúng sanh xa lìa những ý niệm vị
ngã [mọi thủ chấp]. Vì sao ? Vì Như Lai viên mãn toàn hảo
trong phương pháp dẫn đạo chúng sanh, trong sự thiện xảo
và năng lực của Ngài để nêu rõ trạng thái thực sự của
mọi sự vật [pàramità, ba-la-mật hay sự toàn hảo của trí
tuệ].
“Xá-lợi-phất
! Trí tuệ của Như Lai thì rộng lớn, sâu xa; Như Lai có thể
thấy rõ hết thảy từ quá khứ vô lượng đến vị lai vô
lượng. Ngài có bốn tâm lớn sau đây (Tứ vô lượng tâm)
mà một người bình thường không thể nào tưởng tượng
được: đức từ vô lượng [mong muốn rằng đời mình làm
cho những người khác hạnh phúc], đức bi vô lượng [mong
muốn rằng công hạnh của mình gỡ bỏ nỗi khổ đau của
những người khác], đức hỷ vô lượng [niềm vui khi thấy
người khác được hạnh phúc] và đức xả vô lượng [cái
tâm từ bỏ cả ý niệm trả thù vì bị người khác gây hại
lẫn thủ chấp vào sự đền bù cho hành vi tốt của mình].
Tri kiến của Ngài không bị chướng ngại; năng lực, sự
vô úy, Thiền định, giải thoát, tam muội của Ngài khiến
Ngài nhập vào các cảnh giới vô biên và thành tựu hết thảy
các Pháp chưa từng có”.
“Xá-lợi-phất
! Như Lai có thể phân biệt những người nghe, có thể giảng
pháp một cách khéo léo cho từng người, dùng lời nhu hòa
và khích lệ mọi người. Xá-lợi Phất ! Nói một cách cơ
bản, đức Phật đã thành tựu trọn vẹn Pháp vô lượng,
vô biên và chưa từng có.”
BA LẦN THỈNH
HỎI VÀ BA LẦN TỪ CHỐI:
Bấy giờ
bỗng nhiên đức Thế Tôn yên lặng. Một lát sau, Ngài lại
nói: “Thôi đủ rồi, Xá-lợi-phất, không cần nói nữa.
Vì sao ? Vì Pháp mà đức Phật đã thành tựu là Pháp
chủ yếu chưa từng có và khó hiểu. Chỉ có Phật cùng với
Phật mới thấu hiểu chân tướng của tất cả các Pháp,
tức là mọi hiện hữu có hình thái như thế (như thị tướng),
bản tính như thế (như thị tính), biểu hiện như thế (như
thị thể), năng lực như thế (như thị lực), hành tác như
thế (như thị tác), nguyên nhân như thế (như thị nhân), duyên
cớ như thế (như thị duyên), kết quả như thế (như thị
quả) báo đáp như thế (như thị báo) và toàn bộ nền tảng
rốt ráo như thế (như thị bổn mạt cứu cánh)”.
Mười phạm
trù này được gọi là học thuyết Thập Như thị (jù-nyoze)
vì chúng gồm mười thuật ngữ đằng trước có từ “như
thị”. Học thuyết Thập Như thị là chân lý áp dụng cho
tất cả mọi sự vật trong vũ trụ,; và khái niệm “Ba Ngàn
(Thế giới) trong Một Niệm” (ichinen sanzen; Nhứt niệm tam
thiên) khởi từ học thuyết này chính nó là chân lý được
đức Phật thuyết dạy. Nhưng khi mà đức Phật Thích-ca-mâu-ni
do dự trình bày học thuyết này thì đối với chúng ta, sự
giảng giải đầy đủ về giáo lý này ở đây có thể gây
nhầm lẫn hơn là soi sáng người đọc. Do đó, học thuyết
này sẽ được giải thích đầy đủ sau (các trang 243-248)
Bấy giờ,
Thế Tôn muốn trùng tuyên giáo lý này, đọc phần sau đây
bằng kệ: “Trí tuệ của đức Phật thì vô lượng. Đấy
không phải là một trí tuệ mà Ta dễ dàng đạt được bằng
sự học nhanh chóng mà là cái trí tuệ mà sau cùng Ta sở đắc
sau khi đã theo vô số chư Phật trong thời xa xưa và đã đi
trọn những con đường chân chánh. Nói một cách khác, đấy
là trí tuệ tối thượng mà Ta đã có thể đạt được bằng
tu tập tâm thức không ngừng.
“Không thể
theo ai mà lường biết được trí tuệ của đức Phật - Những
người được gọi là người có trí nhất trong nhiều người
khác, những vị Bích chi đã đạt ngộ bằng kinh nghiệm của
chính mình, những vị Bồ-tát mới phát nguyện sẽ đạt ngộ
như đức Phật cùng lúc với mọi người, và những vị Bồ-tát
đã thăng tiến nhiều trong tu tập đến nỗi không còn thối
thất.
“Giờ đây
Ta đã hoàn toàn đạt Pháp thâm sâu và vi diệu như hết thảy
chư Phật trong vũ trụ. Dù chư Phật này thuyết giảng nhiều
giáo pháp khác nhau nhưng căn bản của các giáo pháp ấy vẫn
giống nhau. Các giáo pháp của chư Phật luôn luôn chỉ gồm
một chân lý căn bản dù cho lời của chư Phật có khác nhau
đi nữa. Ông phải nhớ sự việc này, những cách thức khác
nhau để diễn tả chân lý căn bản này, tức là những sức
phương tiện của đức Phật, thì rất quan trọng và rất
quý giá. Để giải thoát những người sơ học tìm chứng
ngộ khỏi những huyễn hoặc, khổ đau trong đời sống hàng
ngày, Ta đã dùng giáo pháp Tam thừa: Thanh văn thừa, Duyên
giác thừa và Bồ-tát thừa. Đấy là nhằm nêu tỏ sự lớn
lao của sức phương tiện của đứcPhật”.
Nghe đức
Phật thuyết giảng như thế, mọi người đang có mặt trong
đại chúng đều tự hỏi tại sao đức Thế Tôn bây giờ
lại ca tụng nhiều lần phương tiện thiện xảo như vậy.
Mọi người đều nghĩ: “Bấy lâu nay đức Phật dạy chúng
ta giải thoát bằng giáo lý nêu rằng mọi hiện tượng trên
thế giới luôn luôn thay đổi, và cuối cùng chúng ta đã đạt
được trạng thái tâm thức như thế sau khi nỗ lực tối
đa để tu tập. Thế mà giờ đây đức Phật lại dạy rằng
những ai ở trong trạng thái tâm thức như thế thì không thể
hiểu được trí tuệ của đức Phật. Chúng ta không thể
hiểu được thực nghĩa của lời Ngài dạy”. Do đó mọi
người đều bị bối rối.
Bấy giờ
ngài Xá-lợi-phất biết được mối nghi trong tâm của những
người đang hiện diện trong đại chúng và chính ngài cũng
không nắm chắc ý nghĩa của lời đức Phật dạy nên bạch
đức Phật: “Bạch Thế Tôn, nguyên nhân nào, lý do nào khiến
Thế Tôn nhiệt liệt ca ngợi phương pháp thiện xảo tối
thượng và diệu pháp thâm sâu, khó hiểu của chư Phật ?
Trước đây con chưa từng nghe đức Phật có bài thuyết giảng
nào như thế. Bây giờ hết thảy đại chúng đều nghi ngờ.
Xin Thế Tôn giải thích sự việc này”.
Thế rồi
ngài Xá-lợi-phất muốn nhấn mạnh điều ngài đã bạch,
đã nói lại điều ấy bằng kệ. Nhưng đức Phật bảo ngài
Xá-lợi-phất: “Thôi đủ rồi, thôi đủ rồi, không cần
gì phải nói nữa. Nếu Ta giảng về điều này thì hết thảy
mọi cõi trời và người sẽ hoảng hốt, rối rắm và nhụt
chí tu tập. Ta không giảng thì tốt hơn”.
Ngài Xá-lợi-phất
hết sức nôn nóng được biết chân lý và không ngại thỉnh
đức Phật thuyết giảng. Ngài lại bạch Phật:
“Bạch Thế
Tôn, xin Ngài giải thích điều ấy ! Xin Ngài giải thích điều
ấy ! Vì sao ? Vì trong hội chúng này có rất nhiều chúng sinh
đã từng thấy chư Phật, nhận thức của chư vị rất sắc
bén và trí tuệ của chư vị rất sáng suốt. Nếu họ nghe
đức Phật dạy, họ sẽ kính cẩn tin theo và tu tập”.
Đức Phật
lại dạy: “Thôi đủ rồi, Xá-lợi-phất ! Nếu Ta giảng
vấn đề này thì những kẻ kiêu mạn sẽ nghi ngờ về nó
và có thể cười nhạo rằng họ không thể tin theo được”.
Ngài xá-lợi-phất
vẫn kiên trì, một lần nữa, lại thỉnh cầu đức Phật
như trên. Đức Phật chăm chú nhìn ngài Xá-lợi-phất một
lát. Thế rồi đức Phật gật đầu thỏa ý, Ngài hỏi
Xá-lợi-phất: “Xá-lợi-phất! Vì Ông đã ba lần ân cần
hỏi, làm sao Ta có thể từ chối mà không nói được ? Ta
sẽ phân tích và giảng giải cho Ông. Bây giờ Ông hãy chăm
chú lắng nghe, suy nghĩ và ghi nhớ !”
NĂM NGÀN
NGƯỜI RỜI BỎ HỘI CHÚNG:
Sau khi đức
Thế Tôn dạy như thế, khoảng năm ngàn Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni,
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di trong hội chúng liền đứng dậy khỏi
chỗ ngồi, cúi lễ đức Phật và rút lui. Đấy là vì gốc
tội trong những người này quá sâu và tính kiêu mạn của
họ quá lớn đến nỗi họ tưởng rằng họ đã đạt điều
mà họ chưa đạt, đã chứng điều mà họ chưa chứng. Vì
lầm tưởng như thế nên họ không ở lại.
Đức Thế
Tôn yên lặng và không can ngăn họ. Đấy là vì Ngài nghĩ
rằng dù Ngài có ép họ ở lại, họ cũng không thể hiểu
giáo pháp của Ngài và có thể tạo kết quả xấu nghịch.
Ngài cũng xét thấy rằng trong tương lai sẽ có lúc họ mong
cầu một giáo pháp chân thực và sẽ phát triển khả năng
đúng lúc để hiểu giáo pháp ấy. Việc Ngài sẽ giảng pháp
cho họ vào lúc ấy sẽ là con đường nhanh nhất để cứu
độ họ.
Thoạt nhìn,
thái độ của đức Phật có vẻ như tỏ ra thờ ơ với những
người khác, nhưng thâm tâm Ngài tràn đầy đại trí tuệ,
đại từ bi của đức Phật. Điều này lại càng rõ ở tình
tiết nêu ở phẩm 8: “Năm trăm đệ tử được thọ ký”
(Ngũ bách đệ tử thọ ký): khi Ngài bảo trước cho rất nhiều
vị A-la-hán rằng các vị sẽ thành Phật tùy theo sự tu tập
của mình, Ngài bảo cùng ngài Ca-diếp (Kà'syapa): “Hàng Thanh
văn kia cũng sẽ như họ. Đối với những người không
ở trong hội chúng này, Ông hãy tuyên thuyết lời Ta cho họ”.
Lời của đức Phật “những người không ở trong hội chúng
này” trỏ vào năm trăm vị Tỳ-kheo đã đứng dậy khỏi
chỗ ngồi và rời bỏ hội chúng trước. Sự việc Ngài chủ
ý không ngăn cản họ lúc ấy chứng tỏ năng lực lớn lao
của Ngài về phương tiện thiện xảo.
Khi các Tỳ-kheo
kiêu mạn đã ra đi và chỉ những người tinh cần cầu tìm
chân lý ở lại trong hội chúng, đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất:
“Người ta nói hoa ưu-đàm (udumbara) trong ba ngàn năm mới
được nhìn thấy một lần. Diệu pháp mà Ta đang giảng cho
Ông cũng hiếm được nghe cũng như hiếm được trông thấy
hoa ưu-đàm nở. Hết thảy chư Phật chỉ thuyết giảng khi
xét thấy đúng thời. Hết thảy các Ông đã gặp được cơ
hội rất tốt. Này Xá-lợi-phất, tất cả các Ông hãy tin
Ta; trong giáo lý của đức Phật, không có lời nào là sai
lạc. Bây giờ hãy lắng nghe giáo lý của Ta.
“Đức Phật
giảng pháp bằng vô số phương tiện thiện xảo với nhiều
lập luận, nhiều thí dụ khác nhau. Không thể hiểu rõ mục
đích việc thuyết pháp này được. Thực tế là chư Phật,
Thế Tôn xuất hiện ở thế gian chỉ nhằm để thuyết giảng
một đại sự nhân duyên. Đại sự nhân duyên ấy là gì ?
Đấy chỉ là vì chư Phật muốn khiến người ta hiểu đấy
là mục đích mà họ sống - tức là, Phật-tri kiến. Nếu
mọi người hiểu được thì sẽ thành Phật và sẽ có thể
đạt hạnh phúc chân thật.
“Để đạt
được mục đích này, hết thảy chúng sanh trước hết phải
hiểu rằng tất cả họ đều có Phật tính. Khi họ hiểu
được rằng họ có bản tính như bản tính của đức Phật
thì họ sẽ từ bỏ những tư tưởng ích kỷ nhỏ nhen và
sẽ có tâm thanh tịnh. Chư Phật xuất hiện ở đời vì muốn
khai mở cho hết thảy chúng sinh thấy Phật-tri kiến. Đối
với những ai hiểu được Phật-tri kiến, chư Phật muốn
chỉ cho họ mà nêu rõ thế giới là gì trong mắt của đức
Phật và trong trí của Ngài. Sau khi đã hiểu được thực
tướng của thế giới, nếu họ có Phật-tri kiến, họ sẽ
nhận ra rằng thế giới này là một cõi tịch lặng, bình
an, không có khổ đau. Chư Phật xuất hiện ở đời vì muốn
khiến tất cả chúng sanh ngộ Phật-tri kiến. Nhưng các chúng
sanh tự nhiên không thể đạt được trạng thái tâm thức
như thế. Đấy là một trạng thái tâm thức mà họ chỉ có
thể đạt được khi họ nỗ lực tinh cần tu tập. Chư Phật
xuất hiện ở đời vì muốn tất cả chúng sanh nhập vào
con đường của Phật-tri kiến.
“Bằng phương
tiện thiện xảo để khai mở cho tất cả các chúng sanh thấy
Phật-tri kiến, tỏ rõ Phật-tri kiến cho họ, để họ thông
hiểu Phật-tri kiến và để họ nhập vào con đường của
Phật-tri kiến; chư Phật muốn tất cả các chúng sinh đạt
được Phật-tri kiến và chư vị dạy rằng người ta phải
thực sự hiểu mục đích mà người ta sống. Chư Phật chỉ
nhằm độc nhất cái mục đích lớn lao này mà xuất hiện
ở đời”.
MỘT VỊ
PHẬT CHỈ DẠY CHO CHƯ BỒ-TÁT:
Sau khi thuyết
giảng như thế, đức Phật nghiêm giọng nói với ngài Xá-lợi-phất:
“Đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa cho các vị Bồ-tát mà
thôi”.
Chúng ta có
thể hiểu câu ấy là: “Đức Phật chỉ dạy cho các vị
Bồ-tát mà thôi, do đó hàng Thanh văn và Duyên giác không phải
là các đệ tử thực sự của đức Phật”. Chúng ta cũng
có thể nghĩ rằng câu này có phần mâu thuẫn với lời đức
Phật đã dạy: “Chư Phật xuất hiện ở đời để khiến
hết thảy các chúng sanh thể hội chân lý”. Tuy nhiên, khi
xét kỹ ý nghĩa những lời dạy của Ngài, chúng ta hiểu ra
rằng chúng luôn luôn phù hợp nhau.
Trong các
giáo lý của đức Phật có nhiều giáo lý có vẻ mâu thuẫn
nhau. Nhiều giáo lý hình như mâu thuẫn nhau cũng được tìm
thấy trong kinh Pháp Hoa. Tuy nhiên, đức Phật không bao giờ
nêu những khẳng định mâu thuẫn trong các giáo lý của Ngài.
Ngài chỉ nói thẳng chứ không quanh co. Do có cái nhìn hẹp
hòi về những lời của Ngài nên chúng ta không thể đoán
được những lời ấy ẩn chứa ý nghĩa lớn lao nào và do
đó chúng ta nghĩ rằng chúng chứa đựng những mâu thuẫn.
Khi hiểu các lời Ngài một cách hạn hẹp, chúng ta sẽ bị
nhầm lẫn và nghĩ rằng “Ta không thể hiểu được các giáo
lý của đức Phật” hoặc “không thể liên kết các giáo
lý của Ngài được vì chúng bất nhất”.
Chúng ta phải
đọc các kinh một cách thâm sâu. Những ai gặp khó khăn như
trên cần phải đọc đi đọc lại các kinh, thế rồi họ
sẽ có thể hiểu được phần nào ý nghĩa thực sự của
các kinh. Nếu họ vẫn không hiểu được kinh thì họ cần
phải nhờ một vị có trình độ cao giảng cho. Họ cần
phải hiểu rằng thật là rất sai lầm khi nghĩ rằng “Ta
chẳng quan tâm gì đến các giáo lý của đức Phật vì chúng
có nhiều mâu thuẫn”. Chúng ta phải quyết thọ trì kinh Pháp
Hoa.
Dù cho kinh
có vẻ khó đến nỗi chúng ta không hiểu được, bằng sự
kiên trì, chúng ta sẽ thực sự hiểu được kinh khi nào chúng
ta nỗ lực trì kinh.
Ý nghĩa thực
sự của lời Phật dạy “chư Phật chỉ giáo hóa các vị
Bồ-tát” cần được diễn dịch như sau:
“Hễ chừng
nào bạn nghĩ rằng bạn có thể đạt ngộ cho riêng bạn là
đủ thì bạn không thể đạt sự chứng ngộ chân thực. Nếu
bạn cảm thấy chính bạn đạt ngộ dù nhiều người khác
chưa đạt thì sự cảm nhận ấy là một bằng chứng rõ ràng
rằng bạn vẫn xa cách với người khác. Cảm nhận như thế
không phải là một sự hài hòa với kẻ khác. Bạn không thể
nhập vào trạng thái "chư pháp vô ngã" vì sự cảm nhận vị
ngã của bạn vẫn còn. Do đó sự chứng ngộ của bạn
là không thực. Một người có thể đạt ngộ cho riêng mình,
và vì thế, tất cả những người khác cũng có thể làm như
thế. Một người có thể được giải thoát khỏi sự khổ
đau của riêng mình, và đồng thời, tất cả những người
khác có thể được giải thoát khỏi sự khổ đau của họ.
Sự giải thoát của bạn cùng với sự giải thoát của những
người khác là sự giải thoát thực sự của bạn - ngay vào
lúc bạn hiểu điều này, bạn được gọi là đã đạt ngộ
thực sự và được tự tại khỏi những ràng buộc của ảo
tưởng và khổ đau trong đời”.
Thật vậy,
bước đầu tiên của chúng ta hướng về giác ngộ tạo nên
một sự khác biệt quyết định cho đời sống của chúng
ta. Trong trường hợp của nhà toán học Yòichi Yoshida
được nêu trong lời mở đầu sách, khi còn là một cậu bé,
ông nhận thấy rằng một không thể chia chẵn cho ba bằng
toán thập phân. Dù cách hiệu quả để tính phân số “một
phần ba” đã có từ lâu, ông vẫn không biết được nó
trước khi ông học về phân số. Nhưng ông đã có thể nắm
được nó ngay khi ông học được rằng các phân số là một
cách xem xét các con số.
Chúng ta có
thể nói như thế về sự đạt ngộ. Hễ khi nào một người,
dù là bậc Đại trí như ngài Xá-lợi-phất, mà chỉ muốn
đạt ngộ cho riêng mình, muốn được cứu độ chỉ vì mình,
thì người ấy vẫn không thể vượt qua cái hố sâu ngăn
cách sự chứng ngộ của người ấy với sự chứng ngộ của
đức Phật, dù cho người ấy sắp đạt được sự chứng
ngộ của đức Phật. Tuy nhiên, người ấy có thể nhảy qua
hố sâu vào lúc người ấy hiểu rằng sự giải thoát thực
sự chính là sự giải thoát của chính mình cùng với sự
giải thoát của tất cả những người khác.
Đấy là
ý nghĩa thực sự của lời Phật dạy “chư Phật chỉ giáo
hóa cho các vị Bồ-tát”. Ngài nói điều này để giải thích
rằng chỉ có các vị Bồ-tát, những người tu tập cứu độ
cho hết thảy chúng sanh mới có thể nắm được giáo lý chân
thực của đức Phật.
CHỈ CÓ MỘT
PHẬT THỪA
Nếu hàng
Thanh văn và Duyên giác nảy sinh ý định tu Bồ-tát đạo thì
khi ấy họ trở thành các đệ tử thực sự của đức Phật.
Đức Phật không phải không biết họ, nhưng Ngài nói những
gì Ngài làm để đưa họ đến Phật-tri kiến thực sự. Bằng
cớ là, kế đó đức Phật nói với Ngài Xá-lợi-phất như
sau: “Này Xá-lợi-phất, bằng phương tiện Một Phật thừa,
Như Lai thuyết Pháp cho tất cả chúng sanh; không có thừa nào
khác nữa, không có thừa thứ hai, cũng không có thừa thứ
ba”.
Một thừa
(Nhất thừa) nghĩa là: Tất cả mọi người đều có thể
thành Phật. Sự chứng ngộ mà hàng Thanh văn, Duyên giác cũng
như Bồ-tát đạt được là một mà nhờ đó các vị thành
Phật, và từ căn bản nó vẫn như thế. Có người có thể
đạt sự chứng ngộ của Thanh văn, có người có thể đạt
sự chứng ngộ của Duyên giác. Cả hai khía cạnh chứng ngộ
đều là những cánh cổng đưa đến Phật-tri kiến.
Điều này
được giải thích bằng ẩn dụ như sau: một người đã vào
cổng này chỉ có thể vào được ngôi phòng trong của Phật-tri
kiến nếu người ấy trước hết phải bước hành lang cửa
của việc tu Bồ-tát đạo. Đồng thời, không thể bảo rằng
cả cổng và hành lang đều không gồm trong trú xứ của đức
Phật. Tuy nhiên, nếu một người dừng lại ở cổng, người
ấy sẽ bị ướt sũng khi trời mưa và sẽ bị lạnh cóng
khi trời tuyết. “Tất cả các ông hãy vào phòng trong của
Phật-tri kiến. Cổng Đông, cổng Tây và hành lang, tất cả
đều là những lối vào dẫn đến phòng trong của Phật-tri
kiến”. Đây là ý nghĩa của lời Phật dạy “Ngoài Một
Phật thừa, không có thừa thứ hai, cũng không có thừa thứ
ba. Do sức phương tiện mà ta nêu là có hai thừa ấy.
Chỉ có
một cứu cánh chân thực cho tất cả”.
Nếu chúng
ta nắm được ý nghĩa chân thực này của lời đức Phật
dạy thì chúng ta sẽ tự nhiên hiểu được ý nghĩa của phần
sau của phẩm 2. Nay chỉ giải thích những điểm chính gồm
một số từ ngữ khó có thể gây nhầm lẫn.
Như trước
đây đã nêu, chư Phật xuất hiện ở đời chỉ nhằm một
mục đích rất lớn là khiến tất cả chúng sinh đạt được
Phật-tri kiến; nói một cách khác, chỉ nhằm khiến chúng
sanh đạt ngộ, hiểu rằng họ có thể thành Phật. Sự thật
là giáo lý của đức Phật chỉ là một, nhưng vì hết thảy
chúng sanh trong đời ác ngũ trược tham lam và xa rời đức
Phật nên chư Phật, bằng sức phương tiện, do Một Phật
thừa mà biện biệt, tỏ bày ba thừa Thanh văn, Duyên giác
và Bồ-tát.
Tất cả
các chúng sanh đều có nhiều loại tham dục bắt rễ thâm
sâu trong tâm. Dù cho những ảo tưởng của con người có vẻ
như đã được tẩy gỡ khỏi ý thức, chúng vẫn còn trong
tiềm thức và sẽ khởi lên lại do sức mạnh của tập quán
cố hữu mà được cung cấp các hoàn cảnh thuận hợp. Thuật
ngữ Phật học trỏ hiện tượng này là jikke, nghĩa là những
hạt giống bẩm sinh mà chúng ta có bên trong chúng ta. Ví dụ,
chúng ta bỗng cảm thấy giận dỗi khi có ai đó sỉ nhục
chúng ta, dù chúng ta đã quyết không bao giờ nóng nảy và
đã nghĩ rằng chúng ta đã rất bình tỉnh. Điều này xảy
ra do bởi những tham dục đã bắt rễ thâm sâu. Chừng nào
chúng ta chưa tẩy gỡ chúng khỏi tiềm thức của chúng ta
thì vẫn chưa thể bảo rằng chúng ta thực sự được thoát
khỏi những ràng buộc của ảo tưởng và khổ đau.
Tiềm thức
có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của thể chất theo như
y học đã chứng tỏ. Sự việc này giờ đây được các nhà
tâm lý và các bác sĩ công nhận, vốn đã được đức Phật
Thích-ca-mâu-ni xác chứng từ hai mươi lăm thế kỷ rồi.
ĐỜI ÁC
NGŨ TRƯỢC:
Đức Phật
nói với ngài Xá-lợi-phất: “Chư Phật xuất hiện ở thế
gian trong đời ác của năm thứ ô trược (sự vẩn đục)
(1) tức năm sự suy tàn - suy tàn về kiếp (kiếp trược),
sự suy tàn do phiền não (phiền não trược), sự suy tàn của
tất cả chúng sanh (chúng sinh trược), sự suy tàn của kiến
giải (kiến trược) và sự suy tàn của thọ mạng (mạng trược)”.
Sự suy tàn
của kiếp (kalpa), sự suy tàn thứ nhất trong năm sự suy tàn
là sự suy tàn xảy ra do bởi một khoảng thời gian rất lâu.
Khi nguyên trạng được duy trì suốt một giai đoạn lâu dài
thì nhiều thứ ác khởi lên, giống như sự xơ cứng động
mạch gây ảnh hưởng phiền phức cho sức khỏe thể chất.
Vì thế, đôi khi thế giới cần vào trong một kỷ nguyên mới
để phục hồi sức khỏe của nó.
Sự suy tàn
do phiền não nghĩa là con người hành động mù quáng do những
ảo tưởng của họ. Đây là lý do tại sao những hành động
tội ác càng lúc càng gia tăng.
Sự suy tàn
của tất cả chúng sanh nhằm trỏ đến những mâu thuẫn sinh
khởi do những khác biệt bên ngoài của bản tính người ta.
Tranh cãi xảy ra giữa người ta và có thể đưa đến rối
rắm trong gia đình và trong xã hội nói chung vì người ta không
nhận ra rằng tất cả mọi người đều được thấm nhuần
bằng một sinh lực lớn lao, do đó họ tập trung vào những
khác biệt bên ngoài và mỗi người khẳng định cái ngã của
chính mình.
Sự suy tàn
của các kiến giải trỏ những xung đột chung khởi lên do
các quan điểm khác biệt nhau. Mọi sự đi ngược với người
ta vì ai cũng thủ chấp một quan điểm hẹp hòi do các mục
đích vị kỷ của chính mình. Nhưng nếu tất cả đều theo
một lối nhìn đúng đắn về các sự vật như giáo lý của
đức Phật trỏ bày thì tự nhiên một thế giới hòa bình
không có tranh chấp sẽ thể hiện.
Sự suy tàn
của thọ mạng nghĩa là tình hình khó khăn của thế giới
được tạo thành do vì đời người ngắn ngủi, người ta
tìm kiếm kết quả và lợi lạc tức thời từ ý nghĩ và
sự hành xử, và người ta trở nên lo âu về những thứ lặt
vặt. Nếu người ta chỉ cần nhận thức được cái sự thật
về cuộc sống vĩnh cửu của con người thì chắc chắn người
ta sẽ thoát khỏi những khổ đau của mình.
Trong đời
ác ngũ trược như thế, tất cả mọi chúng sinh bị quá ràng
buộc vào những ảo tưởng của mình, khó có thể hiểu được
giáo lý tối thượng khi giáo lý này được giảng trực tiếp
cho họ. Do đó, chư Phật dần dần đưa mọi chúng sinh đến
giác ngộ bằng sức phương tiện chia giáo lý làm ba thừa:
Thanh văn thừa, theo đó người ta nghe giáo lý của đức Phật
và gỡ bỏ các ảo tưởng khỏi tâm thức mình; Duyên giác
thừa, theo đó người ta không thỏa mãn việc nghe giáo lý
của đức Phật, mà thể hiện chân lý cho mình bằng kinh nghiệm
của chính mình; và Bồ-tát thừa, theo đó người ta được
giải thoát và trở thành một vị Bồ-tát là kết quả của
việc tu đạo giải thoát những người khác. Khi tất cả các
chúng sanh hiểu rằng việc phân chia ba thừa này phát xuất
từ sức phương tiện của chư Phật thì phương tiện thiện
xảo của chư Phật tự nó sẽ trở thành một con đường
lớn dẫn đến chân lý.
Tất cả
chúng sanh đều có thể vào Phật đạo từ bất cứ mặt nào:
từ việc thờ kính Xá-lợi Phật, từ việc xây tháp xây đài,
từ việc xây chùa xây đền thờ Phật ở nơi hoang vắng,
hoặc cả từ việc vun cát giả làm tháp Phật. Tất cả chúng
sanh đều có thể vào Phật đạo từ việc làm bất cứ điều
thiện nào. Khi họ không ngừng nỗ lực tu sửa đức hạnh
và phát triển đại tâm từ bi thì cuối cùng họ sẽ thành
Phật.
Những nhóm
từ của đức Phật mà chúng ta phải đặc biệt cẩn thận
để hiểu đúng ở đây là: “Ta báo trước rằng những người
như thế này / Trong đời sau sẽ thành tựu Phật đạo”.
Chúng ta cần đặc biệt chú ý đến từ “đời sau”. Đây
không có nghĩa là“sau khi chết” mà là “một lúc nào đó
trong tương lai, khi người ta dần dần tinh tiến, từng bước
một”.
Kinh Pháp
Hoa dạy chúng ta rằng khi người ta đạt ngộ, người ta trở
thành một vị Phật ngay và thế giới này lập tức trở thành
cõi Tịnh quang. Kinh cũng dạy chúng ta rằng không phải chúng
ta chỉ có thể đến thiên đường khi chúng ta chết mà dạy
rằng đức Phật ở trong tâm chúng ta là thiên đường hiện
hữu trong đời sống hằng ngày của chúng ta.
Trong đoạn
kệ cuối của phẩm 2, chúng ta đọc thấy các dòng sau đây:
chư Phật không bao giờ do bởi một chiếc xe nhỏ (Tiểu thừa)
/ Cứu độ tất cả các chúng sanh”. Những dòng này thường
bị hiểu lầm là: “Cuối cùng, chư Phật không bao giờ cứu
độ tất cả các chúng sanh do bởi một chiếc xe nhỏ (Tiểu
thừa)”. Một số người cho rằng như thế là không phù hợp
với lòng từ bi của đức Phật. Tuy nhiên, ý nghĩa thực sự
của nhóm từ này là: “Chư Phật không thể cứu độ tất
cả các chúng sanh rốt ráo do bởi chỉ một chiếc xe nhỏ
mà thôi”. Tức là, chư Phật cứu độ tất cả các chúng
sanh đến một mức độ nào đó dù do bởi một chiếc xe nhỏ,
nhưng chỉ do bởi chiếc xe ấy mà thôi thì chư Phật không
thể dẫn họ đến giải thoát tối hậu, tức là, sự giải
thoát tối thượng.
Đức Phật
kết thúc phần giảng ở phẩm 2 bằng những lời mạnh mẽ:
“Này Xá-lợi-phất, nên biết rằng Pháp của chư Phật là:
bằng vô
số phương tiện, chư Phật thuyết pháp tùy theo hoàn cảnh.
Điều chủ yếu là không ngừng học hành và tu tập pháp trong
đời sống hàng ngày. Những ai không làm như thế thì
không thể hiểu trọn vẹn cái mục đích độc nhất lớn
lao, rằng chư Phật thuyết Pháp cho tất cả các chúng sinh
theo từng cấp độ và cuối cùng khiến họ đạt được cùng
một trạng thái với chư Phật. Nhưng các Ông đã biết được
những phương tiện thiện xảo của chư Phật. Nếu thế thì
các Ông không còn nghi ngờ nữa và tâm các Ông rất vui mừng,
và các Ông cũng có thể tự hiểu rằng các Ông sẽ thành
Phật”.