III
XII.
Bài giảng tại bệnh viện Chí Đức, hội Phật giáo tỉnh
Quảng Châu.
XIII.
Tham thiền cùng niệm Phật.
XIV.
Những điều kiện tiên quyết khi tham thiền.
XV.
Khai thị tại thiền đường.
XVI.
Tham thiền cảnh ngữ (lời răn nhắc đến những người tu
thiền).
XII. Bài
giảng tại bệnh viện Chí Đức, hội Phật giáo tỉnh Quảng
Châu
[^]
Quý
vị thiện tri thức ! Hôm nay là ngày thành lập của hội Phật
giáo tại bệnh viện Chí Đức. Thể theo lời mời của quý
vị thỉnh cầu, Hư Vân tôi đến đây chủ trì buổi lễ.
Việc này thật rất hy hữu.
Trên
đầu bản hiệu của bệnh viện Quảng Châu có khắc hai chữ
Phật Giáo, khiến người vừa xem qua bèn vừa ý.
Quý
vị thiện tri thức ! Đời người có tám việc khổ mà bịnh
hoạn là khổ bậc nhất. Đức Phật của chúng ta xuất hiện
ra trên thế gian này chỉ vì muốn chúng sanh xa rời khổ não
và được an lạc. Y dược vốn là một phương minh nằm trong
ngũ minh. Trong quyển Thiền Môn Nhật Tụng ghi: "Vì bệnh tật
của thế nhân mà ban lương dược".
Bồ
Tát cứu bịnh khổ trầm kha của chúng sanh, không tiếc thân
mạng. Ví như Bồ Tát Dược Vương, Ngài dùng hương trầm
tẩm thân, rồi tự thiêu cúng dường chư Phật. Cúng dường
chư Phật tức là cúng dường chúng sanh.
"Tâm,
Phật, và chúng sanh, tuy là ba nhưng thật không khác biệt".
Đây
là câu liễu nghĩa của kinh Hoa Nghiêm; nơi lý này phải nên
suy nghĩ. Chư Phật luôn luôn niệm nhớ chúng sanh, như mẹ
nhớ con. Chúng sanh vì có ba căn bệnh tham sân si, nên chư Phật
thuyết ra ba pháp giới, định, huệ để trị. Do thân của
chúng sanh bị bịnh phong hàn thấp v.v..., nên Phật y theo đó
mà cho toa "Y Phương Minh" để trị liệu. Kinh Tịnh Danh viết:
"Vì chúng sanh bệnh nên Bồ Tát bệnh".
Chư
Phật và chư Bồ Tát đồng thể đại bi, mắt từ nhìn chúng
sanh. Quý vị thiện tri thức ! Các bậc hiền thánh ở thế
gian cũng có tâm địa và lý giải đồng như thế. Ví như
thần nông cũng vì chúng sanh mà thử trăm loại cỏ. Tại nhân
địa, Bồ Tát tu hành hiện các loại thân để thuyết pháp.
Thần nông cũng như Bồ Tát, hiện thân Dược Vương mà thuyết
pháp.
Quý
vị thiện tri thức ! Đối với căn bệnh của nhân loại,
năm món dục lạc là nhân chính. Những nghiệp tội trong đời
vô thủy cũng do từ năm món dục lạc mà sanh. Khi bệnh tật
phát ra, phải cần được chữa trị. Trước mắt, người
bịnh hoạn vô lực, cần cầu lương y thật không ít. Quý
vị trưởng lão thiện nhân phát tâm thành lập bệnh viện
này, tặng y dược cho bệnh nhân; tâm này thật là tâm Bồ
Đề, cũng chính là bổn hoài từ bi của Phật.
Quý
vị thiện tri thức ! Bồ đề tức là chánh giác ! Tâm chánh
giác không lạc vào hai bên nhân ngã, thiện ác mà chỉ bình
đẳng bố thí, không phân biệt kẻ thân người oán. Trị
bệnh cho thân bằng quyến thuộc của mình thì cố nhiên phải
lưu tâm. Trị bịnh cho những người khác cũng phải tận tình.
Dẫu có người lành hay kẻ ác ra vào bệnh viện, phải dùng
tâm bình đẳng mà cứu hộ chữa trị. Đức Phật của chúng
ta trong đời quá khứ đã từng xả bỏ thân mạng cho hổ
đói. Ý nghĩa này phải nên suy tư.
Do
sự nỗ lực của sư trưởng Thâm Lại Lương Trọng cùng viện
trưởng họ Trần, nên hôm nay bệnh viện này mới được
thành tựu. Cổ nhân bảo:
- Chớ
cho làm việc thiện trong buổi ban đầu mà không ảnh hưởng
về sau. Chớ cho việc hay lúc cuối mà không xiển dương.
Nói
chung, đối với đại chúng ngồi đây, từ nay về sau, người
có tiền thì xuất tiền, và người có công sức thì bỏ công
sức. Lục Tổ bảo:
- Phật
pháp tại thế gian. Không rời thế gian mà tìm giác ngộ. Rời
thế gian mà tìm cầu Bồ Đề, thì như tầm cầu lông rùa
sừng thỏ.
Đại
chúng nỗ lực, khai mở bệnh viện này tức là làm công tác
thật đại từ đại bi. Đây chính là biểu hiện chân đế
"dùng phương tiện để đạt đến cứu cánh" của đức Phật.
Hư Vân tôi không thể sánh bằng mùi hương thơm bay trên đỉnh
núi.
XIII.
Tham thiền cùng niệm Phật [^]
Người
niệm Phật, ai ai cũng hủy báng tham thiền. Người tham thiền,
ai ai cũng hủy báng niệm Phật. Ví như khi đối đầu với
cái chết, chúng ta lại muốn đối phương sớm chết theo mình.
Đây là hiện tướng xấu xa trong nhà Phật, thật rất đau
lòng ! Thế tục có câu: "Gia đình hòa hợp thì muôn sự đều
hưng thịnh. Gia đình ai oán thì miệng chẳng ngon."
Huynh
đệ chửi mắng lẫn nhau, chẳng lẽ không bị người đời
cười chê cùng khinh khi hay sao ! Tham thiền, niệm Phật cùng
các pháp môn khác đều do kim khẩu của Phật Thích Ca thuyết
ra. Đạo vốn không hai, chỉ do căn khí nghiệp duyên của chúng
sanh không đồng, nên Phật tùy theo bịnh mà cho thuốc. Vì
phương tiện nên đức Phật thuyết ra nhiều pháp môn để
nhiếp thọ giáo hóa quần sanh. Sau này, chư đại đức y theo
giáo lý mà phân tông phái; bất quá chỉ do tùy căn cơ mà
thuyết pháp. Nếu người muốn tu trì để trở về tự tánh
thì chỉ cần bước vào một cửa là có thể nhập đạo diệu
môn, vì bổn gốc vốn không phân biệt cao thấp. Các pháp
xưa nay vốn hỗ tương lẫn nhau và viên dung không ngại. Nếu
như niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, thì có khác gì
với tham thiền ! Tham thiền đến độ cả hai năng và sở
đều mất thì có khác gì với thật tướng niệm Phật ! Thiền
tức là Thiền trong Tịnh Độ. Tịnh Độ tức là Tịnh trong
Thiền. Thiền và Tịnh Độ vốn tương trợ lẫn nhau. Sao người
đời khởi tâm chấp trước một bên, thấy cửa này nhà nọ,
tự tán thán mà hủy báng kẻ khác, giống như nước với
lửa chẳng bao giờ tương dung, khiến phản lại thâm ý phân
tông khác giáo của Phật Tổ ! Lại nữa, có thể vô ý phạm
trọng tội hủy báng Phật pháp. Thật có đáng thương lắm
không ! Hy vọng quý vị đồng nhân, không luận tu trì pháp
môn nào, đều phải thể hội thâm sâu yếu chỉ vô tranh của
Phật Tổ, chớ múa gậy đánh nhau trong nhà. Mọi người phải
hợp lực đồng tâm, cứu độ con thuyền Bát Nhã trên sóng
ba đào.
XIV.
Những điều kiện tiên quyết khi tham thiền [^]
Mục
đích của tham thiền là minh tâm kiến tánh, tức quét trừ
tự tâm ô nhiễm, để chân thật thấy rõ bổn lai diện mục
của tự tánh. Ô nhiễm tức là vọng tưởng chấp trước.
Tự tánh tức là trí huệ đức tướng của Như Lai. Đối
với đức tướng trí huệ của Như Lai, Phật và chúng sanh
đều đồng có đầy đủ, không hai không khác. Nếu xa rời
được vọng tưởng chấp trước thì tự mình sẽ đắc được
trí huệ đức tướng của Như Lai, tức là Phật. Ngược lại
thì làm chúng sanh. Chỉ vì chúng ta từ vô lượng kiếp cho
đến nay, mê mờ lưu lạc trong vòng sanh tử và bị nhiễm
ô đã lâu, nên không thể thoát khỏi được vọng tưởng
chấp trước mau chóng được. Muốn thấy rõ bổn tánh chân
thật, phải nên tham thiền. Vì thế, điều kiện tiên quyết
nhất khi tham thiền là phải dẹp trừ vọng tưởng. Làm sao
dẹp trừ vọng tưởng ? Phật Thích Ca thuyết pháp rất nhiều,
nhưng đơn giản không ngoài chữ "ngưng". "Ngưng tức Bồ Đề".
Thiền
tông do Đạt Ma Tổ Sư từ bên Ấn Độ truyền qua Đông Độ;
đến đời Lục Tổ thì gió thiền lan rộng khắp nơi, chấn
động chiếu sáng cổ kim. Những điều tối quan trọng mà
Đạt Ma Tổ Sư cùng Lục Tổ thường dạy là "dẹp hết muôn
duyên, chẳng sanh một niệm".
Dẹp
hết muôn duyên, tức là xả bỏ hết các duyên. Đây là điều
kiện tiên quyết cho việc tham thiền. Nếu chưa hành được
hai câu này thì chẳng những tham thiền không thể thành công
mà nhập vào các môn khác cũng không thể được. Muôn duyên
vẫn còn ràng buộc và niệm niệm vẫn còn sanh diệt thì đàm
luận đến việc tham thiền được sao !
"Xả
bỏ muôn duyên, chẳng sanh một niệm" là điều kiện tiên
quyết của việc tham thiền. Chúng ta phải nên biết rõ. Làm
thế nào để hành được ? Trên đã nói rõ là một niệm
nếu ngưng, thì đạt thẳng đến vô sanh, chứng ngay đạo
Bồ Đề, không còn vương vấn tơ hào gì hết. Kế đến dùng
lý mà dẹp trừ sự, tức biết rõ tự tánh bổn gốc vốn
thanh tịnh, thì phiền não và Bồ Đề, sanh tử cùng Niết
Bàn đều là giả danh, chẳng can hệ gì với tự tánh của
chúng ta.
Sự
sự vật vật đều như mộng huyễn bong bóng nước. Sắc thân
bốn đại của chúng ta cùng núi sông đất đá, đều nằm
sẵn trong tự tánh. Chúng giống như bọt nước trong biển,
lúc khởi lúc diệt, không ngăn ngại bổn thể. Chớ nên chạy
theo tất cả sự huyễn hóa của sanh trụ dị diệt mà khởi
tâm vui thích, nhàm chán, thủ xả. Phóng xả được thân này
như người đã chết thì tự nhiên căn, trần, thức liền
tan biến, và tham sân si dâm ái đều tiêu diệt. Tất cả nỗi
thống khổ của thân như khổ vui, cơ hàn, đói khát, vinh nhục,
sanh tử, phước họa, may rủi, khen chê, được mất, bình
an, hiểm nạn đều là bên ngoài, phải nên xả bỏ. Xả bỏ
được một, thì sẽ xả bỏ được tất cả; mãi mãi xả
bỏ, đó gọi là xả bỏ muôn duyên. Xả bỏ muôn duyên được
thì vọng tưởng tự tiêu mất. Nếu không khởi tâm phân biệt
thì xa rời chấp trước. Một niệm chẳng sanh thì tự tánh
chiếu sáng và toàn thể tánh đều được hiển lộ. Khi những
điều kiện tu thiền đã đầy đủ, lại phải tiếp tục
dụng công chân thật tham cứu, thì việc minh tâm kiến tánh
chắc sẽ có phần.
Ngày
ngày thường có thiền sinh đến thưa hỏi. Tuy nhiên, pháp
vốn thật không phải là pháp. Nếu lạc vào ngôn từ, tức
là không phải nghĩa chân thật. Hiểu rõ tâm này thì biết
bổn tâm của chúng sanh vốn là Phật. Xả bỏ hết để được
vô sự thì cảnh giới thánh sẽ hiển hiện. Nói tu nói chứng
đều là lời ma. Tổ Đạt Ma đến Đông Độ để "Trực chỉ
chân tâm, kiến tánh thành Phật". Ngài chỉ thật rõ rằng
tất cả chúng sanh trên cõi đất đều sẽ thành Phật. Phải
nhận rõ tự tánh thanh tịnh; nó tùy thuận thế tình, nhưng
không ô nhiễm. Trong mười hai thời, đi đứng nằm ngồi,
mà tâm bình thản không loạn động, tức là hiện tại làm
Phật, chứ không cần dụng tâm dụng sức, hay không cần dùng
chút tơ hào lời nói, suy tư, hoặc làm việc này việc nọ.
Thế nên, bảo rằng thành Phật là việc rất dễ dàng và
rất tự tại, vì Phật tánh vốn đã nằm sẵn trong tâm mình,
không cần chạy ra ngoài tìm cầu. Tất cả chúng sanh trên
cõi đất, nếu không thể kham nổi bao kiếp luân hồi, trôi
lăn trong bốn loài sáu đường, trầm luân trong biển khổ,
mà nguyện ước thành Phật để đạt đến cảnh giới thường
lạc ngã tịnh, thì phải tin chắc thật lời dạy dỗ răn
nhắc của Phật Tổ, tức xả bỏ tất cả. Chẳng nghĩ thiện
hay ác thì lập tức thành Phật. Chư Phật Bồ Tát cùng lịch
đại Tổ Sư phát nguyện độ hết tất cả chúng sanh đều
có chứng cứ, chứ chẳng phát đại nguyện trống không, hay
giảng lời rỗng tuếch.
Bên
trên đã nói rằng pháp là như thế. Lời của các ngài xiển
minh kinh điển Phật Tổ rõ ràng. Chân ngữ thật ngữ chẳng
có chút hư dối. Chúng sanh trên cõi đất từ vô lượng kiếp
đến nay luôn bị trầm luân trong biển khổ sanh tử, đầu
xuất đầu mất, luân chuyển không ngừng, mê hoặc điên đảo,
bỏ tánh giác mà hiệp với trần lao. Ví như vàng ròng bị
rớt xuống hầm phẩn không thể dùng được, nhưng chẳng
hề bị nhiễm ô. Do tâm đại từ đại bi, bất đắc dĩ Phật
phải thuyết tám mươi bốn ngàn pháp môn để đối trị tham
sân si ái v.v... tức tám mươi bốn ngàn tập khí, bệnh tật
của muôn loại chúng sanh. Ví như tuy vàng ròng bị nhơ nhuốc
mà nay chư Phật dạy quý vị dùng nạo, bàn chải, nước,
vải, v.v... để tẩy rửa mài giũa. Pháp Phật thuyết ra, lời
lời đều là diệu pháp, có khả năng cắt đứt dòng sanh
tử, và mau chóng đạt thành tựu Phật đạo, chỉ có vấn
đề là hợp căn cơ hay không hợp căn cơ. Thế nên, chớ cưỡng
ép phân biệt pháp môn cao thấp. Năm pháp môn rất phổ thông
thịnh hành ở nước Tàu là Thiền-tông, Giáo-tông, Luật-tông,
Tịnh-độ-tông, Mật-tông. Tùy theo ý thích và căn tánh của
mỗi người, có thể tự chọn lựa một pháp môn ứng hợp.
Nói chung, phải thâm nhập vào một pháp môn trường kỳ không
đổi thì mới mong thành tựu.
Thiền-tông
chú trọng tham thiền. Tham thiền để "minh tâm kiến tánh",
tức là tham thấu bản lai diện mục của mình. Vì thế bảo
rằng ngộ rõ tự tâm, thấy suốt bổn tánh. Pháp môn này
bắt đầu từ khi Phật đưa cành hoa lên, cho đến sau khi Đạt
Ma Tổ Sư truyền thừa sang Đông Độ; người hạ thủ công
phu thường luôn uyển chuyển. Chư thiền đức trong đời Đường
(618-907) và Tống (960-1279), phần nhiều đều do nghe một lời
hay nửa câu thì liền ngộ đạo. Thầy trò truyền thừa bẩm
thọ, dùng tâm ấn tâm, nhưng thật ra không có một pháp nào
là chân thật. Ngày thường tham vấn đối đáp, bất quá chỉ
tùy phương tiện mà giải kiết phược, hay do bệnh mà cho
thuốc. Sau đời Tống, căn khí con người ngày càng chậm lụt;
giảng được mà không hành được. Ví như câu: "Xả bỏ tất
cả" hay "Chớ nghĩ thiện ác" đều không thể hành được.
Nói không suy nghĩ việc thiện, lại đi suy nghĩ việc ác. Vì
thế, chư Tổ Sư bất đắc dĩ mới chọn lựa biện pháp,
dùng độc trị độc, bằng cách dạy người tu học tham khán
công án. Bắt đầu là quán thoại đầu. Thậm chí phải nắm
chặt câu thoại đầu trong từng sát na, mãi mãi không rời
cho đến chết chẳng bỏ mất. Như chuột gặm quan tài, chỉ
chuyên chú gặm một chỗ, không thông không ngừng. Mục đích
là dùng một niệm để chế phục muôn niệm. Thật ra đây
chỉ là biện pháp bất đắc dĩ; như thân bị mụn độc,
nếu không dùng dao mỗ xẻ chữa trị thì khó mà sống nổi.
Công
án của người xưa rất nhiều. Kẻ sau chuyên giảng xem khán
thoại đầu, như "quán thây chết này là ai" hay "trước khi
cha mẹ sanh ra mặt mũi chân thật của mình là gì". Từ từ
các nơi xa gần thường dùng câu thoại đầu "niệm Phật là
ai".
Thật
ra, tất cả câu thoại đầu đều đồng một dạng, và đều
rất bình thường, chẳng có chi là kỳ lạ. Ví như khi nói
câu quán xem người tụng kinh là ai, niệm chú là ai, lễ Phật
là ai, ăn cơm là ai, mặc y áo là ai, đi đứng là ai, ngủ
nghỉ là ai, v.v... ý nghĩa của tất cả câu trên đều như
nhau. Giải đáp được chữ "ai", tức là thấy tâm. Lời nói
từ tâm khởi. Tâm dẫn đầu câu thoại đầu. Niệm từ tâm
khởi. Tâm dẫn đầu ý niệm. Muôn pháp từ tâm sanh. Tâm là
đầu nguồn của muôn pháp. Thật vậy, thoại đầu tức là
niệm đầu. Niệm đầu tiên tức là tâm. Lúc một niệm chưa
sanh thì đó là thoại đầu. Do đó, chúng ta phải biết rõ
rằng quán thoại đầu tức là quán tâm. Khi cha mẹ chưa sanh,
bản lai diện mục của chúng ta tức là tâm. Lúc quán xem bản
lai diện mục của chúng ta, trước khi cha mẹ sanh ra, vốn
là gì, thì đó là quán tâm. Tánh tức là tâm. "Phản văn văn
tự kỶ" tức là nghe lại tự tánh của mình, hay quán lại
tự tâm. "Viên chiếu thanh tịnh giác tướng" tức là tướng
giác ngộ thanh tịnh chiếu sáng tròn đầy. Thể tướng giác
ngộ thanh tịnh tức là chân tâm. Chiếu tức là quán. Tâm
tức là Phật. Niệm Phật tức là quán Phật. Quán Phật tức
là quán tâm. Vì vậy, "quán thoại đầu" hay bảo "quán người
niệm Phật là ai" tức là quán tâm, cũng là quán chiếu thể
giác thanh tịnh của tâm mình, nghĩa là quán chiếu tự tánh
Phật tánh. Tâm tức là tánh, là giác, là Phật, và vốn không
có hình tướng hay phương hướng nhất định, nên không thể
nắm bắt. Tánh chất của tâm vốn thanh tịnh, biến khắp
pháp giới, không vào không ra, không đến không đi, tức là
pháp thân thanh tịnh xưa nay của chư Phật.
Hành
giả phải nhiếp giữ và hộ trì sáu căn; nơi một niệm vừa
sanh khởi, phải quán sát và chiếu cố câu thoại đầu. Khởi
tâm quán sát cho đến lúc tự tâm thanh tịnh rời niệm. Lại
phải thầm lặng liên tục, điềm điềm đạm đạm, tịch
tĩnh mà quán chiếu, để nhìn thấu năm uẩn đều không, thì
mới liễu ngộ thân tâm tròn đầy tịch tĩnh, không còn một
vật. Ngày đêm sáu thời, đi đứng nằm ngồi đều như như
bất động; lâu ngày công phu thâm hậu thì có khả năng thấy
tánh thành Phật, tức là trừ hết mọi khổ đau nguy hiểm.
Khi
xưa, tổ sư Cao Phong bảo:
- Hành
giả thường xem khán câu thoại đầu như việc lượm đá
ở dưới đáy hồ sâu trăm thuớc. Nếu trong bảy ngày mà
không khai ngộ thì hãy chặt đầu lão tăng.
Quý
vị đồng tham học ! Đây là lời của người xưa, vốn là
chân ngữ thật ngữ, chứ không dối lừa gạt gẫm ai !
Tại
sao trong đời nay, người quán thoại đầu thì nhiều, nhưng
người ngộ đạo thì chẳng được bao nhiêu ? Đây là do căn
khí của người đời nay không thể sánh bằng người xưa.
Lại nữa, do người tu thiền chưa hiểu rõ nghĩa lý của việc
khán thoại đầu. Có người do thân tâm rối loạn nên tham
đông tầm tây, vào nam ra bắc, đưa đến kết quả là cứ
lo làm việc ồn ào huyên náo cho đến già; đối với một
câu thoại đầu cũng không biết gì cả. Không biết rõ thoại
đầu thì làm sao tu thiền khán thoại đầu. Cả đời chỉ
lo chấp trước vào văn tự danh tướng, nên chỉ biết dụng
tâm quán thoại đuôi.
"Ai
đang niệm Phật" ! "Chiếu cố thoại đầu" ! Khán tới khán
lui, tham đi tham lại, vác câu thoại đầu đi khắp đông tây
có lý nào ngộ được bản nhiên vô vi của đại đạo ? Khi
nào mới đạt đến địa vị pháp vương, không đắm chấp
tất cả muôn vật ? Mạt vàng rơi vào mắt, khiến bị mù
lòa, làm sao thấy vàng tỏa ánh hào quang được ! Thật đáng
thương lắm thay ! Như có một nữ nhi, lúc rời nhà học đạo
với chí nguyện phi thường, nhưng kết quả chẳng đạt gì
hết, thật uổng phí công lao. Thật tiếc thay !
Cổ
nhân bảo:
- Thà
ngàn năm không ngộ đạo, còn hơn một ngày đi lạc đường.
Việc
tu hành để ngộ đạo, tuy dễ mà khó và tuy khó mà dễ. Ví
như mở đèn điện, nếu biết cách, chỉ dùng một ngón tay,
thì ánh sáng đèn sẽ chiếu sáng, khiến ngàn năm u minh tăm
tối liền mất. Nếu không biết cách thì sẽ làm hư hoại
dây điện bóng đèn, rồi phiền não ngày càng tăng trưởng.
Ví như có vài người tham thiền quán thoại đầu, khi gặp
ma cảnh thì phát điên phát cuồng, ho ra máu, bị bệnh tật,
khiến lửa vô minh càng cháy sáng, sự trước chấp về mình
và người ngày càng nặng nề; có phải rằng những điều
này do sự chấp trước không ? Vì thế, người dụng công
tham thiền cần phải điều hòa thân tâm, khiến tâm bình khí
hòa, không ngăn không ngại, không còn thấy mình và người,
thì khi đi đứng nằm ngồi, đều phù hợp với huyền cơ
vi diệu.
Khi
tham thiền, không thể khởi tâm phân biệt. Bàn về chi tiết,
lúc khởi công phu tu đạo, người sơ cơ gặp những sự khó
và dễ riêng. Người tu lâu năm cũng có sự khó dễ riêng.
Những
điểm khó khăn của người mới bắt đầu tham thiền ở nơi
nào ? Khó khăn ngay nơi thân tâm chưa thuần thục; chưa thông
hay chưa rõ về cách thức tu hành; do công phu không tiến triển
được, nên trong tâm dần dần sanh giải đãi, chỉ ngồi thiền
ngủ nghê cho qua ngày tháng. Kết quả: "Năm đầu tham thiền.
Năm thứ hai là lão tham thiền. Năm thứ ba chẳng còn tham thiền".
Ngược
lại, cái dễ của người sơ cơ ở chỗ nào ? Chỉ cần thiết
có tín tâm đầy đủ, có tâm lâu dài, và dụng vô tâm, thì
tu hành rất dễ. Tín tâm có hai phần. Thứ nhất, tin tâm mình
vốn là Phật; tâm đó cùng ba đời chư Như Lai đều không
khác biệt. Thứ hai, tin các pháp môn mà Phật Thích Ca thuyết
giảng, mỗi mỗi đều có thể cắt đứt dòng sanh tử, thành
tựu quả vị Phật. Bàn về tâm lâu dài, khi đã chọn một
pháp môn thì phải hành trì suốt cả đời, cho đến suốt
đời vị lai cũng phải tu trì. Muốn tham thiền thì phải tham
khán cách như thế. Muốn niệm Phật hoặc trì chú thì cũng
phải hành trì như vậy. Người muốn học giáo lý thì phải
hành trì theo thứ tự: Văn, tư, tu. Dầu tu pháp môn nào đi
nữa, điều quan trọng căn bản là phải giữ giới. Nếu làm
được như thế thì tương lai sao không thể thành tựu đạo
nghiệp được !
Ngài
Quy Sơn bảo:
- Nếu
ai có thể tu hành pháp này suốt ba đời mà không thối chuyển
thì quả vị Phật quyết định sẽ có kỳ.
Ngài
Vĩnh Gia cũng nói:
- Nếu
dùng lời vọng ngữ dối gạt chúng sanh thì mãi mãi sẽ bị
đọa lạc vào địa ngục cắt lưỡi hằng sa kiếp.
Gọi
vô tâm, tức là xả bỏ hết tất cả, giống như người đã
chết. Cả ngày tùy theo nhân duyên mà làm việc, và không khởi
một niệm phân biệt chấp trước thì mới trở thành vô tâm
đạo nhân.
Người
sơ học nếu đã đủ ba tâm (tâm dài lâu, tâm kiên cố, và
vô tâm), khi tham khán câu thoại đầu "Ai đang niệm Phật",
tức tự mình niệm thầm câu "A Di Đà Phật", rồi khán xem
người niệm Phật đó là ai, và niệm khởi từ đâu ? Từ
đâu khởi lên một niệm ? Nên biết một niệm chẳng khởi
từ miệng của mình, cũng không phải khởi lên từ nhục thân
này. Nếu tâm niệm khởi từ thân hay miệng thì khi chết đi,
thân miệng vẫn còn đó, sao lại không niệm được ? Nên
biết rằng niệm khởi từ tâm, tức từ tâm mà có niệm khởi.
Nhìn thẳng chăm chăm vào, như mèo rình chuột; tập trung tất
cả sức lực tinh thần, chẳng sanh hai niệm. Chớ gấp gáp
muốn mau thành tựu, vì sẽ dễ dàng phát sanh sự chướng
ngại của bịnh tật. Đi đứng nằm ngồi đều phải như
thế. Công phu lâu ngày nếu thâm sâu, như quả chín sắp rụng,
thì khi nhân duyên đến, đụng tới quả liền rụng, tức
đột nhiên đại ngộ. Lúc ấy như người uống nước, tự
biết nóng lạnh, liền đạt đến nơi vô ngại, như tại ngã
ba đường, gặp được cha mình, nên được an lạc vô ngần.
Người
tham thiền lâu năm gặp những việc khó dễ nào ? Gọi lão
tham thiền tức là người đã từng thân cận, gần gũi thiện
tri thức, hay dụng công nhiều năm, và đã từng trải qua một
thời gian rèn luyện, nên thân tâm thuần thục, biết rõ đường
tu, tự tại dụng công, không sợ khổ nhọc. Việc khó của
các vị tham thiền lâu năm hay thượng tọa là trong cảnh giới
tự tại, sáng sủa rõ ràng, lại ngừng tu để hưởng thụ,
như dừng chân tại 'Hóa-thành', không muốn đến 'Bảo-sở'.
Do thường thích lắng tâm tịch tĩnh chớ không thường thích
để tâm dao động, nên không thể đắc được thọ dụng
chân thật. Thậm chí lúc gặp cảnh thì tình sanh, rồi cố
chấp thủ và xả. Tâm khởi niệm thích thú hay chán chường
rõ rệt, nên cứ bị vọng tưởng thô và tế bó buộc. Lại
nữa, nếu dụng công phu như băng giá đóng đá gạch thì không
thể khởi tác dụng. Kế đến, dần dần sẽ sanh bệnh giải
đãi, rồi cuối cùng không thể đắc quả khởi dụng. Quý
vị tham thiền lâu năm và chư thượng tọa nếu biết rõ điều
khó khăn này thì phải nên lập tức đề khởi câu thoại
đầu, phấn chấn tinh thần; nơi cây tre trăm thước phải
tấn thêm bước nữa, hay phải lặn sâu dưới đáy biển để
đạt đến quả vị cao, để rồi mặc tình thỏng tay tung
hoành, đi đó đây, lễ bái tương kiến Phật Tổ.
Thoại
đầu tức là nhất tâm. Một tâm niệm của chúng ta không
ở trung gian trong ngoài, mà cũng trú tại chính giữa, trong,
ngoài, giống như hư không chẳng động mà biến khắp mọi
nơi. Thế nên, không cần đề câu thoại đầu lên cao hay cũng
chẳng cần đề câu thoại đầu quá thấp. Đề khởi thoại
đầu lên cao quá thì sẽ bị trạo cử. Đề khởi thấp quá
thì sẽ bị lạc vào hôn trầm, trái ngược tâm tánh, chẳng
phải trung đạo. Mọi người đều sợ vọng tưởng, nên việc
hàng phục chúng rất khó. Tôi xin thưa với quý vị rằng chớ
sợ vọng tưởng, cũng chẳng cần phí công sức hàng phục
chúng. Quý vị chỉ việc nhận rõ vọng tưởng, chứ không
nên chấp trước vào chúng, không chạy theo chúng, lại cũng
chẳng cần đuổi dẹp chúng; chỉ việc ngưng tâm niệm khởi
liên tục, thì tự rời vọng tưởng. Vì vậy bảo rằng biết
vọng khởi, tức là giác ngộ; nghĩa là rời xa vọng tưởng.
Phải
nên lợi dụng vọng tưởng mà hạ thủ công phu, như xem khán
coi chúng xuất phát từ chỗ nào. Nếu nhận ra vọng tưởng
vốn vô tánh, bản thể vốn không thì liền trở về tâm tánh
bổn không của chúng ta. Tự tánh pháp thân thanh tịnh của
chư Phật ngay nơi đó liền hiện ra trước mắt.
Bàn
về lý rốt ráo, chân và vọng vốn đồng một thể; chúng
sanh và chư Phật không hai; sanh tử và Niết Bàn, Bồ Đề
và phiền não, chúng đều là bổn tâm bổn tánh, mà không
nên khởi tâm phân biệt như đắm chấp hay nhàm chán hoặc
thủ hay xả. Tâm thanh tịnh này, gốc vốn là Phật, chẳng
cần dùng một pháp. Lý này thật nhiều lời. Hãy tham khán!
XV.
Khai thị tại thiền đường [^]
Quý
vị thường đến cầu thỉnh khai thị, khiến tôi cảm thấy
rất xấu hổ. Quý vị ngày ngày khổ nhọc, bửa cũi cuốc
đất, san bằng đất đai, vác ngói mang gạch. Tuy bận rộn
từ sáng đến tối, nhưng không quên mất tâm niệm tu hành,
mà luôn tinh tấn chú trọng vào đạo, thật khiến cho người
khác phải cảm động. Hư Vân tôi rất xấu hổ vì chẳng
có đạo, chẳng có đức, chẳng có thể nói lời khai thị
cao vọng, chỉ lập lại lời dư thừa của người xưa, để
đối đáp cùng quý vị.
1/
Phương pháp dụng công nhập đạo.
Phương
pháp dụng công tu đạo rất nhiều. Hiện tại bàn thảo tóm
lược.
A/
Điều kiện tiên quyết của việc tu đạo.
a/
Tin sâu lý nhân quả.
Người
muốn dụng công tu đạo, việc đầu tiên là phải tin sâu
lý nhân quả. Nếu không tin nhân quả, thì làm những việc
hàm hồ. Chẳng những việc tu đạo khó thành công mà ba đường
ác cũng không thể thiếu mình. Phật dạy:
- Muốn
biết nhân đời trước, phải nhìn đời này mình thọ quả
báo gì. Muốn biết quả đời tương lai, phải xem đời này
mình đang gieo nhân gì.
Phật
lại bảo:
- Giả
sử nghiệp tội đã tạo trong trăm ngàn kiếp chưa tan, khi
nhân duyên đến, quả báo phải tự thọ.
Kinh
Lăng Nghiêm thuyết: "Nhân địa bất chân chánh thì phải chiêu
quả báo cong vạy".
Trồng
nhân thiện thì kết quả lành. Trồng nhân ác thì kết quả
xấu. Trồng dưa được dưa, hay trồng đậu thì được đậu.
Đây là đạo lý tự nhiên. Đàm luận về lý nhân quả, tôi
sẽ đơn cử hai câu chuyện xưa để chứng minh.
Chuyện
thứ nhất là việc vua Lưu Ly diệt chủng tộc họ Thích. Trước
thời Phật Thích Ca, trong thành Ca Tỳ La Vệ có một thôn xóm
chuyên môn đánh cá. Trong thôn xóm có một hồ lớn. Khi ấy,
thời tiết hạn hán, nước khô cạn. Tất cả cá lớn nhỏ
đều bị dân làng bắt ăn hết, duy chỉ còn một con cá lớn
nhất, gần bị nắng thiêu chết. Trong làng có một đồng
tử xưa nay chưa từng ăn thịt cá, nhưng trong ngày ấy lại
giỡn chơi, lấy cây côn đập trên đầu cá ba lần. Sau này,
trong thời Phật Thích Ca ra đời, có vua Ba Tư Nặc rất tin
tưởng sùng phụng Phật Pháp. Ông ta lấy bà hoàng hậu vốn
thuộc dòng nô tỳ của họ Thích Ca. Bà ta hạ sanh được
một thái tử, tên là Lưu Ly. Lúc nhỏ, vua Lưu Ly thường ở
thành Ca Tỳ La Vệ học hành. Ngày nọ, vì giỡn chơi, thái
tử Lưu Ly leo lên tòa ngồi của Phật, nên bị người thuộc
dòng dõi Thích Ca mắng chửi đuổi xuống. Do đó, ông ta oán
hận trong tâm. Đến khi lên ngôi vua, ông ta liền thống lãnh
đại binh đánh chiếm thành Ca Tỳ La Vệ, tàn sát hết dân
chúng trong thành. Khi đó, Phật bị nhức đầu dữ dội trong
ba ngày liền. Các đại đệ tử đều thỉnh Phật tìm cách
giải cứu dòng họ Thích Ca, nhưng Ngài bảo rằng định nghiệp
khó mà chuyển nổi. Tôn giả Mục Kiền Liên dùng thần thông,
bỏ năm trăm thân tộc dòng họ Thích Ca vào bình bát rồi
bay lên hư không để giải cứu họ. Sau khi đến nơi khác,
định bỏ họ xuống, nhưng khi Tôn Giả nhìn lại trong bình
bát thì chỉ thấy toàn là máu. Chư đại đệ tử thỉnh hỏi
Phật về nhân duyên của việc này. Đức Phật liền kể lại
câu chuyện dân làng trong thành Ca Tỳ La Vệ ăn thịt cá thuở
xưa mà vua Lưu Ly là tiền thân của con cá lớn nhất. Quân
sĩ binh lính của ông ta vốn là những cá trong hồ thuở kiếp
xưa. Dân chúng thuộc dòng họ Thích Ca bị vua Lưu Ly giết,
vốn là dân làng ăn thịt cá vào lúc ấy. Tiền thân của
đức Phật là đồng tử. Vì giỡn chơi, đánh trên đầu con
cá lớn nhất nên bị quả báo bệnh nhức đầu ba ngày. Định
nghiệp thật khó trốn chạy. Năm trăm thân tộc họ Thích
Ca, tuy được tôn giả Mục Kiền Liên cứu thoát, nhưng tánh
mạng vẫn tiêu tan, không thể lẩn trốn. Sau này vua Lưu Ly
bị đọa địa ngục. Oan oan tương báo, chẳng hẹn ngày giờ.
Nhân quả thật đáng sợ.
Chuyện
thứ hai là việc tổ Bá Trượng cứu độ con hồ ly. Ngày
nọ, sau khi tổ Bá Trượng giảng kinh xong, mọi người đều
giải tán, nhưng chỉ còn lại một ông lão chưa chịu ra về.
Tổ Bá Trượng thấy vậy liền hỏi nguyên do. Ông lão liền
đáp:
- Con
chẳng phải là người, mà vốn là hồ ly tinh. Đời trước
đã từng tu hành ở nơi đây. Ngày nọ, có người hỏi con
rằng bậc đại tu hành (liễu ngộ) còn bị lạc vào nhân
quả hay không ? Khi ấy con đáp là không lạc vào nhân quả.
Nhân vì câu trả lời đó mà bị đọa lạc làm thân hồ ly
tinh trải qua năm trăm năm, không cách nào giải thoát được.
Nay thỉnh Hòa Thượng từ bi khai thị chỉ dạy.
Tổ
Bá Trượng bảo:
- Nay
ông hãy hỏi lại ta câu đó đi.
- Thỉnh
vấn Hòa Thượng. Người tu hành lâu năm có bị lạc vào nhân
quả hay không ?
- Không
lầm nhân quả.
Nghe
lời này ông lão liền đại ngộ, bèn lễ bái cảm tạ:
- Nhờ
lời dạy của Hòa Thượng, nay con đã thoát được thân hồ
ly tinh. Con vốn ở trong hang đá sau núi. Xin thỉnh Hòa Thượng
ngày mai làm lễ theo cách thức an táng một vị tăng.
Qua
hôm sau, tổ Bá Trượng ra hang sau núi, thấy xác chết của
một con hồ ly tinh, nên liền làm lễ an táng giống như một
vị tăng.
Chúng
ta nghe đến hai câu chuyện này, biết rõ nhân quả thật đáng
sợ. Tuy đã thành Phật rồi nhưng không thể miễn quả báo
đau đầu. Báo ứng chẳng sai chạy chút nào. Định nghiệp
thật khó trốn thoát. Vì vậy, trong mọi thời chúng ta phải
nên cẩn trọng, chớ tạo nhân xấu.
b/
Nghiêm trì giới luật.
Đối
với công phu tu đạo, việc đầu tiên là phải trì giới.
Giới là gốc của đạo Bồ Đề vô thượng. Do giới mà sanh
định. Do định mà phát huệ. Nếu không trì giới mà muốn
tu hành thì không thể được. Kinh Lăng Nghiêm nói đến việc
đức Phật răn nhắc chúng ta về bốn hạnh thanh tịnh. Chẳng
trì giới mà muốn tu chánh định thì không thể nào thoát
khỏi trần lao. Lại nữa, dầu hiện tại có phát sanh trí
huệ hay thiền định, nhưng vẫn bị lạc vào tà ma ngoại
đạo. Vì vậy, biết rõ việc trì giới rất quan trọng. Người
trì giới luôn được chư long thần ủng hộ, tà ma ngoại
đạo kính phục nể sợ. Người phá giới thì quỶ gọi là
kẻ cướp, nên chúng thường đi theo xóa dấu chân họ.
Xưa
kia, nơi cạnh vương thành của nước Kế Tân, có một ngôi
già lam. Gần đó có một con rồng độc, thường hiện ra hại
người địa phương. Thế nên, năm trăm vị A La Hán trong chùa
đó hợp lại nhau, dùng lực thiền định để đuổi con rồng
độc này đi, nhưng không thể được. Sau này, có một vị
tăng chưa từng biết đến thiền định, mà chỉ nói với
con rồng độc câu:
- Nầy
Hiền Thiện ! Xin hãy rời khỏi chỗ này.
Nghe
thế, rồng độc liền bay đi nơi khác. Chúng tăng A La Hán
hỏi vị tăng kia rằng dùng thần thông gì mà đuổi được
rồng độc. Vị tăng kia đáp:
- Tôi
không biết dùng thần lực thiền định, nhưng chỉ chân chánh
trì giới cẩn mật. Hộ trì giới khinh cũng như giới trọng.
Chúng
ta hãy suy nghĩ xem, lực thiền định của năm trăm vị A La
Hán, không thể sánh bằng một vị tăng nghiêm thủ giới luật.
Có
người bảo rằng Lục Tổ thường dạy:
- Tâm
bình thì nhọc gì trì giới. Tâm hạnh chất trực thì cần
gì tham thiền ?
Tôi
xin hỏi rằng quý vị đã đạt đến tâm bình và chất trực
chưa ? Nếu có một cô hằng nga thân hồng lõa thể ôm chầm
lấy mình, quý vị có động tâm không ? Nếu có người vô
cớ nhục mạ đánh đập, quý vị có sanh tâm sân hận không
? Quý vị có thể không sanh tâm phân biệt oán thân thương
ghét, thị phi mình người không ? Thuần thục làm được như
thế thì mới nên to tiếng. Bằng ngược lại, chớ nói lời
trống rỗng.
c/
Tín tâm kiên cố.
Muốn
dụng công tu đạo, đầu tiên phải có tín tâm kiên cố. Niềm
tin là mẹ của tất cả công đức. Dẫu là việc gì, nếu
không có tín tâm thì làm không thể xong. Chúng ta nếu muốn
thoát khỏi sanh tử, thì phải cần có tín tâm kiên cố. Phật
bảo rằng chúng sanh trên cõi đất đều có đức tướng trí
huệ của Như Lai. Chỉ vì vọng tưởng chấp trước, nên không
thể chứng đắc. Vì thế, Phật mới thuyết bao pháp môn sai
biệt, để đối trị tâm bệnh của chúng sanh. Chúng ta phải
tin tưởng rằng lời Phật dạy không bao giờ là hư ngữ rỗng
tuếch. Phải tin rằng chúng sanh đều có thể thành Phật.
Tại sao chúng ta chưa có thể thành Phật ? Do vì chúng ta không
y theo pháp mà quyết chí hạ thủ công phu. Ví như tuy biết
rằng hạt đậu nành có thể làm ra đậu hủ, nhưng nếu chẳng
làm thì hạt đậu nành không thể biến thành đậu hủ. Thế
nên, phải làm phải tạo. Nếu bỏ thạch cao không đúng lượng
thì không thể thành đậu hủ. Nếu đúng như pháp mà nấu
chín, lọc cặn bả, rồi bỏ thạch cao đúng phân lượng,
thì quyết định sẽ thành đậu hủ. Tu đạo cũng như thế.
Nếu chẳng dụng công phu kiên cố hay đúng pháp thì không
thể thành Phật. Nếu tu hành đúng như giáo pháp mà không
thối thất và không hối hận, thì quyết định sẽ thành
Phật. Vì vậy, phải nên tin tưởng thâm sâu rằng chúng ta
sẽ thành Phật, rồi y theo giáo pháp của Phật dạy mà tu
hành, thì quyết định sẽ thành Phật.
Thiền
sư Vĩnh Gia bảo:
- Chứng
thật tướng, không nhân pháp. Trong khoảng sát na, liền diệt
nghiệp A Tỳ. Nếu dùng lời vọng ngữ dối chúng sanh, thì
tự chiêu nghiệp cắt lưỡi hằng sa kiếp.
Thiền
Sư vì lòng từ bi, muốn kẻ hậu lai có tín tâm kiên cố,
nên phát thệ nguyện rộng lớn như thế.
d/
Quyết định hành trì một pháp môn.
Có
tín tâm đầy đủ rồi, thì phải chọn lựa ra một pháp môn
để tu trì. Không thể sáng qua nước Tần, tối lại đến
nước Sở. Niệm Phật cũng được. Trì chú cũng hay. Tham thiền
cũng tốt. Nói chung, điều quan trọng là phải quyết chọn
một pháp môn, rồi vận dụng hết tài năng mà tu tập, mãi
mãi không thối thất hay hối hận. Hôm nay chưa thành công,
nhưng ngày mai sẽ được. Năm nay chưa thành công, nhưng năm
sau sẽ thành. Đời nay chưa thành tựu, nhưng đời sau sẽ
thành. Ngài Quy Sơn bảo:
- Đời
đời nếu không thối chuyển thì quả vị Phật chắc chắn
sẽ có kỳ.
Có
nhiều người không chú ý điều này. Hôm nay nghe thiện tri
thức này bảo niệm Phật rất hay, liền đi niệm Phật hai
ngày liền. Kế đến, nghe vị thiện tri thức khác bảo tham
thiền rất tốt, thì liền ngồi thiền thêm hai ngày nữa.
Đùa giỡn bên đông, lại giỡn cợt bên tây. Đùa giỡn cả
đời cho đến chết. Mãi giỡn chơi khinh nhờn, có uổng đời
tu lắm không !
e/
Phương pháp tham thiền.
Pháp
môn dụng công tuy nhiều, nhưng chư Phật Tổ đều dùng pháp
môn vi diệu vô thượng này. Trong pháp hội Lăng Nghiêm, Phật
bảo Bồ Tát Văn Thù chọn lựa pháp môn viên thông. Đại
sĩ Văn Thù liền chọn pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông của Bồ
Tát Quán Âm làm bậc nhất.
Chúng
ta nghe lại tự tánh của mình. Đó chính là tham thiền. Trong
thiền đường, nay tôi phải giảng về pháp môn tham thiền.
g/
Người ngồi thiền phải biết.
Khi
làm mọi công việc hằng ngày, phải luôn hướng tâm vào đạo.
Nếu được như thế, thì nơi nào lại không phải là đạo
tràng ? Lúc dụng công, không nên chấp trước thiền đường
này nọ. Chẳng phải ngồi mới gọi là thiền. Gọi thiền
đường hay tọa thiền, bất quá chỉ lập ra vì chướng sâu
trí huệ cạn của chúng ta trong đời mạt pháp.
Ngồi
thiền phải biết cách điều dưỡng thân tâm cho hay. Lúc không
biết cách điều dưỡng, nếu ít thì sẽ bị bệnh tật, còn
nếu nhiều thì bị gặp ma chướng. Thật tiếc lắm thay !
Trong thiền đường, lúc tọa hương (ngồi thiền) hay hành
hương (đi hành thiền) phải dụng ý nơi việc điều dưỡng
thâm tâm. Phương pháp điều dưỡng thâm tâm có rất nhiều.
Nay đơn lược bàn luận.
Lúc
xếp bằng, phải ngồi thẳng người một cách tự nhiên. Không
nên khởi tâm tác ý, đưa đẩy eo lưng nghiêng về phía trước.
Nếu làm như thế, thì sẽ khiến khí hỏa bốc lên. Kết quả,
sau khi ngồi thiền, nước mắt chảy tràn trề, mũi miệng
thở khì, ăn uống mất mùi vị, thậm chí có thể bị ói
mửa ra máu. Lại nữa, không nên đẩy eo lưng nghiêng về phía
sau, hoặc rụt vai rút đầu, vì sẽ dễ dàng bị lạc vào
hôn trầm. Lúc bị hôn trầm, phải mở mắt to ra, kéo thẳng
eo lưng lại, nới rộng dây lưng, lung lay động đậy thân
nhè nhẹ thì hôn trầm sẽ tự biến mất.
Nếu
dụng công quá gấp gáp, thân tâm sẽ cảm giác phiền muộn
khô khan. Khi đó phải xả bỏ muôn duyên, ngay cả công phu
cũng xả bỏ. Nghĩ ngơi chừng nửa cây nhang, rồi vừa cảm
thấy thoải mái dễ chịu, liền tiếp tục đề khởi công
phu. Ngược lại thì ngày tháng tích lũy, khiến tánh biến
thành cộc cằn dễ giận, thậm chí gặp ma cảnh liền phát
điên cuồng.
Ngồi
thiền đến lúc được đôi chút thọ dụng, thì cảnh giới
hiện ra rất nhiều, kể không thể hết. Điều cần thiết
là quý vị chớ chấp truớc vào chúng, thì chúng không thể
tạo chướng ngại cho mình. Người thế tục có câu: "Thấy
quái vật nhưng không cho là kỳ quái, thì quái vật tự tiêu
tán".
Tuy
thấy yêu ma quỶ quái đến quấy nhiễu chọc phá, nhưng quý
vị chớ màng để ý đến chúng, hoặc chớ sợ hãi. Ngay cả
thấy Phật Thích Ca đến dùng tay xoa đầu thọ ký, quý vị
cũng chớ để ý đến, hay khởi tâm vui mừng.
Kinh
Lăng Nghiêm nói: "Nếu không khởi tâm thánh, tức gọi là cảnh
giới lành. Nếu khởi tâm thánh giải, tức lạc vào loài tà
kiến".
B/
Hạ thủ công phu.
a/
Phải nhận rõ chủ khách.
Hạ
thủ công phu như thế nào ? Trong pháp hội Lăng Nghiêm, tôn
giả Kiều Trần Như có nói đến hai chữ "Khách Trần", đó
chính là nơi sơ tâm hạ thủ dụng công của chúng ta. Tôn
Giả nói:
- Ví
như hành khách nương ở lữ quán, hoặc ngủ hoặc ăn uống.
Ăn uống ngủ nghỉ xong liền thu xếp hành lý, tiếp tục cất
bước, không nhàn rỗi ở lại. Nếu thật là chủ nhân thì
tự không đến đi. Suy nghĩ như thế, không trụ là khách,
trụ lại gọi là chủ nhân. Lại nữa, ví như sau cơn mưa
mặt trời mọc lên, ánh sáng chiếu soi khắp hư không, thấy
rõ tướng của bụi bặm. Bụi bặm tánh vốn dao động. Hư
không tánh vốn tịch tĩnh an nhiên. Lắng đọng tịch tĩnh
gọi là hư không. Dao động gọi là bụi bặm, khách trần.
Khách
trần tức là bụi bặm, dụ cho vọng tưởng. Hư không tức
là chủ, dụ cho tự tánh. Thường trụ chính là chủ nhân,
vốn không như lữ khách lúc đến lúc đi. Chủ nhân dụ cho
tự tánh thường trụ, vốn không tùy theo vọng tưởng mà
chợt sanh chợt diệt. Vì vậy bảo rằng nếu vô tâm nơi muôn
vật, thì sợ gì muôn vật quấy nhiễu làm trở ngại mình.
Chất
trần, tức bụi bặm tự dao động, vốn làm chướng ngại
hư không tịch tĩnh vô trước. Ví như vọng tưởng, vốn tự
sanh diệt nhưng không ngăn ngại tự tánh vô trước, như như
bất động. Thế nên bảo rằng một niệm không sanh, muôn
pháp chẳng lỗi.
Trong
đây chữ "Khách" là nghĩa thô, còn chữ "Trần" là nghĩa vi
tế. Người sơ phát tâm tu đạo, đầu tiên phải cần nhận
thức hai chữ "Chủ" và "Khách" thì không còn bị vọng tưởng
trói buộc lôi kéo. Tiến thêm một bước nữa là phải hiểu
rõ hai chữ "Không" và "Trần" thì vọng tưởng không thể làm
trở ngại. Vì thế bảo rằng nhận rõ thì không còn là oán
thù. Nếu lãnh hội rõ ràng được như thế thì công phu tu
đạo đã đi quá nữa đường rồi.
b/
Thoại đầu cùng nghi tình.
Lịch
đại Tổ Sư luôn chỉ thẳng vào tâm, để thấy tánh thành
Phật. Như pháp "An Tâm" của Đạt Ma Tổ Sư hay "Luận Kiến
Tánh" của Lục Tổ; điều trọng yếu là phải thừa nhận
lãnh hội, mà không cần khán thoại đầu. Tâm người hiện
đời không giống như tâm người xưa, không thể quyết tâm
đạp đất, chỉ đùa giỡn khinh lờn; ai ai cũng lo đếm châu
báu cho kẻ khác, rồi lại cho rằng những châu báu đó là
của mình. Vì thế chư Tổ sư, mỗi vị đều xuất thủ nhãn,
lập ra tông môn pháp thức, như pháp khán thoại đầu, để
khiến người học đạo biết cách tu hành.
Thoại
đầu có rất nhiều, như "Muôn pháp quy về một. Một quy về
nơi nào ?" "Bản lai diện mục của chúng ta trước khi được
cha mẹ sanh như thế nào ?", v.v... Tuy nhiên, câu "niệm Phật
là ai" là phổ thông nhất.
Tại
sao gọi thoại đầu ? Thoại là lời nói. "Đầu" là đầu
tiên; tức là tâm niệm thanh tịnh sẵn có, trước khi khởi
vọng niệm rồi phát ra lời nói. Tâm niệm trước khi khởi
câu "A Di Đà Phật", được gọi là thoại đầu. Một niệm
chưa sanh, gọi là thoại đầu. Niệm đã sanh rồi thì gọi
là thoại đuôi. Niệm chưa sanh gọi là không sanh, không trạo
cử, không hôn trầm, không đắm trước vào cảnh tịnh, không
lạc vào trầm không, hay cũng gọi là không diệt. Thời thời
khắc khắc, luôn luôn nhất niệm, xoay lại phản chiếu vào
cái "không sanh không diệt", nên được gọi là khán thoại
đầu, hay chiếu cố thoại đầu.
Đối
với việc khán thoại đầu, đầu tiên phải phát khởi nghi
tình. Nghi tình là cây tích trượng của quán thoại đầu.
Sao gọi là nghi tình ? Như hỏi "Niệm Phật là ai", thì ai ai
cũng biết người niệm chính là mình. Tuy nhiên, chúng ta dùng
miệng niệm hay dùng tâm niệm ? Nếu dùng miệng niệm thì
khi ngủ, miệng vẫn còn đó, sao lại không niệm ? Nếu dùng
tâm niệm, thì tâm này hình dạng như thế nào ? Không thể
nắm bắt sờ mó tâm này được. Vì không hiểu rõ như thế,
nên ngay chữ "Ai" phát khởi niệm nghi ngờ nhè nhẹ. Tuy nhiên,
chớ đề khởi quá thô. Phải đề khởi càng vi tế chừng
nào thì càng hay chừng đó. Tùy thời tùy nơi, mãi mãi chiếu
cố vào nghi niệm này, giống như nước suối chảy mãi không
ngừng, mà chẳng sanh hai niệm. Nếu đã khởi nghi niệm lên,
chớ động đến. Nghi niệm chưa có, phải nên nhè nhẹ đề
khởi. Người sơ phát tâm, tu hành trong tịnh dễ đắc thọ
dụng hơn trong động, nhưng điều thiết yếu là chớ sanh
khởi tâm phân biệt. Không để ý có định lực hay không
định lực, và mình đang ở trong tịnh hay trong động, mà
chỉ nhất tâm nhất ý hạ thủ công phu là đủ rồi.
Trong
bốn chữ: "Niệm Phật là ai", thì chữ "Ai" là quan trọng nhất.
Ba chữ kia, bất quá chỉ là ngôn từ mà thôi, như tự hỏi
ăn cơm mặc áo là ai ? Đi đại tiểu tiện là ai ? Khởi vô
minh phiền não là ai ? Thường biết thường giác là ai ? Lúc
đi đứng nằm ngồi, phải luôn đề khởi chữ "Ai" thì mới
phát khởi được nghi niệm dễ dàng. Chớ suy lường xét đoán
khởi ý có hoặc không. Chữ "Ai" của câu thoại đầu thật
là diệu pháp của việc tham thiền, nhưng chớ niệm chữ "Ai"
hay bốn chữ "niệm Phật là ai" như niệm danh hiệu Phật,
hoặc chớ suy lường xét đoán, xem coi ai là người niệm Phật,
rồi gọi đó là nghi tình. Nếu đem bốn chữ "Niệm Phật
là ai" mà dùng miệng niệm mãi không ngừng thì không thể
nào bằng công đức niệm một câu "A Di Đà Phật" .
Có
người hàm hồ suy nghĩ loạn động, tìm đông kiếm tây, rồi
cho đó là nghi tình. Phải nên biết, càng suy tưởng thì vọng
niệm càng khởi lên nhiều. Muốn thăng nhưng ngược lại bị
đọa. Điều này người tu hành phải nên biết đến.
Người
sơ cơ phát khởi nghi tình rất thô thiển. Lúc đứt đoạn,
lúc liên tục, lúc thuần, lúc không thuần, thì chưa được
tính là khởi được nghi tình, mà chỉ gọi là khởi vọng
tưởng. Tuy nhiên, tu càng lâu thì tâm cuồng loạn từ từ
sẽ được điều phục, và niệm đầu cũng có nơi trụ được
đôi chút. Lúc ấy mới gọi là tham thiền. Công phu từ từ
thuần thục; không khởi nghi tình mà vẫn tự nghi, lại cũng
không biết ngồi nơi nào, và cũng không biết đến thân, tâm,
thế giới. Niệm nghi đơn độc sẽ từ từ hiển hiện, không
gián đoạn; đó gọi là khởi nghi tình. Thật tình mà nói,
lúc đầu dụng công chỉ toàn là vọng tưởng nổi lên. Đến
khi nghi tình chân thật hiện ra thì lúc đó mới chân thật
là dụng công. Khi ấy, dễ dàng vượt qua cửa ải lớn để
rẽ vào chánh lộ.
Thứ
nhất, sẽ đạt đến cảnh giới thanh tịnh khinh an vô hạn.
Nếu bỏ mất công phu giác chiếu, liền nhập vào trạng thái
hôn trầm nhè nhẹ. Nếu có vị minh nhãn thiện tri thức ở
kế bên, biết được cảnh giới này của mình, dùng cây hương
bản đập cho một hèo, thì mây mù che đầy trời đất liền
tản mác. Ngay nơi đó, rất có nhiều cơ hội ngộ đạo.
Thứ
hai, lúc thanh tịnh, không không đỗng đỗng, nếu nghi tình
mất đi, thì đó là vô ký, tức ngồi trên cây khô đá cứng,
hoặc gọi là "băng đóng quanh tảng đá". Đến lúc đó phải
đề khởi nghi tình. Đề khởi nghi tình tức là giác chiếu.
Giác tức là không mê muội, và là trí huệ. Chiếu tức là
không loạn động, và là định. Đơn độc trụ nơi một niệm;
trầm nhiên mà tịch chiếu, như như bất động, linh linh bất
muội, liễu liễu thường tri, như khói nóng xông lên, như
xoay một cuồn tơ mãi không dừng. Dụng công đến đây, phải
có đầy đủ mắt thanh tịnh kim cang, mà không cần đề khởi
nghi tình nữa. Nếu đề khởi tức là đem đầu mà đặt lên
đầu. Xưa kia có vị tăng hỏi lão nhân Triệu Châu:
- Không
thể đem một vật đến thì làm sao ?
Triệu
Châu đáp:
- Xả
bỏ nó.
- Một
vật còn không thể đem đến, thì xả bỏ cái gì ?
- Xả
bỏ không được, thì đuổi nó đi.
Nói
đến việc này, như gió trong ánh sáng, như người uống nước
tự biết lạnh nóng, không thể dùng lời nói mà đạt được.
Người đạt đến đó, tự nhiên hiểu rõ. Chưa đạt đến
thì nói chi cũng vô ích. Vì vậy bảo:
- Trên
đường gặp kiếm khách liền trình kiếm. Chẳng phải thi
nhân chẳng trình thi.
C/
Chiếu cố thoại đầu cùng phản văn văn tự tánh.
Hoặc
hỏi:
- Pháp
môn phản văn văn tự tánh (nghe lại tánh nghe của mình) của
Bồ Tát Quán Âm có phải được xem là pháp môn tham thiền
không ?
Bàn
về việc chiếu cố thoại đầu, tức là bảo quý vị thời
thời khắc khắc, đơn độc trụ nơi một niệm, hồi quang
phản chiếu vào cái "không sanh không diệt (thoại đầu)".
Phản văn văn tự tánh (nghe lại tự tánh của mình), tức
là bảo quý vị thời thời khắc khắc trụ nơi một niệm
để nghe lại tự tánh của mình. "Hồi" tức là xem ngược
lại. "Không sanh không diệt" tức là tự tánh. Cái "Nghe" khác
với cái "chiếu" tức là khi thuận dòng thì nghe âm thanh, thấy
sắc tướng. Tuy nhiên, nghe mà không vượt ngoài âm thanh. Thấy
mà không vượt khỏi sắc tướng, hiển nhiên phân biệt rõ
ràng. Lúc đi nghịch dòng thì nghe lại tự tánh của mình,
không chịu chạy theo âm thanh sắc tướng, để trở về nguồn
nhất thể tinh minh (một thể sáng soi). Khi đó, cái "nghe" và
cái "chiếu" không còn là hai.
Chúng
ta nên biết rằng gọi chiếu cố thoại đầu, hoặc gọi nghe
lại tự tánh của mình, tuyệt đối không dùng mắt để thấy,
lại cũng không dùng tai để nghe. Nếu dùng mắt để thấy,
hoặc dùng tai để nghe, đó là chạy theo âm thanh sắc tướng,
tức bị vật chuyển, nên gọi là thuận dòng. Nếu đơn độc
trụ nơi một niệm "không sanh không diệt" mà chẳng chạy
theo âm thanh sắc tướng, thì gọi đó là nghịch dòng, và
là chiếu cố thoại đầu, hay nghe lại tự tánh của mình.
D/
Tâm thiết tha vì việc sanh tử, cùng phát tâm lâu dài.
Đối
với việc tham thiền, điều quan trọng là cần có tâm thiết
tha vì sanh tử, cùng phát tâm tu hành dài lâu. Nếu không có
tâm thiết tha vì sự sanh tử thì nghi tình không thể khởi,
và công phu không thể tăng tiến. Nếu không phát tâm tu hành
dài lâu, mà một nóng mười lạnh, thì công phu không thể
thành phiến. Chỉ trọng yếu có tâm dài lâu thì nghi tình
mới có thể đề khởi. Lúc nghi tình chân thật đề khởi
được thì phiền não trần lao không ngừng cũng tự ngừng.
Lúc đó, tự nhiên nước chảy đến đâu thì thành ngòi rạch
đến đó. Nay tôi sẽ kể câu chuyện mắt thấy tai nghe.
Đời
Thanh, vào năm 1900, liên quân tám quốc gia tiến vào kinh đô.
Khi ấy tôi cùng đi theo đoàn quân hộ giá vua Quang Tự và
thái hậu Từ Hi. Đoàn hộ giá phải chạy bộ về hướng
tỉnh Xiểm Tây. Mỗi ngày chạy hàng chục dặm. Đôi khi không
có thức ăn nước uống. Trên đường dân chúng dâng rau dại
khoai rừng cho vua ăn. Vua ăn xong rồi lại hỏi những thứ
rau đó là gì mà sao ngon quá vậy ! Quý vị xem coi, hoàng đế
ngày thường mặc áo long bào, oai phong lẫm liệt. Ông ta có
từng chạy bộ trên đường lộ, bị đói lép bụng, ăn rau
dại khoai rừng không ? Tuy nhiên, khi chạy lánh nạn, long bào
không dám đắp, không còn tỏ vẻ oai phong lẫm liệt, chỉ
lăng xăng chạy trên đường lộ, đói khát phải ăn rau dại
khoai rừng. Tại sao xả bỏ được hết ? Vì liên quân muốn
bắt nhà vua, nên ông phải chú tâm chạy trốn lánh nạn để
bảo toàn sanh mạng. Sau khi nghị hòa, nhà vua xa giá hồi kinh,
lại đắp long bào, lại tỏ vẻ oai phong lẫm lẫm, không thể
chạy lăng xăng trên đường lộ, không còn đói khát. Nếu
không phải là những món cao lương mỸ vị, thì không thể
nuốt khỏi cổ. Tại sao khi đó không thể xả bỏ được
? Vì liên quân không còn tầm nả nhà vua. Ông cũng chẳng có
tâm chạy trốn nữa. Nếu nhà vua dùng tâm trạng chạy lánh
nạn mà tu đạo thì lo gì không ngộ đạo. Tuy nhiên, tiếc
thay nhà vua không có tâm dài lâu. Gặp cảnh thuận thì tánh
xưa liền nổi lại.
Quý
vị đồng tham học ! QuỶ vô thường luôn chờ chực sanh mạng
của chúng ta. Nó không thể "Hòa Nghị" với chúng ta được.
Vì vậy, phải mau quyết chí phát tâm dài lâu để chặt đứt
dòng sanh tử !
Tổ
Cao Phong bảo:
- Nếu
muốn tham thiền có kỳ khắc thành tựu, thì phải xả bỏ
tất cả như bị té xuống giếng sâu ngàn thước. Từ sáng
đến tối, từ tối đến sáng, gom ngàn tư tưởng, muôn tư
tưởng về một tâm cầu ra khỏi dòng sanh tử, mà rốt ráo
quyết không khởi hai niệm. Dụng công khẩn thành như thế,
hoặc ba ngày, hoặc năm ngày, hoặc bảy ngày, nếu không triệt
ngộ, Cao Phong tôi hôm nay bị phạm tội đại vọng ngữ, mãi
mãi đọa địa ngục cắt lưỡi.
Tổ
Cao Phong tâm niệm thiết tha, lòng tràn đầy từ bi, sợ chúng
ta không phát tâm dài lâu, nên mới phát thệ nguyện quan trọng
như thế.
E/
Việc khó và dễ trong khi tu đạo của người mới dụng công
và người tu hành lâu năm.
a/
Việc khó và dễ của người mới dụng công.
*/
Việc khó của người sơ phát tâm tu đạo là tâm vọng không
dứt.
Bịnh
nặng của người sơ cơ là xả bỏ vọng tưởng và tập khí
không nổi. Vô minh, cống cao ngã mạn, ghen ghét, chướng ngại,
tham lam, sân hận, tình ái, giải đãi, là những món ăn ngon.
Thị phi nhân ngã chứa đầy cả bụng, thì làm sao tương ưng
với đạo ? Có các vị xuất gia, do xuất thân từ hàng công
tử tiểu thơ đài các nên khó lòng bỏ tập khí kiêu căng
tự thị. Bị oan ức đôi chút, không thể nhẫn nổi, thì
nói gì đến việc dụng công tu đạo ? Họ chẳng biết rằng
Phật Thích Ca Mâu Ni vốn là thái tử, nhưng xả bỏ tất cả
để xuất gia tu đạo. Hoặc có vài người biết đôi chút
văn tự chữ nghĩa, nghiên tầm văn chương, trích luận kệ
cú, giải thích luận bàn thi cú cổ kim. Tuy tự chính mình
không thể nào viết lách hay liễu giải được, nhưng lại
sanh tâm cống cao ngã mạn. Khi bị bệnh nặng, kêu khổ thấu
trời. Hoặc nhằm vào ngày ba mươi tháng chạp, tay run chân
loạn; tri giải thường ngày, chẳng dùng được chút nào,
hối hận sao kịp !
Người
có chút tâm đạo, nhưng chẳng biết chỗ hạ thủ công phu.
Lại có người, rất sợ vọng tưởng; họ cố dẹp trừ mãi
mà chẳng được, nên phiền não cả ngày, rồi tự oán than
là nghiệp chướng nặng nề, khiến thối tâm tu đạo.
Hoặc
có người muốn cùng vọng tưởng thách đấu bỏ mạng, và
quyết định tử chiến với chúng, mà hùng hổ cung tay nộ
khí, ưỡn ngực trợn mắt, như gần bị giết. Tuy nhiên, không
thể nào thí mạng với vọng tưởng được, nên tức giận
lồng lộng, hộc máu phát điên cuồng.
Hoặc
có người sợ lạc vào không, tức phải nên biết tự chính
mình đã phát sanh "con quỶ" chấp không. Muốn không mà không
chẳng được. Muốn ngộ mà ngộ cũng chẳng xong.
Hoặc
có người mang tâm cầu giác ngộ, nhưng họ nào biết đâu,
nếu đem tâm cầu đạo, nghĩ tưởng thành Phật, thì đó là
đại vọng tưởng. Cát không thể nấu thành cơm; dẫu cầu
đến năm con lừa quyết chẳng ngộ đạo được.
Hoặc
có người ngồi được một hai cây hương, rồi sanh tâm vui
mừng, giống như rùa mù, ngẫu nhiên mà vớt được bọng
cây khô trên biển, chứ chẳng phải là công phu chân thật,
nên khiến ma vui mừng che lấp tâm tánh.
Hoặc
có người vì trong cảnh giới tịch tĩnh, cảm giác rất thanh
tịnh, nên không muốn tu lúc ở trong động. Vì vậy, chỉ
thích lẫn trốn nơi tịch tĩnh mà tu, nhưng nào biết đã làm
quyến thuộc của hai con ma vương chấp động tĩnh.
Những
bệnh tật khi tu thiền có rất nhiều loại. Nói chung, người
sơ cơ khi chưa đến đầu đường thì thật là khó; như có
huệ giác mà không có chiếu soi, thì dễ sanh tán loạn, khiến
tâm không thể bình lặng được. Hoặc có chiếu soi mà không
có giác, tức là khi ngồi thiền bị nước chết của vô minh
xâm nhập giết hại.
*/
Việc dễ của người sơ cơ là có thể xả bỏ hết tất
cả, chỉ còn một niệm.
Tuy
bảo rằng dụng công là khó, nhưng khi đến đầu đường
rồi thì rất dễ. Tại sao sơ tâm dụng công dễ dàng ? Vì
chưa đạt được cảnh giới thiền định chi hết, nên xả
bỏ muôn sự rất dễ. Xả bỏ cái gì ? Tức là xả bỏ hết
vô minh phiền não. Làm thế nào để xả bỏ ? Như lúc chư
tăng làm lễ cầu vãng sanh cho người quá cố, nếu quý vị
chửi mắng vài câu thì tử thi chẳng hề động đậy, nổi
khí giận hờn. Hoặc đánh vài gậy, người đó chẳng dùng
tay chống cự. Lúc sống, thường khởi vô minh, nhưng ngày
nay không còn khởi được nữa. Bình thường thích danh mến
lợi, mà nay không còn muốn. Bình thường có bao loại tập
khí ô nhiễm, nhưng nay lại không còn. Lại nữa, người đó
không còn phân biệt gì cả. Việc gì cũng xả bỏ được
hết. Quý vị đồng tham học ! Trút hơi thở cuối cùng, thân
liền trở thành xác chết. Sở dĩ chúng ta xả bỏ mọi việc
không được là vì coi trọng xác thân này, nên sanh thị phi
mình người, thương ghét thủ xả. Nếu xem rõ xác thân này
như thây chết, không quý mến nó, không cho nó là mình, thì
việc gì lại không thể xả bỏ được ! Chỉ cần xả bỏ
được thân xác này, thì trong mười hai thời, cho dầu đi
đứng nằm ngồi, trong những lúc động tịnh bận rộn rảnh
rỗi, trong ngoài thân chỉ có một niệm nghi. Bình bình hòa
hòa nghi tình không gián đoạn, và không xen lẫn tạp niệm
khác lạ. Khi đó, dùng câu thoại đầu, như cầm kiếm thiên
trường, ma đến chém ma, Phật đến chém Phật; không sợ
vọng tưởng gì cả thì ai làm trở ngại, ai phân biệt động
tĩnh, ai chấp có chấp không ? Nếu sợ vọng tưởng thì lại
khiến gia tăng thêm một tầng vọng tưởng. Biết thanh tịnh,
tức đã không thanh tịnh. Sợ lạc vào không, tức lạc nơi
có. Muốn thành Phật thì bị nhập vào đường ma. Vì thế
bảo rằng gánh nước chặt củi, không chi là đạo vi diệu.
Cuốc đất trồng rau đều là thiền cơ. Không phải xếp bằng
ngồi thiền cả ngày mà tính là dụng công tu đạo.
b/
Việc khó và dễ của người tu hành lâu năm.
*/
Việc khó của người tu hành lâu năm là trên đầu cây tre
trăm thước không thể tiến thêm một bước.
Tại
sao lại khó ? Người tu hành lâu năm, dụng tâm đến lúc nghi
tình chân thật hiện ra, phải có giác có chiếu mới vượt
qua sanh tử. Không giác không chiếu tức là lạc vào không
vọng. Đạt đến cảnh giới đó thật rất khó. Tuy nhiên,
nhiều người đạt đến đó lại hoảng hốt và sợ không
thể giải thoát, vì đứng trên ngọn tre trăm thước mà không
thể tiến thêm một bước. Có nhiều người khi đạt đến
cảnh giới này thì ngay trong định phát được chút ít trí
huệ, khiến am hiểu thấu đáo vài công án của người xưa,
liền xả bỏ nghi tình rồi tự cho là đã đại triệt đại
ngộ, nên làm thơ viết kệ, nháy mắt giương mày, xưng là
thiện tri thức, nhưng chẳng biết chính mình là quyến thuộc
ma vương.
Lại
nữa, có người hiểu sai lầm ý nghĩa các câu kệ của Đạt
Ma Tổ Sư "Ngoài ngưng các duyên, trong chẳng cấp bách, tâm
như tường vách, mới có thể nhập đạo" cùng lời dạy của
Lục Tổ "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Lúc đó, bổn lai
diện mục của thượng tọa Minh là gì ?"
Lúc
ấy, thật như ngồi trên cây khô đá cuội, người này nhận
hóa thành làm bảo sở và lầm nhận đất lạ là quê mình.
Bà già đốt am chỉ vì muốn chửi những kẻ tử Hán chấp
trước.
*/
Việc dễ của người dụng công lâu năm là công phu thầm
lặng liên tục.
Sao
gọi là dễ dàng dụng công ? Bấy giờ, chớ nên tự mãn và
chớ dừng lại nửa đường, mà phải liên tục thầm thầm
lặng lặng tu hành. Trong liên tục thầm lặng lại tăng thêm
sự liên tục thầm lặng. Trong vi tế lại thêm vi tế. Khi
thời điểm đến thì thùng gỗ tự nhiên sẽ bị lủng. Nếu
không, phải nhờ đến thiện tri thức nhổ đinh tháo chốt.
Đại
sư Hám Sơn viết kệ:
-
"Trên
đảnh núi cao vút
-
Bốn
bề rộng vô biên
-
Tĩnh
tọa không người biết
-
Ánh trăng
chiếu suối ngàn
-
Trong
suối chẳng có trăng
-
Trăng
treo trên trời xanh
-
Ngâm
nga bài ca này
-
Ca ngâm
chẳng là thiền."
Hai câu
đầu nói về tâm giác ngộ tính đơn độc chân thường của
vạn vật mà không đắm chấp vào chúng; tâm đó chiếu sáng
ngời khắp đại địa. Bốn câu kế bàn về chân như diệu
thể mà phàm phu không thể hiểu được. Ba đời chư Phật
cũng không thể tìm cầu nơi chốn của cái ngã, nên bảo là
'Không người biết'. Câu "Trăng đơn chiếu suối ngàn", ngài
Hám Sơn tự dùng thí dụ làm phương tiện để diễn đạt
cảnh giới của mình. Hai câu cuối, vì sợ người lầm ngón
tay là mặt trăng nên đặc biệt cảnh tỉnh chúng ta. Một
khi còn lời nói thì chẳng phải là thiền.
2/
Kết Luận.
Những
điều tôi vừa nói, chỉ để gỡ bụi cây dính chùm, dẹp
bỏ rắc rối. Nếu còn lời nói thì không phải nghĩa chân
thật. Các bậc cổ đức tiếp người bằng cách không đánh
thì cũng mắng; nghĩa là khai ngộ cho họ bằng những cử chỉ
hành động rất bình dị. Người tu hành hiện nay không thể
bì được với sự tu hành của người xưa. Chớ nên nhận
lầm ngón tay là mặt trăng. Quý vị đồng tham thiền ! Hãy
xem coi ngón tay ấy chính là ai ? Mặt trăng là ai ? Hãy tham
khán !
XVI.
Tham thiền cảnh ngữ (lời răn nhắc người tu thiền) [^]
Tâm
tức là Phật. Phật tức là giác. Chúng sanh và Phật đồng
có tánh giác bình đẳng này mà không khác biệt. Tâm này tuy
trụ nơi hư không tịch tĩnh mà không chấp một vật, không
thọ một pháp, không thể tu chứng. Tánh giác linh minh sáng
suốt, đầy đủ muôn đức, diệu dụng hằng sa, không thể
giả lập tu chứng. Chúng sanh do mê muội nên trầm luân trong
sanh tử. Trải qua bao kiếp dài lâu, có bao tham sân si, tình
ái, vọng tưởng chấp trước, nhiễm ô thâm trọng, nên bất
đắc dĩ mới nói tu nói chứng. Người xưa bảo rằng chẳng
in tuồng như một vật nhưng bất đắc dĩ phải dụng công,
để sống với tâm đó.
Hiện
tại đả Thiền thất đã ba ngày, tức qua nửa tuần rồi.
Ba ngày kế trong nửa tuần, thân tâm dần dần thuần thục,
thì dụng công cũng dễ hơn lúc trước nhiều. Quý vị chớ
lầm nhân duyên. Trong ba ngày kế phải hành đến độ nước
chảy đá lồi, phát minh tâm địa, thì mới không cô phụ
cơ duyên khó được này.
Trong
hơn hai mươi ngày tới, mỗi ngày từ sáng đến tối, khi vừa
thức dậy, quý vị phải nỗ lực dụng công. Tuy nhiên, có
bốn loại cảnh giới rất khó vượt qua.
Thứ
nhất, việc chọn lựa lộ trình tu học vẫn chưa rõ, và thoại
đầu tham khán đề cử lên không nổi, chỉ mơ mơ màng màng;
tuy theo đại chúng, nhưng ngủ gật gù, không thể đuổi được
vọng tưởng, đó là hôn trầm dao động.
Thứ
hai, đề khởi được thoại đầu, nên đạt được chút ít
thọ dụng, nhưng lại chấp chặt vào miếng ngói của thành
quân địch, tức chỉ lo niệm câu thoại đầu "Ai đang niệm
Phật", nên trở thành niệm thoại đầu, rồi dùng cách này
mà đề khởi nghi tình, mong muốn khai ngộ. Nào biết đâu,
đó là dụng tâm niệm thoại đuôi, tức vẫn là pháp sanh
diệt, nên chẳng bao giờ đạt đến nơi nhất niệm vô sanh.
Lúc ấy, tạm thời dụng công thì còn được, nhưng nếu chấp
trước rằng đó là pháp môn cứu cánh chân thật, thì đến
khi nào mới được ngộ đạo ? Gần đây, sở dĩ trong Thiền
tông ít xuất hiện nhân tài vì đa số người tu thiền lầm
dụng tâm nơi thoại đuôi.
Thứ
ba, nếu đã biết cách tham khán thoại đầu thì nên chiếu
cố, bằng cách nhìn vào nơi một niệm chưa sanh; hoặc biết
niệm Phật chính là tâm, tức niệm này khởi từ tâm; nhìn
suốt thẳng đến tâm tướng vô niệm, rồi từ từ sẽ đạt
được cảnh giới tịch tĩnh thì những vọng tưởng thô đều
dừng, đắc được cảnh giới khinh an nhẹ nhàng, và cũng
thấy bao cảnh giới khác xuất hiện. Khi ấy, tuy chẳng biết
thân xác trụ nơi nào nhưng thân tâm cảm giác rất nhẹ nhàng
thơ thới. Nếu thấy người và vật khả ái mà sanh tâm vui
thích, hoặc thấy cảnh giới đáng sợ mà sanh tâm sợ hãi,
hoặc thấy những cảnh giới dâm dục cùng bao loại cảnh
giới không chơn chánh, thì biết đó đều là cảnh giới ma.
Nếu bám chấp vào chúng thì sẽ sanh bệnh.
Thứ
tư, nếu nghiệp chướng nhẹ, lộ trình tu đạo thấy rõ ràng,
dụng công đều đặn hợp với căn cơ, đó là đi trên quỸ
đạo chân chánh. Nếu vọng tưởng ngưng thì thân tâm sảng
khoái sáng suốt tự tại, chẳng còn gặp cảnh giới nào cả.
Đạt đến nơi đó, phải phấn chấn tinh thần, dụng công
tiến bước. Chỉ còn một việc phải nên chú ý là có thể
đang ngồi trên đá cuội, phân vân nơi đường lộ phía trước.
Ngay nơi đó, vì bị chút ít hôn trầm mà dừng lại, hay đắc
được vài điểm huệ giải, rồi làm thơ viết kệ, tự cho
là đủ, thì liền khởi tâm cống cao ngã mạn.
Bốn
cảnh giới trên đều là thiền bệnh. Nay tôi sẽ chỉ dẫn
cách thức dùng thuốc để trị chúng.
Thứ
nhất, nếu chưa tham khán được thoại đầu, vọng tưởng
hôn trầm đầy dẫy thì quý vị phải tham khán một chữ "Ai"
trong câu thoại đầu "Ai đang niệm Phật". Tham khán được
càng lâu thì hôn trầm sẽ càng giảm bớt. Nếu đạt đến
lúc chẳng quên chữ "Ai", thì tham khán đến nơi một niệm
vừa khởi lên. Đến khi một niệm không còn khởi, tức là
đạt đến nơi vô sanh. Nếu tham khán được đến nơi một
niệm chưa sanh thì mới chân chánh gọi là tham khán thoại
đầu.
Thứ
hai, đối với người mắc bệnh dụng tâm tham khán thoại
đuôi, chấp trước vào câu "Ai đang niệm Phật", tức lầm
chấp pháp sanh diệt, thì lúc ấy phải mau chiếu thẳng vào
tâm tưởng, hướng vào nơi khởi niệm mà tham khán đến chỗ
một niệm chưa sanh.
Thứ
ba, khi quán được vô niệm, đạt khinh an tịch tĩnh, rồi
gặp những cảnh giới kỳ lạ thì phải chiếu cố nhìn lại
câu thoại đầu của mình, chẳng sanh một niệm. Phật đến
chém Phật. Ma đến chém ma. Chẳng màng đến những cảnh giới
đó thì tự nhiên vô sự, không lạc vào tà ma ngoại đạo.
Thứ
tư, khi vọng niệm dừng, tinh thần sảng khoái sáng suốt,
thân tâm tự tại, phải ứng theo lời cổ nhân: "Vạn pháp
quy về một, nhưng một quy về đâu ?"
Tiến
bước hướng đến nơi cùng cực, thẳng lên đảnh núi cao
ngất, hay hành thông suốt tận đáy biển, tức là phải vung
tay rộng thêm nữa.
Như
trên đã nói, đây chỉ là những phương pháp dành cho người
độn căn trong đời mạt pháp. Thật ra, tông môn là tối thượng
bậc nhất. Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật đưa cành hoa lên tại
pháp hội nơi núi Linh Sơn, đó là truyền ngoài giáo lý. Chư
Tổ Sư trải qua bao đời chỉ truyền một tâm pháp, tức chỉ
thẳng nhân tâm, thấy tánh thành Phật, không lạc vào giai
cấp, chẳng cần giả tu chứng; nơi một câu nửa cú liền
hiểu, không một pháp có thể đắc, và không một pháp có
thể tu; xả bỏ liền được như thế. Không khởi vọng duyên,
tức đồng như Phật. Đối với lý này, chắc quý vị đã
nghe nhiều lần rồi.