Phẩm
19
PHÁP
SƯ CÔNG ĐỨC
Phẩm trước
đây đã tỏ rõ về công đức của một kẻ sơ học, người
vừa đi vào giáo pháp. Phẩm này trình bày những công đức
của một người giảng đã lên đến một trình độ cao hơn.
“Pháp sư” không nhất thiết có nghĩa là một vị Tăng hay
Ni mà có nghĩa là bất cứ người nào - bao gồm chư Tăng,
chư Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ - thọ trì Phật pháp và nỗ lực
truyền bá Phật pháp. Những thực hành của một Pháp sư gồm
năm loại (ngũ chủng Pháp sư - goshu hosshi): thọ trì kinh (juji),
đọc (doku) và tụng kinh (ju), thuyết giảng kinh (gesetsu) và
sao chép kinh (thư tả - shosha). Năm loại thực hành này
đã được giảng kỹ ở phẩm 10, “Pháp sư”. Trong từng
loại thực hành, trạng thái niềm tin cứ sâu đậm dần của
chúng ta được nêu rõ.
Nếu ta tin
và hiểu giáo lý sau khi nghe và nếu ta khởi tâm hoan hỷ chấp
nhận thì trước hết ta thủ trì giáo lý một cách vững chắc,
rồi đọc và tụng kinh để ghi nhớ kinh trong trí. Như là
một kỷ luật cá nhân, việc thực hành này nhằm kiến tạo
cái căn bản cho niềm tin của ta. Khi niềm tin đạt được
cấp độ này, ta không thể không truyền giáo lý cho những
người khác. Kết quả là ta thuyết giảng kinh (giáo lý) và
sao chép kinh. Ta không thể bảo rằng ta đã đạt được niềm
tin thực sự nếu ta không trải qua quá trình năm loại thực
hành của vị Pháp sư.
Thế rồi
đức Phật bảo Bồ-tát Ma-ha-tát Thường Tinh Tấn: “Nếu
có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào thọ trì kinh Pháp
Hoa này, hoặc đọc hoặc tụng hoặc thuyết giảng, hoặc sao
chép kinh này, thì người ấy sẽ có được tám trăm công
đức về mắt, một ngàn hai trăm công đức về tai, tám trăm
công đức về mũi, một ngàn hai trăm công đức về lưỡi,
tám trăm công đức về thân và một ngàn hai trăm công đức
về ý; với những công đức này, người ấy sẽ trang nghiêm
sáu quan năng (căn) và khiến cho sáu quan năng thanh tịnh.”
Những con
số tám trăm hay một ngàn hai trăm trỏ ý về sự đạt được
các công đức một cách toàn hảo. Chúng ta không cần phải
hiểu những con số này theo nguyên nghĩa.
CÁC CÔNG
ĐỨC VỀ MẮT:
Những công
đức nào về mắt mà một thiện nam tử hay một thiện nữ
nhân có thể đạt được ? Về những công đức này, đức
Phật thuyết giảng như sau:
“Thiện
nam tử hay thiện nữ nhân ấy, bằng đôi mắt thanh tịnh tự
nhiên có được từ khi cha mẹ sinh ra, sẽ thấy được bất
cứ những gì bên trong hay bên ngoài tam thiên đại thiên thế
giới, núi, rừng, sông, biển, xuống tới ngục A-tỳ (Avici)
và lên tới cõi trời Hữu Đỉnh, và cũng thấy được mọi
chúng sanh trong đó, cũng như thấy và biết rõ các nghiệp
duyên và các cõi tái sanh theo quả báo của họ.”
Liền đó,
vì muốn trùng tuyên giáo pháp, Thế Tôn bèn nói bằng kệ,
phần kết như sau:
“Dù
chưa được thiên nhãn,
Sức nhục
nhãn như thế.”
Nhóm từ “Dù
chưa được thiên nhãn” trỏ cho sự trái nghĩa với nhóm
từ “bằng đôi mắt thanh tịnh tự nhiên (thanh tịnh nhục
nhãn) có được từ khi cha mẹ sinh ra.” Dòng cuối cùng của
bài kệ có nghĩa là mặc dù các chúng sanh chưa có được
thiên nhãn như chư Thiên để có thể hiểu rõ được thật
tướng của mọi sự vật, các chúng sanh cũng nhận được
cái năng lực để được như thế trong khi sống trong cõi
Ta-bà vì họ có những con mắt thanh tịnh được vén sạch
ảo tưởng tâm thức. Nói rõ hơn, họ có thể được như
thế là do tâm họ trở nên thanh tịnh đến nỗi họ hoàn
toàn chẳng chút vị ngã cho nên họ nhìn thấy các sự vật
mà không bị ảnh hưởng của thành kiến hay chủ quan. Họ
có thể nhìn thấy các sự vật một cách đúng thực như chính
các sự vật vì họ luôn luôn giữ tâm yên tĩnh và không bị
kích động.
Trong một
bộ kinh, đức Phật dạy: “Một vật không bị phản chiếu
khi nó ở trong nước đang sôi trên lửa. Một vật không bị
phản chiếu khi nó ở trên mặt nước bị cây cỏ che kín.
Một vật không bị phản chiếu khi nó ở trên mặt nước
đang cuộn chảy vì gió quấy động.” Ở đây đức Phật
dạy ta rằng ta không thể nhìn thấy thực tướng của các
sự vật nếu ta chưa thoát khỏi ảo tưởng tâm thức do vị
kỷ và mê đắm gây nên. Chúng ta cần phải hiểu các công
đức về mắt theo cách như thế.
BỐN VÔ SỞ
ÚY CỦA MỘT VỊ BỒ-TÁT:
Đức Phật
bắt đầu nói kệ như sau:
Nếu
ai trong đại chúng,
Với tâm
vô sở úy
Thuyết kinh
Pháp Hoa này...
Phần câu “Với
tâm vô sở úy” có nghĩa là người ta nói những gì người
ta tin một cách nghiêm túc, không sợ hãi hay e ngại. Khi giải
thích cái tâm vô úy như thế, từ xưa người ta đã dùng biểu
từ “bốn vô sở úy của một vị Bồ-tát.” Một người
có thể giảng Pháp với cái tâm vô sở úy nếu người ấy
luôn luôn duy trì bốn vô sở úy sau đây:
Vô sở úy
thứ nhất là Tổng trì bất vong (sòji-fumò): một vị Bồ-tát
không sợ thuyết giảng Pháp nhờ nhớ quan sát tất cả mọi
yêu cầu. Điều này có nghĩa là một vị Bồ-tát không có
gì để sợ khi giảng Pháp cho ai nếu vị ấy học thuộc lòng
tất cả giáo lý mà mình đã nghe và không quên những giáo
lý ấy. Điều này có vẻ khá là đơn giản, nhưng thực hành
được như thế thì không phải là dễ. Khi một người thọ
nhận giáo lý, người ấy hết lòng lắng nghe; và khi người
ấy có những thắc mắc về giáo lý, người ấy không ngần
ngại hỏi vị giảng sư cho đến khi mình hoàn toàn hiểu giáo
lý ấy. Hơn nữa, người ấy nỗ lực ghi nhớ giáo lý bằng
cách liên tục sáng và tối đọc và tụng giáo lý ấy. Người
ấy chỉ có thể đạt được cấp độ tâm thức như thế
nếu người ấy cứ mãi kiên trì trong nỗ lực ấy.
Vô sở úy
thứ hai là Tận tri Pháp dược (jinchi-hòyaku): vị Bồ-tát
không sợ giảng Pháp do đã thông hiểu môn y dược về Pháp
và cũng thông hiểu các khả năng, xu hướng, bản chất và
tâm thức của tất cả các chúng sanh. Điều này có nghĩa
là cũng y như một thầy thuốc có thể kê toa theo tính chất
và cấp độ của mọi thứ bệnh, một vị Bồ-tát có thể
giảng Pháp dễ dàng phù hợp với những khác biệt về khả
năng, xu hướng, bản chất và tâm thức của mỗi người.
Một người xứng đáng được gọi là Bồ-tát không chỉ
nhớ giáo lý kỹ càng mà còn tăng cường khả năng thuyết
giảng giáo lý một cách tự tại bằng cách dùng các phương
tiện thiện xảo.
Sở vô úy
thứ ba là Thiện năng vấn đáp (zennò-mondò): một vị Bồ-tát
không sợ giảng Pháp với những câu hỏi và trả lời tốt
và đầy đủ. Nếu chỉ nói Pháp do hoàn cảnh thôi thúc là
đủ thì người ta chỉ cần chuẩn bị bằng một kiến thức
được thu đạt nhanh chóng và chưa tiêu hóa. Bất cứ ai có
một kiến thức tổng quát về Pháp đều có thể làm được
như thế. Thế nhưng một Pháp sư thật sự phải có đủ năng
lực để trả lời một cách rõ ràng bất cứ câu hỏi nào
về thuyết giảng của mình và phải lập luận hợp lý để
chống lại những ý kiến phản đối. Nhưng câu trả lời
và lập luận của vị ấy không được gây hiểu nhầm hay
lang bang mà phải phù hợp với giáo pháp của đức Phật.
Từ “tốt” nghĩa là phù hợp với giáo pháp của đức Phật.
Câu trả lời của vị ấy tuy có thể là đúng nhưng không
thể bảo rằng vị ấy là một Pháp sư giỏi nếu vị ấy
không biết làm sao để giảng Pháp cho thật khéo léo để
có thể khiến những người nghe vừa hiểu Pháp dễ dàng vừa
nhận ra hết những ý niệm sai lầm của họ. Từ “đầy
đủ” nhằm trỏ cái năng lực thuyết phục của vị ấy.
Tóm lại, một người có thể đối đáp bất cứ câu hỏi
nào hay bất cứ ý kiến trái nghịch nào một cách rõ ràng
và thỏa đáng hoàn toàn phù hợp với giáo lý của đức Phật
sẽ thuyết giảng mà không sợ hãi gì cả.
Vô sở úy
thứ tư là Năng đoạt vật nghi (nòdan-motsugi): vị Bồ-tát
không sợ giảng Pháp do giải quyết thỏa đáng những nghi
ngờ. Nhiều câu hỏi khởi lên về lối hiểu giáo lý của
đức Phật vì giáo lý thì quá sâu rộng, vô biên. Mỗi người
có một lối hiểu khác nhau về các vấn đề, do đó mà có
câu “Bao nhiêu thầy tu là bấy nhiêu lối hiểu Pháp”. Một
người phải sáng suốt và dứt khoát trong lối hiểu pháp
của mình, nhưng trên hết, người ấy phải hơn những người
khác về đức hạnh và phải có lòng từ bi tột độ. Đấy
là vì khi xét những vấn đề khó khăn như những cách hiểu
khác nhau về giáo lý, người ta không thể nắm bắt được
ý định thực sự của đức Phật từ đơn thuần sự hiểu
biết có tính cách lý thuyết. Chỉ có người nào đã đạt
đến cấp độ tâm thức khi trực tiếp thể nhập vào lòng
đại từ bi mới có thể có những quyết định phù hợp với
ý định của đức Phật trong việc làm sáng tỏ những sắc
thái tinh tế của nghi ngờ. Một vị Bồ-tát có thể giải
quyết thỏa đáng những nghi ngờ theo cách này sẽ giảng Pháp
mà không sợ hãi gì.
Khi xét bốn
Vô sở úy của một vị Bồ-tát, nhiều người có thể hoảng
sợ nghĩ đến sự khó khăn của việc giảng Pháp cho những
người khác. Tuy nhiên, ta chớ nên sợ hãi. Bốn Vô sở úy
này miêu tả một Pháp sư lý tưởng, và nếu ai đạt đến
cấp độ như thế thì quả thực người ấy vốn đã trở
thành một đại Bồ-tát rồi. Không ai có thể trở thành đại
Bồ-tát mà không có nỗ lực; vị ấy chỉ có thể đạt cấp
độ như thế sau khi đã lâu dài thực hiện kỷ luật khắc
khe.
Chúng ta là
những người tu hạnh Bồ-tát, phải luôn luôn giảng Pháp
bằng cách ghi nhớ trong tâm bốn lý tưởng của vị Bồ-tát
và lấy bốn lý tưởng này làm tiêu chuẩn. Khi phải đối
mặt với một vấn đề khó khăn hay bị hỏi những câu hỏi
mà ta không biết phải trả lời ra sao thì ta nên thẳng thắn
mà bảo:
“Vì câu
hỏi này vượt ngoài khả năng của tôi, tôi sẽ nhờ ai đó
chỉ bảo rồi sẽ trả lời cho ông”. Ta chớ nên bịa ra
một câu trả lời để bằng một cách nào đó, làm cho câu
hỏi qua đi. Bảo rằng “Tôi không chắc” không làm cho những
người khác đánh giá ta thấp hơn theo tiêu chuẩn của những
Pháp sư mà còn làm gia tăng sự tín nhiệm ở người nghe.
NHỮNG CÔNG
ĐỨC VỀ TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN VÀ Ý:
Tiếp đó,
đức Phật giảng về những công đức về tai. Ngài dạy rằng
thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào thăng tiến về năm sự
Thực hành của một Pháp sư thì có thể nghe hết mọi lời
mọi tiếng bằng đôi tai tự nhiên của mình.
Các sự vật
gây ra âm thanh khi chúng chuyển động. Một người đã đạt
được một cái tâm tĩnh lặng nhờ lòng tin sâu đậm thì
có thể biết được sự chuyển dời vi tế của các sự vật
do âm thanh của chúng. Trong những tiếng động khác nhau được
nêu trong đoạn này, tiếng lửa, nước, gió nhằm chỉ những
vật thiên nhiên. Bằng một cái tai tĩnh lặng, người ta có
thể biết rõ những chuyển động của thiên nhiên bằng cách
nghe những âm thanh của lửa lách tách, của nước rì rầm
và của gió vi vu. Khi một người như thế nghe những âm thanh
của thiên nhiên, người ấy có thể thưởng thức những âm
thanh ấy cũng thích thú như đang nghe nhạc. Khi người ấy
nghe bất cứ âm thanh bình thường nào của thiên nhiên, người
ấy có thể phán đoán nguyên nhân thực sự của nó và do
đó có thể cứu nhiều người khác cũng như chính mình khỏi
những trận bão tuyết, giông tố hay những cơn lốc xoáy,
sóng triều, lũ lụt hay nhiều thiên tai khác. Còn hơn thế
nữa, người ấy có thể dễ dàng nhận biết được sự vận
hành của tâm người ta, tiếng tù và, tiếng trống, cồng
và chuông.
Một kỹ
sư cơ khí khéo léo biết những phần nào của những cái máy
bào bị hư mòn hay sai chậm khi người ấy vào nhà máy và
nghe tiếng động do nhiều máy tạo nên. Trong đám hơn một
trăm nhạc công trong một dàn nhạc giao hưởng, một nhạc
trưởng xuất sắc có thể nghe và phân định được những
khác biệt tinh tế khi họ tấu nhạc: những nhạc công nào
tấu quá thấp hay quá cao; những ai không tạo giai điệu đúng
khi tấu nhạc; ai tấu quá cường điệu. Một Pháp sư như
là một Đạo sư trong đời người có thể tự nhiên nhận
biết những cảm giác của các chúng sanh từ lời nói của
họ hay những âm thanh khác.
Không cần
phải nói, âm thanh của các chúng sanh được gây nên do họ
chuyển động. Những âm thanh này được sản sinh không chỉ
do những rung động của các dây thanh mà còn do những chuyển
động của những cảm giác và ý định của họ. Có những
âm thanh của sự thuận tiện, sự buồn rầu, khổ đau và
của lời nói của họ. Một người đã phát triển đủ lòng
tin có thể nghe ý nghĩa thực sự của tất cả các âm thanh
ấy: những âm thanh của địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ và
của a-tu-la (asura). Người ấy có thể nhận biết những âm
thanh của hàng Thánh giả, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni và của Bồ-tát.
Người ấy có thể hiểu giáo lý nào được giảng tại đâu
và nó có giá trị nào về nội dung. Cuối cùng, người ấy
có được cái khả năng được miêu tả trong các dòng sau
đây:
Chư
Phật, đại Thánh tôn
Giáo hóa
các chúng sanh
Tại đại
chúng của mình
Diễn thuyết
pháp vi diệu
Ai trì Pháp
Hoa này
Thảy đều
nghe được rõ.
Hiển nhiên
rằng vì toàn bộ thân thể của đức Như Lai được chứa
đựng trong kinh Pháp Hoa, cho nên ai hành trì kinh này đều có
thể nghe đức Phật thuyết Pháp.
Chúng ta tìm
thấy hai biểu ngữ quan trọng sau đây trong đoạn kệ đức
Phật giảng về các công đức thuộc về tai: “Nghe mà không
lệ thuộc” và “Nghe không hoại nhĩ căn”. Biểu ngữ đầu
có nghĩa là dù cho người ấy nghe những tiếng nhạc hay, người
ấy cũng không bị ràng buộc vào đó. Người ấy có thể
ưa thích âm nhạc trong một thời gian ngắn nhưng không thường
xuyên bị ràng buộc vào đó, cũng không bị rơi vào sự quên
lãng những vấn đề quan trọng. Đây là một gương tốt cho
chúng ta về sự ràng buộc vào những thú vui. Biểu ngữ sau
có nghĩa là sự nghe của người ấy sẽ không bị hư hại
dù cho người ấy nghe hết thảy âm thanh của Tam thiên đại
thiên thế giới. Điều này muốn trỏ rằng người ấy sẽ
không bị lẫn lộn vì nghe mọi thứ âm thanh khác nhau trên
thế giới. Nếu một người bình thường nghe những âm thanh
của lo lắng, của khổ đau, ưu phiền, mặt khác, lại nghe
những âm thanh tranh cãi, la mắng thì người ấy sẽ bị rơi
vào lẫn lộn. Thế nhưng một người có đủ niềm tin sâu
đậm sẽ không bị áp đảo; người ấy sẽ an trú giữa tiếng
ồn và có thể trầmtĩnh nghe các âm thanh này.
Đức Phật
cũng giảng về những công đức về mũi. Trong năm quan năng
của con người, mũi được xem là giống với loài vật nhất.
Vì thế, người ta bảo rằng nghệ thuật ngửi không phát
triển bằng với các nghệ thuật về mắt (hội họa, điêu
khắc, và v.v...) và về tai (âm nhạc). Chính vì lý do này mà
mũi có ảnh hưởng mạnh trực tiếp đến những cảm xúc
của con người. Khi một người ngửi một mùi thối, người
ấy mất sự ăn ngon và bị nhức đầu, trong khi người ấy
có thể bị hoàn toàn mê hoặc bởi một mùi hương khả ái.
Khứu giác rất khó bị chế ngự, nhưng nếu có thiện nam
tử hay thiện nữ nhân nào tu tập tiến bộ về năm sự thực
hành của một Pháp sư thì người ấy sẽ dễ dàng nhận biết
các sự vật nhờ ngửi. Điều này có nghĩa là người ấy
sẽ nắm được thực tướng của mọi sự vật.
Kế đến,
đức Phật tuyên thuyết về các công đức về lưỡi. Những
công đức này gồm hai loại: loại thứ nhất là những gì
người ta nếm sẽ có vị ngon nhất, và loại thứ hai là khi
người ta thuyết giảng, người ta sẽ phát ra một tiếng nói
thâm sâu và hay đẹp khiến mọi người hân hoan vui thú. Về
loại công đức thứ nhất, hiển nhiên là thứ gì người
ta ăn đều ngon khi người ta đã đạt được một trình độ
cao về niềm tin và tĩnh lặng về tâm thức. Về loại thứ
hai thì chẳng cần phải có lời giải thích nào.
Kế đến,
đức Phật giảng về những công đức về thân. Nếu có thiện
nam tử hay thiện nữ nhân nào tu tập năm loại thực hành
của vị Pháp sư, người ấy sẽ có được một thân thể
thanh tịnh như pha lê sáng sủa mà mọi chúng sanh đều vui
mừng được nhìn thấy và thực tướng của mọi sự vật
sẽ được thể hiện trong thân thể của người ấy. Một
người hết lòng thực hiện hạnh Bồ-tát thì thoát khỏi
ý niệm về ngã. Vì người ấy có được một thân thể thanh
tịnh như vậy, nên mọi hình thái và sắc tướng trên đời
này sẽ được nhìn thấy trong thân thể người ấy đúng
như chúng mà không bị biến dạng hay lu mờ. Do đó, như biểu
thức “Nghe mà không lệ thuộc” nêu trỏ, tất cả chúng
sanh đều kính trọng người ấy như một vị Đạo sư và
cảm thấy hoan hỷ khi nhìn thấy người ấy.
Thế rồi
đức Phật thuyết giảng các công đức về ý theo cách sau
đây: “Nếu sau khi Như Lai diệt độ, có thiện nam tử hay
thiện nữ nhân nào thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng,
hoặc thuyết giảng, hoặc sao chép, người ấy sẽ được
một ngàn hai trăm công đức về ý. Với ý căn thanh tịnh
này, khi nghe dù chỉ một bài kệ, một câu, người ấy sẽ
thâm nhập những ý nghĩa vô lượng, vô biên. Khi đã hiểu
rõ những ý nghĩa ấy, người ấy sẽ có thể thuyết giảng
về chỉ một bài kệ, một câu ấy trong một tháng, bốn tháng
cho đến một năm. Và những gì ngưôửi ấy thuyết giảng,
tùy theo nhiều ý nghĩa của chúng, sẽ không trái với chân
lý.”
Do có được
một ý căn thanh tịnh, một người như thế có thể hiểu
được những ý nghĩa vô lượng vô biên của giáo lý khi người
ấy nghe dù chỉ một bài kệ hay một câu. Sau khi đã hoàn
toàn thông hiểu các ý nghĩa ấy, người ấy có thể thuyết
giảng về chỉ một câu hay một bài kệ ấy trong một tháng,
bốn tháng hay đến cả năm. Tóm lại, sau khi đã nắm hết
được giáo lý, người ấy có thể giảng giáo lý ấy từ
mọi góc độ, theo lối khác nhau, theo bất cứ cách nào và
trong bất cứ khoảng thời gian nào mà người ấy muốn. Đấy
là sự rộng lớn, vô biên của Phật pháp và trí tuệ thâm
sâu của người đã thâm nhập vào Phật pháp.
Thế rồi
đức Phật dạy: “Nếu người ấy muốn nhằm trỏ đến
điển tịch thế gian, các phương ngôn để huấn trị cuộc
đời, các phương tiện sinh sống v.v..., thì mỗi mỗi đều
phù hợp với Chánh pháp.” Câu này có một ý nghĩa rất quan
trọng cho cuộc sống hằng ngày của chúng ta ngày nay. Thuật
ngữ “điển tịch thế gian” (tục gian kinh thư) nghĩa là
các sách vở dẫn đạo đời người hơn là các tác phẩm
tôn giáo, như các sách về đạo đức, triết học. Thực ra,
từ này không chỉ giới hạn các sách vở mà còn bao gồm
các giáo lý của đức Phật được thuyết giảng bằng lời.
Nhóm từ “các phương ngôn để huấn trị cuộc đời” (trị
thế ngữ ngôn) nghĩa là lời dạy về những vấn đề chính
trị, kinh tế, luật pháp. Từ “các phương tiện sinh số
ng” (tư sinh nghiệp đẳng) nghĩa là bàn thảo và dẫn dắt
người khác về kỹ nghệ, như nông nghiệp, công nghiệp và
thương mại.
Các ý niệm
của một người đã đạt niềm tin sâu đậm tự nhiên sẽ
trùng với Chánh pháp dù cho khi người ấy bàn đến những
vấn đề thực tiễn. Đối với những người có tôn giáo,
đây là cách thức đúng đắn để tiếp cận trực tiếp với
những vấn đề chính trị và chính sách đối ngoại của
một quốc gia. Tuy nhiên, họ có một nhiệm vụ rất quan trọng
là thuyết giảng những nguyên tắc của thái độ tâm thức
đúng đắn cho những ai có liên hệ. Đức Phật Thích-ca-mâu-ni
đã dạy người ta về công việc, kinh tế của họ và những
vấn đề khác chứ không nói gì về thái độ tâm thức riêng
cho những người đang chấp chính.
Ngay cả trong
thời đức Phật tại thế, hầu hết những người tin kinh
Pháp Hoa hẳn chỉ là những cư sĩ chứ không phải chư Tăng
Ni. Do đó, đôi khi đức Phật giảng cho các tín đồ tại
nhà của họ về “các điển tịch thế gian” và đôi khi
Ngài tuyên thuyết về “các phương ngôn để huấn trị cuộc
đời”. Huống chi về các “phương tiện sinh sống” thì
Ngài cần phải giảng hàng ngày nhiều hơn thế biết bao !
Việc bàn
luận về cuộc sống hàng ngày của con người có liên hệ
mật thiết đến những mối lưu tâm chung. Vì thế, những
gì người ta nói có thể bị cái ngã của mình gây ảnh hưởng
lớn. Chúng ta có xu hướng nhìn các sự vật một cách thiển
cận và muốn có được các sự vật theo cách riêng của chúng
ta, và thường thường chúng ta không nhìn các sự vật một
cách rộng rãi hơn, cần thiết để làm lợi cho những người
khác cũng như cho chính chúng ta. Mặt khác, một người đã
đạt niềm tin thực sự có thể tiếp cận quan điểm của
đức Phật, quan điểm làm lợi cho mọi người, tự nhiên
khiến những gì người ấy nói trùng hợp với Phật pháp.
Đây là một tính chất tối trọng yếu trong xã hội hiện
đại.
Để giải
thích rõ hơn về giáo lý này, đức Phật dạy: “Các chúng
sanh trong sáu đường (lục thú) của Tam thiên đại thiên thế
giới có những gì đang xảy ra trong tâm, những gì là những
động tác của tâm, những lý luận nào đang chuyển hướng
tâm, người ấy đều biết hết thảy. Một người như thế
dù chưa đạt trí tuệ vô lậu, ý căn của người ấy cũng
sẽ thanh tịnh như thế này. Những gì người ấy tư duy, cân
nhắc, nói năng, đều sẽ là Phật pháp, không gì là không
chân thật, đều là những gì mà chư Phật thời xưa đã nói
trong kinh.”
Các chúng
sanh trong khắp Tam thiên đại thiên thế giới có thể có những
gì đang chất chứa trong tâm, những gì đang vận hành trong
tâm, và những lý luận nào đang chuyển hướng tâm - một
người có cấp độ cao về niềm tin có thể biết hết thảy
các thứ ấy vì rằng dù người ấy chưa hoàn toàn thoát khỏi
những ảo tưởng và chưa đạt được trí tuệ để thể
hội thực tướng của mọi sự vật đúng như mọi sự vật,
ý căn của người ấy cũng thanh tịnh đủ để người ấy
sẽ phù hợp với Phật pháp và sẽ trùng hợp với những
gì chư Phật thời xưa đã thuyết giảng trong kinh.
“Chư
Phật thời xưa” trỏ đến nhiều đức Phật trước thời
đức Phật Thích-ca xuất hiện trên đời này. Biểu từ này
có nghĩa là chân lý không bao giờ thay đổi và những gì mà
một người đã đạt niềm tin đủ thâm sâu thuyết giảng
sẽ trùng hợp với cái chân lý ứng dụng vào ba đời quá
khứ, hiện tại và vị lai.
Bằng cách
này đức Phật dạy chúng ta rằng với năm loại công đức
của chư vị Pháp sư, bất cứ thiện nam tử hay thiện nữ
nhân nào cũng có thể thanh tịnh sáu quan năng (lục căn) của
mình: thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và ý nghĩ.
Cuối cùng,
chủ đề chính của giáo lý của đức Phật trong phẩm này
gồm hai điểm: Thứ nhất, đức Phật khuyến dụ chúng ta
tận tụy với việc tu tập vì nếu người nào hết lòng tu
tập kinh Pháp Hoa thì người ấy có thể thăng tiến cả về
tâm linh lẫn thể chất. Thứ hai, đức Phật nhắc nhở rằng
vì một người thực sự tin vào kinh Pháp Hoa thì phải thành
tựu cái bổn phận quan trọng là thuyết giảng giáo lý của
đức Phật, người ấy tự nhiên sẽ có năng lực liễu giải
mọi sự vật. Sự việc người ấy chưa đạt được một
trạng thái tâm thức như thế là bằng chứng của sự thiếu
hụt trong tu tập cá nhân của mình. Do đó người ấy phải
luôn luôn tự xét mình để khỏi phải rơi vào tự mãn và
kiêu mạn.