VI
12/
Ngày mười một tháng tư.
13/
Ngày mười lăm tháng tư. Khai thị nhân dịp kiết hạ an cư.
14/
Ngày mười sáu tháng tư.
15/
Ngày mười bảy tháng tư.
16/
Ngày hai mươi mốt tháng tư.
17/
Ngày hai mươi hai tháng tư.
18/
Ngày hai mươi ba tháng tư.
19/
Ngày hai mươi lăm tháng tư.
20/
Ngày hai mươi sáu tháng tư.
21/
Ngày hai mươi bảy tháng tư.
22/
Ngày hai mươi tám tháng tư.
12/ Ngày
mười một tháng tư [^]
Hai
ngày qua, lão già này làm phiền quý vị rất nhiều. Nhà cầu
cũ đã hư, mà nhà cầu mới vẫn chưa xây xong, khiến quý
vị đi đại tiểu tiện khó khăn. Cuộc sống trên thế gian
này đều là khổ, chỉ vì chưa hiểu rõ lý biến hóa. Việc
này không hài lòng, việc kia không vừa ý. Xem xét kỸ càng,
vạn vật biến hóa tồn tại do động vật cùng thực vật
hỗ tương bồi dưỡng. Tất cả động vật đều thải bỏ
phẩn uế. Nếu chê là bất tịnh, tức chấp trước vào màu
sắc, hương vị. Nơi năm sắc, năm vị, cảnh duyên tốt xấu,
đều bị động niệm. Đối với người tu hành, cũng chưa
có thể rời khỏi việc ăn uống ngủ nghỉ. Bàn về việc
ăn chay, phải dùng năm loại ngũ cốc rau quả. Lúc trồng trọt,
nếu không có phân bón thì không thu hoạch được nhiều. Phẩn
uế vốn là phân bón rất tốt. Thực vật hấp thụ phân bón
dinh dưỡng càng
nhiều
thì sanh trưởng càng mau. Con người ăn rau quả, có phải là
dùng phẩn uế không? Ăn no lại thải bỏ phẩn uế, rồi lại
dùng làm phân bón. Cứ xoay vần như thế, động vật dung dưỡng
thực vật, và thực vật nuôi dưỡng động vật. Phẩn uế
biến thành thức ăn. Thức ăn biến thành phẩn uế. Lúc ăn
sao chỉ thấy mùi vị ngon thơm mà không cho đó là bẩn thỉu?
Thức ăn là như thế, còn y phục chỗ ở cũng vậy. Hoa gấm
của vải bố, cây gỗ của nhà cửa, đều cần dùng phân
bón để trồng. Vì vậy, những gì chúng ta đang mặc và đang
trú ở đều là bẩn thỉu.
Lúc
đang sửa nhà cầu mới, hãy tạm dùng nhà cầu cũ. Phải nên
dùng vật liệu của nhà cầu cũ để xây nhà cầu mới và
chuồng trâu. Nếu hôm nay không dùng, mai đây gỗ bị mục
thúi, thì sẽ chiêu cảm quả báo lạm phí. Bàn về sự thúi
mục, thật ra trong và ngoài thân của chúng ta đều hôi hám
thúi tha hết. Nếu hiểu được lý này, thì muôn vật đều
dơ đều sạch, đều không dơ không sạch.
Có
vị tăng hỏi ngài Vân Môn:
- Thế
nào là Phật?
Ngài
Vân Môn đáp:
- Que
cứt khô!
Que
cứt khô là Phật. Phật là que cứt khô. Ý này như thế nào?
Nếu nghĩ rằng lời này thật phạm thượng, tức bị sắc
tướng chuyển. Phải nhìn thấu suốt, như như bất động,
muôn sự vô ngại. Nếu muốn không bị cảnh chuyển, tất
yếu phải dụng công. Nơi động tịnh đều vô tâm, phàm thánh
tình không, sao còn có dơ sạch? Ngôn ngữ người xưa, lập
lại thì được, nhưng hành chẳng xong. Ý nghĩa của câu trên,
khó mà giải đáp. Sao lại phạm thượng, đem que cứt khô
so sánh với Phật, một đấng tôn quý vô cực, trong loài trời
người? Người thấy tâm rõ tánh, khi nhìn sự vật liền sáng
tâm. Khi không có vật, thì tâm chẳng hiện. Người hiểu rõ
tâm địa, nơi tất cả động tịnh dơ sạch đều là tâm.
Tăng
hỏi ngài Triệu Châu:
- Thế
nào là Phật?
Triệu
Châu đáp:
- Là
điện lý.
- Điện
lý có phải là cái tượng bằng đất không?
- Phải.
- Con
không hỏi ông Phật đó.
- Vậy
ông hỏi Phật nào?
- Phật
chân thật.
- Điện
lý.
Phải
hiểu rõ những lời đối đáp trên. Phải biết rằng tất
cả đều do tâm tạo. Bàn về lý, thấy vật tức là thấy
tâm. Nơi mọi cử chỉ hành động, phải nên hạ thủ công
phu, thì mới có phần lợi ích. Nơi nơi vốn là đạo tràng.
Nếu tâm chấp trước sạch dơ, phàm thánh, thì chốn chốn
đều bị chướng ngại. Hãy hành thử xem sao! Lúc lên chánh
điện hay xuống nhà cầu, phải thường phản chiếu trở lại
tâm mình.
13/
Ngày mười lăm tháng tư. Khai thị nhân dịp kiết hạ an cư
[^]
Tối
hôm qua, thầy tri khố thưa với tôi rằng ngày mai kiết hạ
an cư, phải thiết lễ đãi trà bánh, nhưng mua không được
trái cây gì cả. Trong kho không còn chi hết, vậy phải làm
gì? Tôi đáp rằng lão tăng ở trong am tranh, chẳng biết thời
gian. Lúc thấy trăng tròn thì biết là ngày rằm. Lúc không
thấy ánh trăng thì biết là ngày ba mươi. Cỏ tươi xanh thì
biết là mùa xuân. Tuyết rơi, biết là mùa đông. Uống trà
hay uống nước, tôi chẳng hề để ý đến. Cũng vì việc
chẳng thèm để ý đến mà khiến mình tự xấu hổ. Lúc trẻ,
chạy bôn ba khắp nơi, lăng xăng lộn xộn cả vài thập niên.
Ngày nay, đầu bạc mà chưa thành tựu được gì. Lãng phí
thời giờ thật quá nhiều. Vì vậy, thiết lễ đãi trà bánh
là việc của hòa thượng trụ trì, chứ chẳng phải của
tôi.
Thời
tiết trong mỗi năm, các tông phái phân định thời gian khác
nhau. Theo Thiền tông, một năm có hai quý, tức bắt đầu vào
ngày rằm tháng giêng cùng rằm tháng bảy. Quý mùa đông thì
tham thiền, còn quý mùa hạ thì tu học. Trong luật chia ra làm
bốn quý. Rằm tháng giêng thì giải thiền thất mùa đông.
Rằm tháng tư thì nhập hạ an cư. Rằm tháng bảy thì giải
kiết hạ an cư. Rằm tháng mười thì kết thiền thất. Đấy
là bốn ngày quan trọng trong năm. Vì vậy, theo giới luật,
hôm nay chính là ngày kiết hạ an cư, ngồi cỏ kiết tường,
chuẩn bị kiết giới. Trong chín mươi ngày đêm, không thể
bước ra khỏi giới đường.
Phật
chế kiết hạ an cư vì nhiều lý do. Mùa hè, trên đường
xá có rất nhiều côn trùng. Vì đức Phật lấy lòng từ bi
làm căn bản, nên sợ rằng trong mùa hè, nếu bước ra đường,
sẽ dẫm đạp côn trùng. Ngày thường, cỏ xanh cũng không
thể dẫm đạp. Vì vậy, vào mùa hè chư tăng phải ở cấm
túc trong chùa, để hộ trì sanh mạng chúng sanh.
Lại
nữa, mùa hè trời nóng nực, ra ngoài hóa duyên, mồ hôi thấm
ướt y áo, mất cả oai nghi, nên phải cấm túc ở trong giới
đường. Đồng thời, trong mùa hè phụ nữ ăn mặc áo quần
lòe lẹt hở hang, chẳng có chút oai nghi. Tăng sĩ vào nhà họ
hóa duyên, thật rất bất tiện, nên phải kiết hạ an cư.
Xưa
kia, ngài Văn Thù kiết hạ an cư tại ba chỗ, nên bị ngài
Ca Diếp đuổi ra. Ngài Ca Diếp vừa đuổi ngài Văn Thù ra
khỏi chùa thì lại thấy muôn ngàn hóa thân của ngài Văn
Thù ở trong chùa. Ngài Ca Diếp dùng hết thần lực, nhưng
không thể đuổi được ngài Văn Thù. Vì vậy đức Thế Tôn
hỏi:
- Này
Ca Diếp, ông định đuổi Văn Thù nào ra khỏi chùa?
Ngài
Ca Diếp không lời đối đáp. Qua câu chuyện này, chúng ta
thấy rõ, sự dụng công và thần lực của Đại Thừa cùng
Tiểu Thừa không đồng. Cảnh giới Thanh Văn và Duyên Giác
khác nhau.
Chiều
hôm qua, trong tu viện, các thầy ban thủ lên chánh điện, quét
dọn, sắp đặt bài vị. Sáng nay, tăng chúng lên chánh điện
làm lễ, xướng "Án nại ma ba yết hổ đế" ba lần, rồi
lại lễ bốn vị thánh. Kế đến, ra ngoài chánh điện lễ
tổ, rồi đánh khánh ba lần, báo hiệu bắt đầu an cư kiết
hạ. Đảnh lễ hòa thượng trụ trì xong, tăng chúng đối
mặt nhau, mở tọa cụ, đồng lễ ba lạy. Kế tiếp, đến
phòng phương trượng, nghe hòa thượng trụ trì thuyết pháp.
Buổi sáng bận rộn mệt nhọc. Buổi trưa ăn uống trà bánh.
Nơi trai đường, hòa thượng trụ trì giảng trà thoại. Lúc
đó, theo giới luật, không cần lên tòa thuyết pháp.
Xưa
kia, nơi các tùng lâm tự viện, nếu có chuông bản thì mới
được gọi là thường trụ. Tại sao nơi đây không được
gọi là thường trụ? Hiện tại, trên núi Vân Cư, chỉ toàn
là am tranh, nhưng lại giống như các tự viện. Nơi đây văn
chẳng phải văn, võ chẳng phải võ. Tất cả mọi việc đều
do hòa thượng trụ trì an bày. Hiện nay, vì hòa thượng trụ
trì không có ở đây, nên tôi tạm thay mặt Ngài, giảng giải
vài lời, để kể về cung cách tham tầm học đạo của người
xưa cho quý vị sơ phát tâm nghe.
Lúc
đến am tranh này, vì thống thiết niệm nhớ sanh tử, nên
tôi luôn đề hai chữ này trên đầu lông mi, sao còn dám giỡn
cợt, lãng phí thời gian! Người tham thiền học đạo, phải
biết tự chủ, chớ để cảnh chuyển. Người xưa thiết tha,
dạy dỗ kẻ hậu lai, nơi động tĩnh đều phải nhận ra chính
mình; trong mười hai thời, chớ quên mất mình. Hòa thượng
Kim Ngưu ở Trấn Châu mỗi ngày tự nấu cơm, cúng dường
tăng chúng. Tới giờ thọ trai, Ngài mang thùng cơm đến trai
đường, vừa ca vừa hát:
- Chư
Bồ Tát, hãy đến đây ăn cơm!
Có
vị tăng hỏi Vân Môn:
- Đàm
luận thế nào để hơn Phật hơn Tổ?
Ngài
Vân Môn đáp:
- Bánh
hồ.
Vì
vậy, người sau có viết kệ:
-
"Bánh
hồ Vân Môn.
-
Trà Triệu
Châu.
-
Vói tay
lấy làm nhà.
-
Nhai kỸ
gió xanh có mùi vị
-
Ăn no
trăng sáng vẫn còn thừa".
Nhất
cử nhất động, chư tổ sư luôn phá sự chấp trước, để
khiến chúng ta hiểu rõ tất cả đều là Phật pháp.
Thiền
sư Nham Lợi Tùng người Tử Hồ ở Cù Châu, viết kệ cho
các đồ đệ:
-
"Tử
Hồ có một con chó.
-
Phía
trên giữ đầu người.
-
Ở giữa
giữ tâm người.
-
Phía
dưới giữ chân người.
-
Vừa
bàn bèn mất mạng".
Tăng
đến tham vấn, Ngài bảo:
- Xem
chó!
Hòa
thượng Bích Ma Nham tại núi Ngũ Đài, thường cầm một cây
ba chỉa. Mỗi lần thấy tăng đến lễ bái, liền dí cây ba
chỉa vào cổ, bảo:
- Ma
mị nào dạy ông xuất gia? Ma mị nào dạy ông đi hành cước?
Đắc đạo cũng chết dưới cây ba chỉa. Chẳng đắc đạo
cũng chết dưới cây ba chỉa. Đi mau! Đi mau!
Thiền
sư Vô Ân ở núi Hòa Sơn, tỉnh Kiết Châu, nếu có học nhân
nào đến tham vấn, đều đáp:
- Hòa
Sơn giải, đánh trống.
Ngoài
ra, vài vị tổ sư, chuyên môn đánh đuổi chửi mắng các
học nhân.
Hiểu
được thì tất cả đều là đạo. Hiểu không nổi thì bị
cảnh chuyển. Việc này không như ý; việc kia không như pháp.
Gặp cảnh hoang mang, liền phá tan rừng công đức. Lửa tâm
cháy phừng phừng, đốt rụi hạt giống Bồ Đề, làm sao
cắt đứt sanh tử? Bàng hoàng không như ý, muôn việc chẳng
hiện thành. Chính nơi đó, phải hàng phục tâm mình. Nơi cảnh
chưa tự làm chủ, tức là khổ. Nói được nhưng không làm
được, tức nhiên là sai. Càng nói nhiều thì càng sai nhiều.
Thật rất xấu hổ.
Tô
Đông Pha, lúc ở tại Trấn Giang, làm bài kệ tán thán Phật:
-
"Thánh
chúa thiên trung thiên
-
Hào quang
chiếu đại thiên
-
Tám gió
thổi chẳng động
-
Ngồi
tòa sen vàng hoe".
Viết
xong, ông ta gởi đến chùa Kim Sơn, để nhờ thiền sư Phật
Ấn ấn chứng. Xem kệ xong, thiền sư Phật Ấn liền lật
ra đằng sau tờ giấy đó, viết bốn chữ "đánh rấm, đánh
rấm", rồi gởi lại cho Tô Đông Pha. Đọc bốn chữ đó,
Tô Đông Pha giận dỗi hết sức, nên chèo thuyền sang sông,
đến chùa Kim Sơn, hỏi thiền sư Phật Ấn:
- Bài
kệ của tôi sai chỗ nào mà thầy lại dám đề bốn chữ
kia?
Thiền
sư Phật Ấn ôn tồn bảo:
- Ông
nói 'Tám gió thổi chẳng lai động'. Tại sao chỉ vì bốn
chữ kia, mà vượt sông đến đây?
Chúng
ta giống như Tô Đông Pha, nói được mà làm chẳng được.
Một chuyện nhỏ cũng đủ để sanh tâm uất khí, nói chi đến
"tám gió thổi chẳng động".
Người
xuất gia tính toán tuổi khác với người tại gia. Nếu tính
theo mùa hạ, tức qua một mùa hạ, thì tăng thêm một tuổi
hạ. Nếu tính theo mùa đông, tức qua một mùa đông thì được
thêm một tăng lạp. Hôm nay kiết hạ an cư, đến rằm tháng
bảy mới giải hạ. Ngày mười bốn, mười lăm, mười sáu
tháng bảy, được gọi là những ngày tự tứ. Chữ Tự Tứ,
xưa kia được phiên dịch từ chữ Phạn, tức là Bát Thích
Bà Noa. Cựu dịch gọi là Tự Tứ. Tân dịch gọi là Tùy Ý.
Những ngày đó, tự mình cử tội ra và sám hối trước mặt
tăng chúng. Đó là tự tứ. Lại nữa, tự tứ còn có nghĩa
khác là tùy ý sửa đổi, tức tùy theo ý của người khác
mà cử tội mình. Đây là pháp Phật chế ra để phê bình
lẫn nhau cùng tự phê bình. Ngày nay, Phật giáo trong nước
vì không có ngày lễ tự tứ, nên đối với người chẳng
dám nói lời chất trực.
Nơi
đây chẳng phải am tranh, chẳng phải tùng lâm tự viện, chẳng
phải văn hay võ, mà kết hạ an cư. Vì vậy, tùy theo thời
tiết mà đàm luận những việc đông tây.
14/ Ngày
mười sáu tháng tư [^]
Hôm
nay, trời mưa dầm dề, gió đông thổi lạnh thấu xương.
Đại chúng không quản ngại việc gieo lúa mạ cực nhọc mà
đến đây, vậy mong muốn việc gì? Xưa kia, tổ Bá Trượng
bảo đại chúng:
- Quý
vị giúp tôi khai khẩn đất đai. Tôi thuyết diệu pháp cho
quý vị nghe.
Khai
khẩn đất đai xong, đến tối tổ Bá Trượng thượng đường,
đại chúng liền thưa:
- Ruộng
rẫy đã khai khẩn xong. Vậy nay thỉnh Đại Sư thuyết nghĩa
diệu pháp.
Tổ
Bá Trượng liền bước xuống sàng thiền, đi ba bước, dang
hai cánh tay, mắt nhìn trời đất, bảo:
- Đại
nghĩa của ruộng vườn (diệu pháp), nay vẫn còn giữ lại.
Mọi
người hãy suy nghĩ xem coi tổ Bá Trượng nói những gì? Phải
nên dụng tâm để hiểu rõ lời chỉ dạy của thánh nhân.
Trải
qua bao thập niên, tôi vì nghiệp chướng nên lừa lẫn Phật
ăn cơm, rờ đầu mà chẳng được đuôi. Lại nữa, không
thể phụ giúp quý vị lao động. Muốn nói mà không thể nói
được, chỉ miễn cưỡng dùng lời của người xưa mà đối
đáp, đàm luận. Hòa thượng Chí Công viết bài "Kệ tụng
mười hai thời", trong đó có bài kệ tụng giờ thìn như sau:
"Ăn giờ thìn, vô minh vốn là thân Thích Ca. Chẳng biết nằm
ngồi vốn là đạo, chỉ bận rộn khổ cực suốt ngày. Lầm
chấp âm thanh sắc tướng, tìm kẻ thân người sơ, chỉ khiến
ô nhiễm nhà người. Nếu định dùng tâm cầu Phật đạo,
hãy tự hỏi rằng trong hư không, có thể nắm bắt được
bụi trần không?"
Đi
đứng nằm ngồi là đạo. Khai khẩn ruộng vườn cũng là
đạo. Ngoài thế gian pháp chẳng tìm được Phật pháp. Phật
pháp và thế gian pháp không đồng không khác. Phật pháp là
thể. Thế gian pháp là dụng. Trang Tử bảo:
- Đạo
tại phẩn tiểu.
Đi
đại tiểu tiện cũng là đạo. Ngài Cao Phong viết bài kệ
cấy mạ:
-
"Tay cầm
mạ xanh cấy khắp ruộng
-
Cúi đầu
thấy nước xanh trên trời
-
Sáu căn
thanh tịnh đều là đạo
-
Tiến
lùi vốn là bước phía trước".
Phật
pháp chẳng đồng chẳng khác. Ngàn ánh đèn đồng một ánh
sáng. Lúc cấy lúa, đạo ngay trên tay quý vị đó. Đi đứng
nằm ngồi là đạo. Cấy lúa là đạo. Cúi đầu tức là hồi
quang phản chiếu. Nước xanh phản chiếu trên nền trời. Tâm
thanh tịnh liền thấy thiên tánh. Sáu căn như mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý, hòa với âm thanh, sắc tướng, mùi hương,
hương vị, xúc chạm, và vạn pháp, đều cùng đạo giao phối.
Nếu cho rằng không thanh tịnh thì chẳng có đạo. Phật tánh
như ánh đèn. Trong phòng nếu có một ngọn đèn, thì ánh sáng
của ngọn đèn đó tỏa khắp. Nếu đặt ngàn ngọn đèn trong
một căn phòng, thì ánh sáng của những ngọn đèn đó tỏa
chiếu khắp phòng, không ngăn ngại nhau. Núi sông hoàn vũ,
sum la vạn tượng cũng như thế, không ngăn ngại nhau. Nếu
hồi quang phản chiếu, nhìn lại chính mình, thì sẽ thấy
được thiên tánh, tức sáu căn liền thanh tịnh, nơi nơi đều
là đạo. Nếu muốn sáu căn thanh tịnh, phải nên lùi bước.
Kinh Lăng Nghiêm thuyết: "Nếu không duyên theo trần cảnh, thì
căn không chỗ bám. Ngược dòng trở về nguồn hợp nhất;
chẳng hành sáu dụng, thì mười phương cõi nước đều lắng
trong thanh tịnh".
Vì
vậy "lùi bước", tức là "tiến bước". Nếu lùi càng gấp
thì tiến càng mau. Nếu không hành thì chẳng thành tựu. Căn
không duyên theo với trần cảnh, như mắt không bị sắc chuyển,
tai không bị âm thanh chuyển, v.v... Làm chủ được thì không
hề bị ngoại cảnh chuyển. Song, làm thế nào mới tự chủ
được? Ngài Quy Sơn bảo:
- Nếu
tình không phụ vật, thì vật chẳng ngăn ngại người.
Như
nay đang cấy lúa, nếu không khởi tâm phân biệt, ung dung vô
tâm tự tại, thì không sanh phiền não. Nếu tâm khởi phân
biệt, bèn thấy có cảnh trần, tức có phiền não, tức bị
cảnh khổ vui xoay chuyển. Khổng Tử bảo:
- Tâm
không ở trong. Nhìn mà chẳng thấy. Nghe mà chẳng biết. Ăn
mà chẳng biết mùi vị.
Tâm
không ở trong tức là tâm không có phân biệt. Tâm chẳng phân
biệt thì không có chướng ngại. Ăn uống cũng không biết
mùi vị. Thiền sư Lâm Đạo ở núi Cổ Sơn, nghiên cứu tinh
tường bộ sớ sao kinh Hoa Nghiêm của quốc sư Thanh Lương
cùng bài sớ luận của trưởng giả họ Lý. Thấy văn tự
quá thâm sâu, không tiện cho người sơ học xem đọc, nên
viết lại yếu chỉ, gom soạn thành một quyển. Thiền Sư
chuyên tâm nhất ý viết lách, không khởi tâm phân biệt. Lần
nọ, thị giả đem bánh điểm tâm đến, để kế bên đá
mài mực. Thiền Sư bốc đá mài mực ăn mà không biết. Khi
thị giả trở lại, thấy miệng Thiền Sư đen ngòm, mà bánh
điểm tâm vẫn còn trên bàn.
Đó
là tâm không phân biệt, nên ăn chẳng biết mùi vị. Hôm nay
chúng ta cấy lúa, chẳng khởi tâm phân biệt, và chẳng sanh
phiền não không? Nếu được như thế thì cùng đạo tương
ưng. Ngày ngày, trong bốn oai nghi, đi đứng nằm ngồi, chẳng
biết đó chính là đạo, mà chỉ mãi bận rộn sống trong
phiền não, nên mới thọ khổ. Song, phiền não là Bồ Đề,
phải nên tự lãnh hội.
15/ Ngày
mười bảy tháng tư [^]
Người
thế tục, từ trẻ đến già đều không rời được ba nhu
cầu như ăn, mặc, chỗ ở. Vì chúng mà ai ai cũng bận bịu
cho đến chết. Y phục che thân, tránh gió lạnh. Ăn uống ít
thì đói khát. Không có nhà cửa thì không có chỗ để tránh
mưa gió. Thiếu một trong ba nhu cầu này, thì không thể sống
được. Loài người như thế, và năm loài khác cũng cần ba
nhu cầu như vậy. Loài bay nhảy trên không dưới đất như
hổ, sói, chim chóc, rắn chuột, đều muốn sống an thân, đều
dùng lông mao làm y phục, đều cần thức ăn nước uống.
Ba nhu cầu này vốn là gốc khổ, nhưng người xuất gia chớ
để chúng xoay chuyển. Lúc đầu chế giới, đức Phật dạy
chư tỳ kheo rằng chỉ được giữ ba y, một bình bát, cùng
ăn mỗi ngày một buổi, ngủ mỗi đêm tại một gốc cây.
Tuy giảm thiểu sự phiền lụy rất nhiều, nhưng cũng chưa
hẳn rời khỏi chúng. Hiện tại, thời thế đổi thay, người
xuất gia gần giống như kẻ thế tục, tức vẫn bận rộn
vì việc ăn mặc ngủ nghỉ. Từ sáng đến chiều, ngâm thân
trong nước, cấy lúa làm ruộng rẫy. Nếu không làm thì chẳng
có gạo mà ăn. Mùa xuân không gieo giống, thì mùa thu lấy
lúa đâu mà thu hoạch? Thế nên, hạt lúa bát cơm không dễ
dàng có được. Phải tốn hao công sức thời gian, lao tâm
lao lực, mới có lúa để thu hoạch. Là người xuất gia, an
nhiên khoanh tay ngồi hưởng, sao thành tựu đạo nghiệp được!
Người
xưa bảo:
- Nếu
hiểu rõ năm cách quán thì vàng tiêu cũng dễ. Ba tâm nếu
chưa dứt thì nước uống cũng chẳng trôi.
Người
xuất gia chớ nên hành như giống kẻ tại gia, tức ngày đêm
bận rộn vì ba nhu cầu này. Phải nên vì đạo, cầu thoát
ly sanh tử. Do mượn thân giả tạm để tu đạo chân thật,
nên chưa có thể cắt đứt được việc ăn, mặc, chỗ ở.
Lúc tu đạo, tạm thời phải tự xem như không có thân mình,
giống như người đã chết. Người xưa bảo:
- Nếu
là người tu đạo chân thật thì chẳng phút giây nào rời
xa đạo.
Hành
vi của bậc đạo nhân, nơi nơi chốn chốn chớ để cảnh
chuyển. Tu đạo như làm ruộng. Đầu tiên gieo lúa. Lúa biến
thành mạ. Mạ dần dần sanh trưởng trở thành cây lúa. Lúa
chín thì thành thóc. Chà thóc ra thì thành gạo. Nấu gạo chín
thì thành cơm.
Hạt
lúa ví như Phật tánh. Bổn tánh của chúng sanh, vốn cùng
Phật không khác. Tự tâm là Phật, nên gọi là Phật tánh.
Tiến trình biến chuyển từ hạt lúa đến mạ, thóc, gạo,
cơm thật rất xa. Song, chớ vì thế mà không tin rằng hạt
lúa sẽ thành cơm. Thế nên, muốn thành Phật thì trước hết
phải có tín tâm. Phải gieo hạt lúa xuống ruộng, rồi đợi
nó phát mầm biến thành mạ. Khi ấy, vì sợ mầm héo giống
khô, uổng phí thời gian, nên đức Phật dạy chúng ta phải
phát tâm học pháp Đại Thừa, chớ lầm bước vào đường
lộ của Tiểu Thừa. Lại nữa, lúc cấy mạ xong rồi phải
nên nhổ cỏ. Nghĩa là người tu hành phải tẩy rửa thói
quen tật xấu, tịnh trừ thất tình lục dục, mười triền
sử, ba độc, mười việc ác, cùng tất cả phiền não vô
minh vọng động. Giống trí mạ linh, trưởng thành thuận lợi,
chắc chắn sẽ ra hoa kết quả.
Tu
hành phải dụng công trong động. Không nhất định phải ngồi
xuống, lim dim nhắm mắt mới bảo là tu hành. Trong bốn oai
nghi, dùng ba môn học vô lậu giới định huệ, dẹp trừ ba
độc tham sân si. Nhiếp thọ sáu căn như chăn trâu, chẳng
để chúng phá hư ruộng đất của người. Khi cô gái đẹp
đứng trước mặt, đối với người thế tục thì đó là
một cành hoa tươi, còn đối với các thiền sư thì đó là
ác quỶ cô hồn. Mắt phải như thế, chớ để cảnh chuyển.
Năm căn kia cũng vậy, chớ để cảnh trần xoay chuyển.
Ngửi
mùi hương thơm, chớ đắm đuối. Ngửi mùi hôi thúi, chớ
sanh tâm ghét bỏ. Chớ để ý đến lông mi dài, răng ngắn,
trương tam lý tứ, nhân ngã thị phi. Bồ Tát Di Lặc viết
kệ bảo:
-
"Lão
chuyết xuyên nạp áo
-
Đạm
thực phục trung bão
-
Bổ phá
hảo giá hàn
-
Vạn
sự tùy duyên hảo
-
Hữu
nhân mạ lão chuyết
-
Lão chuyết
tự thuyết hảo
-
Hữu
nhân đả lão chuyết
-
Lão chuyết
tự thùy đảo
-
Thuế
thóa tại thượng diện
-
Tùy tha
tự kiền liễu
-
Ngã dã
tỉnh khí lực
-
Tha dã
vô phiền não
-
Giá dạng
ba la mật
-
Tiện
thị diệu trung bảo
-
Nhược
tri giả hưu tức
-
Hà sầu
đạo bất liễu.
Dịch:
-
Lão chuyết
mặc áo vá
-
Cơm đạm
bạc no lòng
-
Áo bố
che giá lạnh
-
Muôn
sự đều tùy duyên
-
Có ai
mắng lão chuyết
-
Lão chuyết
tự thuyết hảo
-
Có ai
đánh lão chuyết
-
Lão chuyết
tự xoay ngủ
-
Nhổ
bọt trên mặt mũi
-
Để
nó tự khô mất
-
Ta vẫn
tự tỉnh khí
-
Họ chẳng
sanh phiền não
-
Đây
là ba la mật
-
Tức
bảo vật vi diệu
-
Nếu
biết tin tức này
-
Sao lo
không hiểu đạo".
Không
đàm luận thị phi, không lo biện hộ, không tranh nhân ngã,
không làm kẻ anh hùng, chạy ra khỏi hầm lửa nóng, bèn đến
sông Hán mát trong. Ngộ được lý trường sanh, nương mặt
trời mặt trăng làm bạn lữ. Nơi nơi đều là chốn tu hành,
chẳng hạn cuộc ngồi trên bồ đoàn mới tu đạo. Nếu chấp
ngồi trên bồ đoàn mới tu đạo thì như Tứ Liệu Giản,
bảo: "Ấm cảnh hiện tiền, chớp mắt liền theo chúng".
Người
thế gian, chưa có thể đoạn dứt lời hay tiếng xấu. Nếu
phá được cửa ải này thì không còn phiền não. Được khen
thì vui mừng, tức bị ma hoan hỶ mê hoặc. Ba cái tốt, chấp
giữ đến già. Song, ai chê mình, tức là bậc thiện tri thức.
Họ khiến mình nhận rõ lỗi lầm, đoạn ác hành thiện. Phải
nên sửa đổi.
Ăn
mặc ngủ nghỉ, đi đứng nằm ngồi, chớ rời xa đạo. Tám
mươi bốn ngàn tế hạnh, không ngoài bốn oai nghi. Người
xưa vì đạo, tu hành chẳng bỏ phí thời gian. Lúc ngủ, dùng
miếng gỗ tròn làm gối, sợ mộng mê lâu không tỉnh, thì
sẽ tu lầm lạc. Chẳng những ban ngày gặp cảnh tùy duyên,
tự làm chủ được, mà lúc ngủ vẫn phải tự chủ được.
Khi nằm phải theo thế kiết tường, tức thân như cung tên,
dùng tay phải làm gối, tay trái để trên thân mình. Đó là
nằm theo thế kiết tường. Khi vừa tỉnh mộng, liền dụng
công tiếp tục. Chớ để tâm cuồn cuộn chảy về quá khứ,
cuốn trôi đến vị lai, tán loạn khởi vọng tưởng từ sáng
đến tối.
Ai
ai cũng có vọng tưởng. Niệm Phật cũng là vọng tưởng.
Người tu thiền nếu muốn trừ vọng tưởng, thì ma đến
giết ma, Phật đến giết Phật, rồi lần lần bước tới
nơi bảo địa. Chớ sợ niệm khởi, chỉ lo giác chậm. Dụng
công như thế, lâu ngày tự nhiên thành thục. Trong bận rộn,
thị phi, động tịnh, nơi đầu đường xó chợ, đều tu thiền
được. Chẳng vì bận rộn cấy lúa mà quên đi sự tu hành.
16/ Ngày
hai mươi mốt tháng tư [^]
Phật
thuyết ba tạng kinh giáo, dạy quý vị hành trì, tu nhân lành
chứng quả vị Phật, nhưng phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp
mới mong thành tựu. Song, đơn độc chỉ có Thiền tông, tu
chứng mau chóng, chẳng cần "bất lịch tăng kỳ, hoạch pháp
thân", tức là không phải đợi đến ba a tăng kỳ kiếp mới
đắc được pháp thân. So sánh hai việc: Thứ nhất là phải
cần tu hành trải qua muôn ngàn gian khổ, mới có thể thành
tựu, thật rất khó khăn. Thứ hai là chỉ cần tự nhận ra
bản tâm, tự thấy Phật tánh, ngay đó liền cắt đứt vô
minh, khả dĩ mau chóng lập địa thành Phật. Thật vậy, như
rắn cắn người, độc nhiễm lẹ làng. Song, không luận Tiểu
Thừa, Đại Thừa, Đốn giáo, Tiệm giáo, nếu chân thật muốn
trở về nhà, thật không phải là chuyện dễ.
Quý
vị từ muôn sông ngàn núi, tìm đến Vân Cư, đều vì mong
nghe lời giảng dạy cách tu hành. Lúc vừa đốt hương, bèn
lên ngồi trên chiếc bồ đoàn, ngừng tâm tĩnh ý, gọi là
tu hành. Nghe tiếng khánh báo hiệu giờ khai tịnh, nghỉ ngơi,
bèn đi ngủ. Nghe tiếng kẻng đánh ba lần, bèn thức dậy,
lên chánh điện, tiếp tục dụng công tu hành. Đến giờ phân
ban làm việc thì đi ăn cháo buổi sáng. Lúc ngồi ăn cháo
cũng là tu hành. Ăn xong, nghe đánh kẻng thì ra đồng cuốc
đất trồng rau, nung ngói gạch. Nếu lúc đi đại tiểu tiện,
lại để tâm phân vân, thì quên mất mình cùng việc tu hành.
Kinh Pháp Bảo Đàn nói: "Tự tánh rộng lớn, bao hàm muôn pháp.
Muôn pháp nằm trong tự tánh của người người".
Nếu
chỉ lên chánh điện mới tu hành, thì công phu lúc làm lao
động biến đâu mất, và công phu ngồi hương chạy đến
nơi nào? Ra đồng làm ruộng để tâm phân vân. Không tu được
một nơi, thì mọi nơi đều không thể dụng công, quán thoại
đầu được.
Người
xưa bảo:
- Phải
hướng vào mình, chớ chạy đuổi ra ngoài cầu đạo.
Lúc
trẻ, chân tôi mang giày rơm, trèo non vượt biển, cũng vì
sự tu hành tham khán thoại đầu. Tâm nhiều tham cầu, như
khỉ vượn nhảy nhót hái trái cây. Hái được một trái rồi
lại hái trái khác. Hái đến hái lui, cho tới lúc chẳng còn
hái được. Hiện tại, đôi mắt muốn rớt xuống đất, nhìn
lại thì chợt nhận biết những hành vi thuở xưa đều sai
trái với đạo. Trong Tịnh Độ Thi, ngài Sở Thạch viết:
-
"Đời
người trăm năm, bảy tuần hy
-
Hồi
quán việc xưa, chẳng chút giác
-
Lệ rơi
mỗi lần, tuôn khắp xứ
-
Bỏ Tịnh
Độ nhàn, chẳng nghĩ về
-
Mây hương
mã não, kết từng lớp
-
Linh điểu
san hô, đậu nơi cây
-
Do chứng
pháp thân, không bịnh não
-
Hưởng
vị thiền duyệt, mãi no nê".
Xưa nay,
đời người chỉ trong bảy tám mươi năm, ít có ai sống đến
một trăm tuổi. Trong bao thập niên, làm việc này việc nọ,
đều là nhân ngã thị phi. Ngày nay, hồi tưởng lại, biết
rõ ràng mọi việc đều chẳng đúng. Làm sao biết được?
Đơn cử việc của tôi; từ lúc sơ phát tâm, vì muốn tự
liễu ngộ, nên đi tham phương tầm đạo. Chư thiện tri thức
dạy tôi phát tâm Đại Thừa, chớ vì tự kỶ. Nhờ đó, tôi
trùng hưng đạo tràng Phật Tổ, sửa chữa vài mươi ngôi
chùa viện lớn nhỏ, nhưng chịu biết bao phiền não ma chướng
khổ lụy. Thiên đường chưa xây xong mà địa ngục đã thành.
Vì người vì pháp, tuy gieo nhân thiện, nhưng lại chiêu quả
xấu. Chẳng muốn kết oán thù, nhưng gặp bao điều thị phi
gièm pha, phiền não trói buộc. Trong đại chúng, không thể
lánh mặt. Học ngôn ngữ oanh vũ, nói vài câu điển chương
của người xưa, không tránh bị kẻ khác chê cười; tự mình
cũng chưa có thể hành được một câu cú. Vì hôm nay đã
già nua, và không muốn giỡn cợt lừa bịp người, tạo nghiệp
địa ngục, nên đến am tranh nơi núi Vân Cư!
Kết
quả, chẳng thoát nghiệp chướng triền phược, vẫn tạo
nghiệp, dựng am tiếp chúng. Tuy nói trú nơi am tranh, nhưng
lại làm bao việc rối rắm. Chẳng xả chấp nê. Giảng được
nhưng hành không được. Một câu thoại đầu cũng không biết
chạy đi đâu! Vừa thoát tù lao, lại sa vào lưới võng. Đại
sĩ Hàn Sơn viết:
-
"Người
hỏi đạo Hàn Sơn
-
Đường
Hàn Sơn chẳng thông
-
Ngày
hạ băng chưa tan
-
Vầng
dương hiện sương tan
-
Theo ta
sao đợi thời
-
Cùng
tâm người chẳng đồng
-
Tâm người
nếu như Ta
-
Liền
đạt đến nơi đó".
Ngày
hạ sương chưa tan, tức là chưa xả bỏ phiền não được.
Ví như hôm trước, ông tổ trưởng vì vài việc nhỏ nhặt
mà tranh cãi, bất hòa với tăng chúng. Tôi khuyên lơn ba lần,
ông ta mới chịu xả bỏ. Vừa rồi, ông ta vẫn tranh cãi ầm
ỉ với ông tổ trưởng sản xuất; tôi khuyên lơn mãi cũng
không được. Hôm qua, ông ta đến gặp tôi xin thuốc trị
bịnh. Tôi bảo:
- Bịnh
của ông không cần dùng thuốc, chỉ việc xả bỏ mọi chấp
trước thì sẽ khỏe mạnh trở lại.
Dùng
những lời này, khuyên lơn người khác, nhưng lại không khuyên
được chính mình, có điên đảo lắm không? Tuy bàn về chữ
tu trong mấy thập niên, nhưng bao tử vẫn chứa đầy phiền
não; ăn không ngon, ngủ không yên, không biết gặp loài quỶ
gì? Lầm ngộ chính mình, cũng khiến người bị mê lầm. Cấy
lúa cho người thì được, còn mình thì chẳng làm xong.
Nói
rất dễ, mà hành lại rất khó. Chớ tạo nghiệp xấu cho
đời vị lai. Xoay lại tâm mình, liền gieo nhân lành vào ruộng
phước. Đời trước vì không có công phu chân thật, chưa
bước đến nơi thật địa, chưa trồng nhân lành, nên đời
này cùng oan gia đối đầu tương phản. Người trẻ tuổi
phải lưu tâm, chớ học theo tánh tôi, chấp trước nặng nề.
Bao năm dài ngu si, chỉ có chút hư danh, chẳng ích lợi cho
việc chân tham thật học. Quý vị hãy nên nỗ lực trồng
nhân lành vào ruộng phước.
17/ Ngày
hai mươi hai tháng tư [^]
Người
xuất gia, ngày ngày giảng việc tu đạo. Thế nào gọi là
tu? Tu là tu tạo. Đạo nghĩa là đạo lý. Lý là bổn tâm của
mọi người. Tâm này là vật gì? Bao lời của chư thánh được
đã giải thích rõ ràng. Tâm như hư không. Song, nói đến chữ
"Không" này thì vẫn còn chỗ nắm bắt. Lý Không phân ra hai
phần: Chân Không và Ngu Không. Chúng ta nhìn thấy hư không
tức là Ngu Không. Bất biến nhưng tùy duyên, tùy duyên lại
bất biến, sáng suốt đầy diệu dụng, tùy nơi tự tại,
luôn bao hàm tất cả muôn vật, đó chính là Chân Không. Người
tu hành phải hiểu rõ chân không này. Nhận biết tự tâm,
tự thấy bổn tánh, thanh tịnh trắng trong, rõ ràng vô ngại,
đó là thấy đạo. Đơn cử Bắc Kinh làm ví dụ. Nếu xem
qua bản đồ, thì thấy được hết kinh thành Bắc Kinh, có
đường lối rộng hẹp, thành ấp cung điện cao thấp, vuông
tròn, rộng dài, cùng các danh mục như Nam Hải, Tây Sơn, v.v...
Nhìn xem thì biết được đường đi. Song, chung cuộc vẫn
không biết được nhiều như chính mình đã thực sự đến
viếng thăm Bắc Kinh. Người đã đến đó, không cần bản
đồ, vẫn có thể kể
được
đường đi nước bước rõ ràng. Người chỉ xem qua bản đồ
mà chưa từng đến đó, thì lúc kẻ khác hỏi han, tuy có thể
đối đáp được, nhưng chẳng chân thật, vì vẫn còn nhiều
chỗ không biết đến. Người tu hành, sau khi thấy đạo, như
tự thân đến Bắc Kinh, tự thấy "bổn tánh vốn tự thanh
tịnh, không sanh không diệt, viên dung đầy đủ, không dao
động, thường sanh muôn pháp". Người này không đồng với
kẻ y theo văn tự mà giải nghĩa, chỉ thấy bản đồ Bắc
Kinh, chứ chưa từng đến đó.
Chân
Không vốn tự khai mở, nào có chướng ngại. Chẳng phải
Chân Không thì không thể mở bày, tức có chướng ngại. Lời
nói cùng hành động không giống nhau. Thế nên bảo:
- Không
có thể "Không", tức chẳng phải Chân Không. Sắc có thể
"sắc", tức chẳng phải sắc chân thật. Cha là vô danh. Mẹ
là vô sắc.
"Sắc"
và "Không" nào có ngăn ngại với nhau. Nếu chân thật thấy
rõ lý này, thì tự do tự tại đến thiên đường địa ngục;
tùy duyên nhưng bất biến, bất biến lại tùy duyên, không
hề chướng ngại. Người chưa hiểu lý này, tuy thuyết giảng
được hoa trời rải đầy khắp đất, nhưng chẳng có lợi
ích chân thật.
Xưa
kia, có một vị lão tu hành, sống trong đại chúng rất lâu,
tánh tình khoan dung độ lượng, tiếp đãi người rất nồng
hậu, và thường khuyên kẻ khác xả bỏ chấp nê. Lần nọ,
có người hỏi:
- Thầy
khuyên dạy người, vậy tự chính mình có làm được không?
Thầy
đáp:
- Ba
mươi năm về trước, tôi đã cắt đứt vô minh, sao không
làm được?
Sau
này, sống trong đại chúng, cảm thấy có vài việc không được
tự do tự tại, nên Thầy bỏ chạy vào núi sâu, kết am tu
hành. Sống nơi đơn độc cô phong, không người lui tới, tự
do tự tại, không còn phiền não. Nào ngờ, vào ngày nọ, đang
lúc ngồi thiền, Thầy nghe bên ngoài cửa, có một lũ mục
đồng nhốn nháo đùa giỡn, và bảo nhau rằng muốn vào am
tranh xem chơi. Có đứa nói rằng không nên làm động tâm người
tu hành. Có đứa nói rằng người tu hành không còn bị động
tâm niệm. Lát sau, cả lũ mục đồng ùa vào am tranh, nhảy
nhót đùa giỡn. Tuy biết, Thầy vẫn ngồi thiền, an nhiên
bất động, không màng đến chúng. Lũ mục đồng nhốn nháo
kêu la, nhưng Thầy vẫn không thèm để ý. Chúng tưởng đâu
Thầy đã chết, vì khi lung lay thân, mà không thấy động đậy.
Lúc chúng sờ vào thân Thầy thì cảm thấy vẫn còn hơi nóng.
Có đứa bảo:
- Thầy
này chắc đã nhập định rồi!
Có
đứa bảo rằng không tin. Để kiểm nghiệm, chúng lấy cọng
rơm, ngoáy vào bắp đùi, ngoáy vào tay, ngoáy vào bụng, ngoáy
vào lỗ tai, mà Thầy vẫn không động đậy. Lúc chúng ngoáy
vào lỗ mũi, khiến Thầy bị hắt xì. Mở mắt ra, Thầy mắng
chúng:
- Đánh
chết tụi bây!
Khi
ấy, Bồ Tát Quán Âm hiện ra trên không trung, bảo:
- Ba
mươi năm trước, ông đã đoạn hết vô minh rồi. Sao hôm
nay vẫn còn phiền não, chưa xả bỏ được?
Qua
câu chuyện, chúng ta thấy rõ, nói được một trượng mà
hành chẳng được một thước. Nói được một thước mà
hành chẳng được một tấc. Không bị cảnh chuyển, chẳng
phải dễ dàng.
Đại
sư Hám Sơn trong bài ca Phí Nhàn:
-
"Giảng
đạo dễ, tu hành khó
-
Tạp
niệm không trừ, đều là nhàn
-
Trần
lao thế gian, thường chướng ngại
-
Núi sâu
tĩnh tọa, lại phí công".
Chúng
ta là người xuất gia, nếu không phát tâm siêng năng tu hành,
chỉ lo nói năng phí sức, thì không có lợi ích chân thật.
18/
Ngày hai mươi ba tháng tư [^]
Trong
quyển Nguyệt San Phật Giáo viết: "Nhà Phật gặp đại nạn,
vì lạm truyền giới pháp. Quy củ thất truyền, chân lý bị
mai một".
Điều
này tôi cũng thường nhắc đến. Vài thập niên trước, tôi
có giảng về việc Phật pháp bị suy đồi vì truyền giới
không đúng như giáo pháp. Nếu truyền giới đúng như giáo
pháp, và tăng ni vẫn còn nghiêm thủ giới luật cẩn mật,
thì Phật giáo không đến đỗi bị suy vi như hiện tại. Tôi
tự rất xấu hổ. Lúc vừa xuất gia, không biết gì là giới,
chỉ cắm đầu tu khổ hạnh, vì cho rằng ăn đọt thông, uống
nước suối, chính là tu đạo. Pháp Đại Thừa, Tiểu Thừa,
ba tạng, mười hai phần kinh, tất cả đều chẳng biết đến.
Núi
Cổ Sơn, tỉnh Phước Kiến, là nơi danh lam thắng cảnh, có
vài tu viện am tranh, và có hàng trăm tăng sĩ. Người xa gần
đều nghe tiếng, nên tôi mới đến đó xuất gia. Giới kỳ
trên núi Cổ Sơn chỉ có tám ngày. Thật ra, tại nơi đó việc
truyền giới chỉ có bốn năm ngày thôi. Vào ngày mồng một
tháng tư, tân giới tử mang bản tên vào giới đường. Kế
đến, vội vã học quy củ thiền môn, cùng làm rất nhiều
thủ tục. Nơi đó, chẳng có giới đàn tỳ kheo. Tân giới
tử không biết họ sẽ thọ những giới gì. Vào ngày thứ
tám, giới tử lên đàn dâng hương, liền tính là đã thọ
giới xong. Sau này, tôi đi lưu lạc khắp xứ, nhận biết cách
thức truyền giới nơi nơi đều khác nhau. Chùa Quốc Thanh
ở núi Thiên Thai giới kỳ có năm mươi ba ngày, nhưng chỉ
có các tiểu hòa thượng thọ giới. Giới kỳ tại núi Phổ
Đà có mười tám ngày, được gọi là giới A La Hán. Giới
kỳ tại chùa Thiên Đồng có mười sáu ngày. Giới kỳ tại
chùa Bảo Hoa có năm mươi ba ngày. Phủ Ninh Quốc, tỉnh An
Huy, giới kỳ có ba ngày. Ở Huy Châu, có một ngôi chùa tổ
chức giới kỳ rất mau, chỉ trong vòng một ngày một đêm,
được gọi là Nhất Dạ Thanh.
Sau
này, xem lại kinh luật, mới biết những cách thức truyền
giới như thế, đều không hợp với giới pháp. Kinh Lăng Nghiêm
nói: "Trong mười vị giới sư (tức tam sư thất chứng), nếu
có một vị không thanh tịnh, thì đàn tràng thọ giới đó
không thể thành tựu".
Điều
này chứng minh rằng một trong mười vị giới sư, nếu không
được thanh tịnh, thì giới đàn không thành tựu. Kinh Lăng
Nghiêm lại bảo: "Đoan tọa an cư, trải qua một trăm ngày,
nếu có người lợi căn, không rời chỗ ngồi, liền đắc
quả Tu Đà Hoàn. Thân tâm từ đó, tuy quả thánh chưa thành,
mà quyết tự biết, thành Phật chẳng xa".
Việc
truyền giới trong thời cận đại, không xem trọng là các
vị thầy truyền giới có thanh tịnh hay không thanh tịnh, và
có đúng pháp hay không đúng pháp!
Phật
giáo Trung Quốc, từ đời vua nhà Hán cảm mộng thấy sắc
thân Như Lai, đến lúc hai tôn giả Mã Thắng, Trúc Pháp Lan
sang truyền pháp, vẫn chưa đủ mười vị giới sư, nên chẳng
có thể truyền giới cụ túc, nhưng chúng xuất gia được
cạo tóc như các đạo sĩ, lại được đắp mạn y, cùng giữ
năm giới và mười giới. Đến đời Tào Ngụy Gia Bình năm
thứ hai (250), pháp sư Đàm Ma Ca La dịch quyển Tăng Kỳ Giới
Bổn, rồi bắt đầu hành pháp truyền giới. Sa môn Châu Sĩ
Hành đầu tiên thọ giới cụ túc tại nước Tàu. Kế đến,
vua Lương Võ Đế thỉnh các pháp sư truyền giới cụ túc.
Công khanh, thái tử, đạo tục, thọ giới Bồ Tát có đến
bốn mươi tám ngàn người. Đời Đường, luật sư Đạo Tuyên,
tại chùa Tịnh Nghiệp, kiến lập Thạch Giới Đàn, truyền
giới cụ túc cho sa môn Nhạc Độc, y theo quyển Giới Đàn
Đồ Kinh.
Vua
Tống Chân Tông (998-1022) ban chiếu chỉ lập đàn truyền giới
tại chùa Sùng Thắng, được gọi là Giới Đàn Cam Lộ. Từ
đó, trong nước có bảy mươi hai nơi đồng lập giới đàn.
Hoàng đế lập giới đàn, nên người thọ giới phải trúng
tuyển khảo hạch. Giới tử đầu tiên thọ giới Sa Di. Sa
Di là tiếng Phạn, dịch qua tiếng Tàu là Hưu Từ, tức ngưng
ác hành từ. Bảy tuổi cho đến mười ba tuổi, gọi là Sa
Di đuổi quạ. Lúc đầu, có thiếu nhi cầu xuất gia, nhưng
ngài A Nan không dám thế độ. Do đó, Phật bảo:
- Nếu
đuổi được quạ thì cho phép xuất gia.
Từ
mười bốn đến mười chín tuổi, được gọi là Ứng Pháp
Sa Di, tức chánh hạnh và hợp với địa vị của Sa Di. Kế
đến, phải y theo giới sư điều huấn thuần thục trong năm
năm rồi mới được thọ giới cụ túc. Hai mươi tuổi đến
bảy mươi tuổi, được gọi là Danh Tự Sa Di. Tuổi tác này,
vốn hợp với tăng vị, nhưng do duyên chưa đủ, nên phải
làm Sa Di. Người đủ hai mươi tuổi cùng có tư cách nghiêm
chỉnh, mới được thọ giới tỳ kheo. Nếu chưa đủ hai mươi
tuổi mà muốn thọ giới cụ túc, thì Phật dạy rằng kể
từ ngày ra đời, vào mỗi năm nhuần lấy ra một tháng, rồi
trong tháng đó lại lấy ra một ngày, bổ túc trợ vào để
thành hai mươi tuổi. Xưa kia, rất nhiều chư vị Tổ Sư, chưa
đủ niên lạp tuổi tác mà vẫn được thọ giới cụ túc.
Từ
đời Thanh đến nay, các vị Hoàng Đế đa số là chư Bồ
Tát ứng thế, như vua Thuận Trị xuất gia, vua Khang Hy và Ung
Chánh thọ giới Bồ Tát. Nhờ Hoàng Đế mở phương tiện,
tăng sĩ không cần trải qua kỳ thi khảo hạch, vẫn được
thọ giới. Nào ngờ, vì lòng từ bi của các vị Hoàng Đế,
khiến tăng chúng trở nên tệ xấu. Xưa kia, các nơi truyền
giới rất thận trọng, như chùa Bảo Quang, chùa Chiêu Giác,
núi Bảo Hoa, núi Cổ Sơn, Phước Kiến, núi Di Sơn, v.v... Ngày
nay, các tùng lâm tự viện lớn nhỏ đều truyền giới. Ngoài
ra, tại các nơi như thành hoàng thổ địa, hội quán, chợ
búa, đều truyền giới cả. Vì vậy, trong bài Tam Đàn Chánh
Phạm, Hậu Bạt, tôi viết: "Ngày nay, xảy ra nạn viết lời
mời mọc khắp chợ búa, để phiếm dụ, mê hoặc, buôn bán
giới sư, chẳng hề tôn trọng giới pháp. Bên dưới mái hiên,
đền miếu dâm loạn, khu cắt mổ máu thịt, bậy bạ lập
đàn truyền giới. Mê hoặc mình người, trộm danh bán lợi,
làm như chỗ mậu dịch thương trường. Đàn giới vốn là
đất Phật thanh tịnh, nay biến thành hang hố địa ngục".
Gần
đây, tờ Nguyệt San Hoằng Hóa, chỉ trích nặng nề về sự
lạm dụng truyền giới. Những lời như thế, sao lại không
chịu lắng nghe!
Khi
xưa, mỗi năm tôi cũng lập đàn truyền giới, nên tạo nghiệp
địa ngục không ít. Song, tôi bất đắc dĩ phải làm như
thế, vì có vài duyên cớ, nhất là mong muốn vãn hồi hậu
tấn (người lớn nghỉ ngơi; người nhỏ tiến bước). Lúc
vừa đến núi Kê Túc, tỉnh Vân Nam, chẳng thấy bóng một
tăng sĩ nào. Nhân vì tăng sĩ ở đó, ăn mặc giống như người
thế tục, nên khó lòng nhận ra. Họ chẳng hề bàn về việc
tu hành, sửa chũa chùa chiền, hay dâng hương cúng Phật, mà
chỉ lo thụ hưởng tài sản chùa chiền tự viện, lại dùng
tiền để mua chuộc bọn đảng phái long đầu, hầu mong giữ
lợi. Thấy những việc tệ hại như thế, tôi mới phát tâm
chỉnh lý đạo phong núi Kê Túc, bằng cách khai mở thiền
đường, tọa hương, đả thiền thất, giảng kinh thuyết pháp,
nhưng chẳng ai màng đến. Sau này, tôi thay đổi cách thức,
tức hành truyền giới pháp. Trước kia, tăng sĩ trên núi chưa
hề lập đàn truyền giới, nên tôi muốn dùng giới pháp để
chấn chỉnh chánh giáo, trùng hưng đạo tràng. Do đó, tôi
lập giới đàn đầu tiên trên núi, gia hạn trong năm mươi
ba ngày. Lần ấy, có hơn tám trăm vị đến thọ giới. Từ
đó, tăng sĩ trên núi mới biết giới luật rõ ràng. Nhờ
khuyên lơn khuyến khích, dần dần họ qua lại với tôi. Từ
từ, họ biết việc kết duyên, mở chùa tiếp độ tăng chúng,
mặc y ca sa, niệm Phật tụng kinh, là những điều rất cần
thiết. Những thói quen tật xấu như ăn thịt, ăn hành tỏi,
uống rượu, hút thuốc lần hồi được sửa đổi. Đó là
kết quả của việc mượn giới pháp để chấn chỉnh những
hiện tượng suy đồi của Phật giáo tại tỉnh Vân Nam.
Xưa
kia, nơi núi Cổ Sơn, giới kỳ trong vòng tám ngày, chỉ có
các tỳ kheo cùng các cư sĩ nam được lên chánh điện, chứ
không có nữ chúng. Các nơi xa gần, chỉ việc gởi tiền đến
cho vị giới sư, bèn được giới điệp. Người tại gia đắp
y bảy điều, rồi dám tự xưng là tỳ kheo, tỳ kheo ny. Đó
gọi là mua bán giới điệp. Tôi đến Cổ Sơn, cải đổi
giới kỳ thành năm mươi ba ngày. Việc buôn bán giới điệp,
không cạo râu tóc, đắp giới y sai lầm, cùng những phong
tục tập quán xấu xa, đều được chấn chỉnh. Có rất nhiều
kẻ phản đối việc này, bằng cách gây bạo động, đốt
nhà giết người. Đó phải chăng gieo nhân thiện, nhưng lại
chiêu quả xấu? Cuối cùng, tôi thỉnh pháp sư Từ Bàn lên
núi, lập học viện giới luật. Tự Ngài chân thật nghiêm
thủ giới luật cẩn trọng, nên khiến tôi rất cảm phục.
Sự
hành đạo nói chung đều do chính mình, chứ không phải do
sự biểu diễn bên ngoài. Xưa nay, theo giới luật, trong mỗi
đàn của tam đàn đại giới, các vị truyền giới sư phải
học hết mọi cách thức trong vòng ba năm, rồi mới được
truyền giới.
Sau
khi Phật nhập Niết Bàn, Thượng Tọa Bộ phân thành mười
tám phái, nên việc truyền giới rất phức tạp. Lúc còn tại
thế, đức Phật cũng lập phương tiện, cho những vị chưa
đủ hai mươi tuổi, được thọ giới cụ túc. Chư Tổ Sư
sau này, thọ giới cụ túc, dưới hai mươi tuổi cũng không
ít.
Nếu
có tội mà không sám hối, cho dầu sống đến trăm tuổi vẫn
uổng phí. Tôi thường thấy rất nhiều các lão pháp sư, không
chịu giữ giới luật. Việc này, ai ai cũng đều biết đến.
Các vị sơ phát tâm tu đạo, phải cẩn trọng hộ giới. Vì
cần cầu hiểu rõ sự lý, phải siêng năng học tập kinh điển
Đại Thừa và Tiểu Thừa. Nơi giác địa thanh tịnh, tuy không
nhiễm một mảy trần, nhưng trong tất cả Phật sự, chẳng
xả một pháp.
Vừa
xuất gia, phải thọ mười giới Sa Di; trong mười giới, bốn
giới đầu là tánh giới, còn sáu giới sau là giá giới. Kế
đến, thọ giới tỳ kheo, tức hai trăm năm mươi giới. Ni
chúng có ba trăm bốn mươi tám giới. Những giới pháp này,
không ngoài bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi cùng bảy chi phần
thân thể. Tiến lên một bước, thọ giới Bồ Tát. Giới
Bồ Tát có tam tụ tịnh giới.
Thứ
nhất, nhiếp luật nghi giới, tức không có việc ác nào mà
không đoạn trừ, nghĩa là luôn khởi đạo hạnh chân chánh,
cũng chính là gieo nhân đoạn đức, để tu thành tựu Pháp
Thân.
Thứ
hai, nhiếp thiện pháp giới, tức thường tích tụ muôn hạnh
lành, hỗ trợ đạo hạnh, chính là nhân trí đức, để tu
thành tựu Báo Thân.
Thứ
ba, nhiếp chúng sanh giới, tức cứu độ hết thảy chúng sanh,
phát tâm chẳng trụ
Niết
Bàn, chính là nhân ân đức, để tu thành Hóa Thân.
Việc
trì giới giữa đại thừa và tiểu thừa đều khác biệt.
Tiểu thừa chế phục thân không cho hành. Đại thừa chế
phục tâm không cho khởi. Nơi ba ngàn oai nghi, tám muôn tế
hạnh, Tiểu Thừa chế phục thân không cho phạm. Đối với
Đại Thừa, vừa khởi vọng tưởng thì đã phạm giới rồi.
Giảng giải pháp Đại Thừa rất dễ, nhưng hành lại rất
khó.
Ngài
Xá Lợi Phất lúc còn tu hành nơi nhân địa, có phát tâm tu
hạnh Bồ Tát, thệ nguyện nhập thế cứu độ chúng sanh,
không muốn tự tu giải thoát cho chính mình, nên rời am tranh,
đến ngã ba đường, ngồi tọa thiền. Hôm nọ, thấy một
cô gái vừa đi vừa khóc, Ngài liền bước đến hỏi han.
Cô ta nói:
- Mẹ
của con bị bịnh nặng. Thầy thuốc bảo phải đi tìm mắt
của người còn sống, đem về làm thuốc, thì mới trị được
bịnh. Con cảm thấy việc này quá khó, nên thất vọng. Do
đó, con thường buồn rầu đau khổ.
Ngài
bảo:
- Cô
hãy an tâm! Hôm nay, tôi sẽ cho cô một con mắt.
- Đa
tạ! Đa tạ! Ngài thật là Bồ Tát cứu khổ cứu nạn.
Ngài
Xá Lợi Phất liền lấy tay móc mắt bên phải ra, cho cô kia.
Cô ta bèn nói:
- Không
phải! Thầy thuốc bảo phải lấy con mắt bên trái kia!
Ngài
Xá Lợi Phất lại miễn cưỡng móc ra mắt bên trái, rồi
đưa cho cô ta. Cô ta cầm con mắt trái của Ngài bảo:
- Con
mắt này hôi quá, không thể dùng được!
Nói
xong, cô ta nhổ bọt lên con mắt đó, rồi liệng xuống đất.
Vì cảm thấy chúng sanh thật khó độ, từ đó ngài Xá Lợi
Phất thối tâm Bồ Đề. Quý vị nhìn xem, tu đạo Bồ Tát
thật rất khó!
Lúc
thọ giới tỳ kheo, hòa thượng giới sư bảo:
- Quý
vị có phải là bậc đại trượng phu không?
Tân
giới tử thưa:
- Chúng
con chính là bậc trượng phu!
Lúc
thọ giới Bồ Tát, hòa thượng truyền giới hỏi:
- Quý
vị có phải là bậc Bồ Tát không?
Tân
giới tử đáp:
- Thưa!
Chính là Bồ Tát.
- Quý
vị đã là Bồ Tát. Vậy phát tâm Bồ Đề chưa?
- Thưa!
Đã phát tâm Bồ Đề rồi.
Nói
được thì phải làm được. Chân chưa bước đến nơi thật
địa, bị người chửi một câu bèn tức giận, xả không
nổi, khiến khởi tâm động niệm, nên bị đọa lạc. Sau
khi thọ tam đàn đại giới xong, hãy tự suy nghĩ kiểm nghiệm
xem coi, hình tướng có giống Sa Di, Tỳ Kheo, Bồ Tát không?
19/
Ngày hai mươi lăm tháng tư [^]
Hôm
nay, khi đến trai đường dùng cơm, tôi nhận thấy có vài
người, càng ăn lâu chừng nào thì tâm càng sanh tán loạn
chừng đó. Lúc ăn cơm, rất dễ khởi tâm tán loạn, nhưng
cũng là dịp đối trị tâm. Người đời không biết thân
người là quý báu. Kinh Đại Niết Bàn nói: "Sanh ra đời,
làm người là việc khó, nhưng gặp được Phật lại càng
khó hơn, như rùa mù bám nắm bọng cây trong biển cả".
Kinh
Tạp A Hàm nói: "Trong biển rộng, có một con rùa mù, thọ
mạng vô lượng kiếp, một trăm năm trồi lên mặt biển một
lần. Một bọng cây nọ, chỉ có một lỗ hổng, theo gió trôi
nổi khắp nơi trên biển cả. Rùa mù vừa xuất hiện, lại
vớt được bọng cây này".
Phàm
phu lưu chuyển trong biển cả năm đường, nhưng lại được
thân người; việc này khó khăn như rùa mù vớt bọng cây
đó.
Luận
Hiển Dương nói: "Một mặt trời mặt trăng hiện ra, được
gọi là một thế giới. Một thế giới có chín núi, tám biển
và bốn châu".
Chín
núi tức là núi Tu Di, núi Trì Song, núi Trì Mục, núi Đam Mộc,
núi Thiện Kiến, núi Mã Nhĩ, núi Chướng Ngại, núi Trì Địa,
núi tiểu Thiết Vi. Tám biển tức là bảy biển Hương Thủy
cùng một biển đại Hàm Thủy.
Chính
giữa hai núi Tu Di và núi Trì Song, cho đến chính giữa núi
Chướng Ngại và núi Trì Địa, có một biển Hương Hải.
Giữa tám núi, cũng có bảy biển Hương Hải. Cuối cùng, chính
giữa núi Trì Địa và núi Tiểu Thiết Vi, có biển đại Hàm
Thủy. Giữa biển này có bốn châu tại đông tây nam bắc.
Rùa mù ở trong biển đại Hàm Thủy, trăm năm mới ngoi đầu
lên, vớt được bọng cây.
Tứ
Giáo Nghĩa nói: "Lúc còn tại nhân địa, hành ngũ thường,
ngũ giới, cùng trung
phẩm
của mười điều thiện, thì được làm thân người".
Bắc
châu trong bốn châu, chẳng có quý báu hèn hạ. Ba châu còn
lại, có vua Chuyển Luân, Tiêu Tán, Bá Liêu, Thai Nô, Thụ Tử,
Bộc Lệ, Cơ Thiếp. Tất cả đều do tu năm giới và mười
việc lành, mà cảm thọ quả báo tốt. Song, vì hành theo từng
bậc thượng trung hạ phẩm của năm giới và mười điều
lành, nên mới có kẻ sang giàu, người nghèo hèn khác nhau.
Hôm
nay, chúng ta đã có thân người, lại được nghe Phật pháp,
phải phụng hành theo chánh giáo, cùng muôn pháp thức, và y
theo giới định huệ để hàng phục vọng tâm. Chiếu theo
giới luật, từ sáng đến tối, phải trì 'Tỳ Ni Nhật Dụng',
tức năm mươi ba bài kệ chú ngắn.
Phật
chế:
- Chư
tỳ kheo, khi thọ trai, phải hành năm cách quán. Tâm tán loạn,
nói lời tạp nhạp, của tín thí thọ khó tiêu.
Đại
chúng, nghe tiếng khánh, phải khởi chánh niệm. Thầy Duy Na
sau khi tụng bài kinh cúng dường xong, liền đọc bài kệ đó.
Chư tỳ kheo, khi ăn cơm, phải nên hành năm cách quán. Thứ
nhất, xem xét công đức mình ít hay nhiều, có xứng để thọ
bát cơm này không. (Biết bao giọt mồ hôi, nước mắt đổ
xuống, mới đem lại bát cơm). Thứ hai, xem đức hạnh mình
như thế nào, có đủ đức để thọ sự cúng dường này
không. (Nếu đức hạnh khiếm khuyết, thì không thể thọ
sự cúng dường này dễ dàng. Ngược lại, thì có thể thọ
nhận). Thứ ba, phải phòng ngừa tâm phóng túng, mà tham vốn
là gốc. (Phải xa rời ba tâm tham, sân, si). Thứ tư, thức
ăn này chính là liều thuốc, để chữa trị thân gầy mòn.
(Vì bịnh đói khát, nên phải dùng thức ăn này như liều
thuốc). Thứ năm, vì thành tựu đạo nghiệp, nên thọ thức
ăn này. (Nếu không ăn để nuôi dưỡng thân mạng, thì đạo
nghiệp khó thành.)
Nếu
hiểu rõ năm cách quán thì có thể tiêu hóa vàng dễ dàng.
Ba tâm, tham sân si, chưa đoạn thì một giọt nước cũng khó
mà tiêu. Phải nên thường khởi tâm hổ thẹn, chớ để mất
chánh niệm. Nghe âm thanh liền ngộ đạo, và mắt thấy sắc
liền sáng tâm. Chớ nên phóng tâm ra ngoài tìm cầu. Khi giữ
chánh niệm, nghe một tiếng khánh thì niệm một danh hiệu
Phật. Chớ nên bàn tán nhân ngã thị phi, nói lời tạp nhạp,
khiến tâm tán loạn. Một hạt cơm của thí chủ nặng bằng
núi Tu Di. Nếu không tự liễu ngộ đạo, kiếp sau phải mang
lông đội sừng.
Tu
nhân cảm quả như trồng lúa. Nước trí thấm nhuần đất
tâm như nước nuôi dưỡng lúa mạ. Nếu tâm luôn trụ nơi
đạo thì nơi nơi đều là đạo tràng. Người dụng tâm hay
thì ruộng tâm không trưởng dưỡng cỏ vô minh, và nơi nơi
thường khai hoa trí huệ. Đã được thân người, và đã nghe
Phật pháp, phải nên nỗ lực tu hành, chớ để ngày tháng
trôi qua vô ích.
20/
Ngày hai mươi sáu tháng tư [^]
Sống
trong ba cõi, chịu luân hồi nơi sáu đường. Trong sáu đường,
có ba đường lành và ba đường ác. Trời, người, A Tu La
là ba đường lành. Địa ngục, ngạ quỶ, súc sanh là ba đường
ác. Mỗi loài trong sáu đường, đều có muôn loại phẩm vị,
tôn quý ti tiện, khác nhau. Kinh nói: "Chư thiên, tuy cùng dùng
thức ăn, nhưng tùy theo phước đức của mỗi thiên chúng,
mà màu sắc thức ăn có khác nhau. Bậc thượng thấy thức
ăn màu trắng. Bậc trung thấy thức ăn màu vàng. Bậc hạ
thấy thức ăn màu đỏ" .
Chư
thiên cõi Dục giới vẫn còn dâm dục. Trời Tứ Thiên Vương
dâm dục như người thế gian. Chư thiên cõi trời Đao Lợi
chỉ ôm nhau âu yếm, liền thành sự dâm. Tại cõi trời Dạ
Ma, chư thiên nắm tay nhau, bèn thành sự dâm. Chư thiên cõi
trời Đâu Suất mỉm cười với nhau, thì thành sự dâm. Chư
thiên cõi trời Hóa Lạc ngó nhìn nhau, thì thành sự dâm. Chư
thiên cõi trời Tha Hóa vừa nháy mắt nhau, thì thành sự dâm.
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Sáu cõi trời như thế, hình tướng tuy
không động, nhưng tâm đã giao hợp. Vì vậy, nên gọi là
Dục giới".
Cõi
Sắc giới không có dâm dục, nhưng vẫn còn sắc thân. Kinh
Lăng Nghiêm nói: "Chư thiên ở mười tám cõi trời, hành hạnh
đơn độc, không giao hợp, nhưng chưa hết phiền lụy vì sắc
thân, tức sắc thể vi tế, nên gọi là cõi Sắc giới. Tuy
không có sắc thể thô kệch, nhưng vẫn còn sắc tướng vi
tế".
Kinh
Tịnh Danh Lưu bảo: "Nếu không hiểu giáo nghĩa, thì cho rằng
cõi Vô Sắc không có sắc tướng. Nếu hiểu giáo nghĩa, biết
cõi Vô Sắc vẫn còn có sắc tướng".
Kinh
Niết Bàn nói: "Sắc tướng của cõi Vô Sắc, Thanh Văn Duyên
Giác chẳng biết được".
Kinh
Lăng Nghiêm thuyết: "Nơi bốn cõi trời Không Thiên, thân tâm
diệt tận, nhưng định tánh vẫn hiện tiền, và không có
sắc tướng của nghiệp quả. Từ đó cho đến lúc mạng chung,
được gọi là sống trong cõi Vô Sắc".
Luân
hồi trong ba cõi, dâm dục là căn bản. Qua lại sáu đường,
ái dục là cội gốc. Có dâm dục, tức có sanh tử. Đoạn
dâm dục, tức cắt đứt dòng sanh tử. Ba cõi sáu đường,
thân lượng thọ mạng, dài ngắn không đồng. Chư thiên cõi
trời phi phi tưởng xứ, thọ mạng dài cả tám mươi ngàn
đại kiếp, mà vẫn chưa đoạn dứt luân hồi sanh tủ. Ba
cõi không an, giống như nhà lửa. Chúng ta nếu muốn vượt
khởi nhà lửa thì phải dụng công tu hành cho hay.
21/
Ngày hai mươi bảy tháng tư [^]
Hôm
nay, tôi có việc muốn phó chúc cho quý vị. Mấy ngày gần
đây, tín chúng các nơi đến hỏi rằng chùa mình có truyền
giới không. Mọi người nên biết, chỗ tôi ở chỉ là am
tranh. Vì quý vị có duyên, nên cùng trú một nơi. Hiện tại,
phải hưởng ứng lời hiệu triệu của chánh phủ, tức tự
làm tự ăn. Nếu quá nhiều người, việc cung ứng thức ăn
không đủ, vì mua lương thực không được. Quý vị chớ đưa
tin ra ngoài, bảo rằng nơi đây có truyền giới, vì chùa này
không thể chứa nhiều người. Tân giới tử của bổn tự,
yêu cầu tôi ra thuyết giới. Nhận thấy thời tiết nhân duyên,
có thể thuyết giới phương tiện, nhưng không thể hội tập
các tân giới tử ở những nơi khác đến. Nếu quá nhiều
người, nơi ăn chốn ở sẽ thành vấn đề lớn. Hiện tại,
chúng ta rất bận rộn vì công việc đồng áng, như phải
gieo lúa, cùng bao việc khác. Vì ngày ngày phải ăn uống, nếu
không dự bị thì không có đủ lương thực để dùng. Loài
chuột còn biết dự trữ lương thực. Chúng ta cũng phải tính
toán, tồn trữ lương khô. Thời giờ trôi mau, bỗng chốc
đã qua mùa hè. Cuối hè, ban ngày từ từ ngắn dần. Ban đêm
lại từ từ dài thêm. Khí dương giảm bớt.
Thân
người cùng trời đất hòa hợp với nhau. Thân tâm động
tĩnh, đi đứng nằm ngồi, phải tùy thời mà điều phục.
Trong động có tĩnh. Trong tĩnh có động. Trong động chớ để
động chuyển. Trong tĩnh chớ để tĩnh chuyển. Định là thể.
Huệ là dụng. Chân đế là tĩnh. Tục đế là động. Hai đế
đều viên dung vô ngại, và đồng với khí chất trời đất.
Tu hành học đạo, không ngoài việc điều phục động tĩnh.
Động tĩnh nếu như pháp thì tâm tùy cảnh sẽ được an lạc.
Nếu động tĩnh chẳng như pháp thì sẽ bị cảnh chuyển.
Ngày vui rất ngắn, mà ngày buồn lại rất dài. Thời gian
dài ngắn, đều do tâm tạo. Tất cả khổ vui, đều tùy theo
cảnh chuyển.
Xưa
kia, trên núi Cổ Sơn, có một vị tăng bị bịnh ghẻ lở,
khiến ai ai cũng ghê tởm lánh xa. Thấy vậy, một thiền sư
trẻ, tuổi chỉ ngoài hai mươi, khởi tâm thương hại, thường
ân cần giúp đỡ chăm sóc vị tăng bị bịnh kia. Khỏe mạnh
trở lại, vị bịnh tăng bèn cáo từ thiền sư trẻ:
- Thật
đa tạ tấm lòng từ bi tử tế của Thầy. Nhờ Thầy ân cần
giúp đỡ, bịnh đã lành lặn, nếu không thì tôi đã chết
lâu rồi. Xin thỉnh Thầy đến ngôi chùa nhỏ của tôi.
Thiền
sư trẻ đáp:
- Tôi
đi tham bái núi Ngũ Đài, rồi trở về sẽ ghé thăm Thầy.
Tham
bái núi Ngũ Đài xong, thiền sư trẻ trở lại, tìm kiếm ngôi
chùa của vị tăng bịnh thuở xưa. Vừa đến chùa, thiền
sư trẻ đã thấy vị bịnh tăng kia đang đứng trước cửa
nghinh đón, bảo:
- Tôi
đợi đã lâu, mà nay Thầy mới trở về!
Nói
xong, liền mời thiền sư trẻ vào chùa uống trà. Thiền sư
trẻ bảo:
- Hôm
nay, trên đường đi, tôi chưa ăn uống gì cả.
Vị
bịnh tăng bảo:
- Xin
Thầy chờ một chút. Lát nữa tôi sẽ mang thức ăn ra.
Nói
xong, vị bịnh tăng dẫn trâu ra đồng cày ruộng, nhổ mạ,
rồi đem về chùa bầm nhuyễn, hòa cùng với bột gạo, nấu
thành cháo. Trong khoảnh khắc, thức ăn được dọn lên. Ăn
xong, thiền sư trẻ liền cáo từ, nhưng vị bịnh tăng nài
nỉ, lưu giữ Thầy ở lại ngủ qua đêm. Hôm sau, trời hừng
sáng, thiền sư trẻ liền rời khỏi chùa, rồi xuống núi,
để trở về chùa mình. Tuy thiền sư trẻ chỉ ngủ một đêm
tại am tranh của vị bịnh tăng, mà thời thế ở nhân gian
đã đổi thay; triều đại mới đã được dựng lập, trải
qua nhiều năm tháng.
Ngày
ngày gặp những cảnh khổ não, chúng ta khó lòng vượt qua.
Thiền sư trẻ kia lên núi trú qua một đêm, dùng một buổi
cơm rồi xuống núi, thì đã thay đổi thời đại, qua bao năm
tháng.
Sa
Môn Huệ Thường ở núi La Phù, nhân đi hái trà mà vào hang
núi, chợt thấy một tấm bảng bằng vàng kim, đề chữ 'La
Hán Thánh Tự', rồi ở lại trong đó ba ngày mới trở ra.
Lúc trở về chùa, ở cõi nhân gian đã trải qua năm năm.
Quý
vị có thấy thời gian dài ngắn đều do tâm tạo không? Chỉ
cần quý vị tu hành, định huệ viên dung, thông đạt hai đế,
thâm nhập tam muội, chẳng sanh một niệm, thì sẽ thấy vô
biên cảnh giới, không bị hạn cuộc chút nào. Xưa nay, người
người đều không rời tâm này. Đi đứng nằm ngồi, chớ
phóng tâm ra ngoài cầu pháp. Ngày ngày chớ để cảnh chuyển.
Dầu cho kẻ khác nắng đi lạnh đến, vẫn không can hệ gì
với mình. Như như bất động, niệm niệm vô sanh, không để
cảnh chuyển, tức không lãng phí thời gian tu hành.
22/ Ngày
hai mươi tám tháng tư [^]
Quý
vị đồng tham học đến đây xin chớ làm khách, hãy dùng
trực tâm vấn đạo. Quy củ vấn đáp Phật pháp nơi các tùng
lâm tự viện là phải cung kính đảnh lễ, rồi quỳ xuống
thỉnh chư hòa thượng khai thị. Nơi đây là am tranh, không
cần
phải theo nghi thức như thế. Vì sao? Hiện tại, từ sáng đến
tối, cả ngày tôi mãi sống trong phiền não. Quý vị càng
làm nghi lễ nhiều chừng nào, thì tôi càng bị phiền lụy
bấy nhiêu. Quý vị hãy tùy tiện tùy thời hỏi han, như nông
dân dẫn trâu cày ruộng, đẩy cày tới lui. Ví dụ, khi bàn
về đèn dầu, nếu phải dùng dầu hương, thì gọi đó là
dầu hương. Nếu là dầu tây, thì gọi đó là dầu tây. Quý
vị nếu dụng công niệm Phật, thì đàm luận về pháp môn
niệm Phật. Nếu tham thiền thì bàn về pháp tham thiền. Tu
pháp gì thì luận bàn về pháp đó, tự nhiên không vướng
mắc. Nếu biết tôi không hiểu rõ điều gì, xin quý vị hãy
từ bi chỉ dạy.
Các
pháp xưa nay vốn dùng để cắt đứt sanh tử. Tham thiền,
tụng kinh, niệm Phật, lễ bái, cùng các pháp môn khác, đều
tùy theo căn cơ mà thuyết giáo. Quý vị có căn cơ đến đâu
thì chúng ta sẽ cùng đàm luận đến đó.
"Phật
thuyết tất cả pháp, vì muốn độ tất cả chúng sanh. Không
có tất cả tâm, sao lại dùng tất cả pháp?"
Ví
như một toa thuốc, được phân chia đúng lượng, lúc uống
vào thì đổ mồ hôi, khiến lành bịnh. Hết bịnh rồi, thì
chẳng cần dùng thuốc nữa. Người xưa bảo:
- Tận
hết tâm phàm, chẳng có chư thánh giải thoát.
Diệt
tận tâm phàm phu, ngay đó chính là Phật, chớ hướng ngoại
truy cầu. Nếu hướng ngoại truy cầu, tức là ngoại đạo.
Ngoài tâm không có một vật vì tự tâm chính là Phật. Tâm
phàm phu, tức tâm chấp trước, tâm thường sanh uất khí,
tâm hoan hỶ, tâm khen ngợi hủy báng, tâm tham sắc, tham tiền,
tham ăn ngon mặc đẹp, làm biếng, khởi vô minh, không lên
chánh điện tụng kinh, cùng bao tập khí xấu xa, và thậm chí
mong cầu thành Phật, v.v... Nếu quên đi cả phàm lẫn thánh,
nơi mọi chốn đều như như bất động; không hướng ngoại
tìm cầu, thì sẽ thấy tự tâm chính là Phật. Cắt ái từ
thân, dùng tham thiền niệm Phật, để trừ khử tâm phàm.
Dùng độc trị độc; bịnh lành thì không cần thuốc.
Quý
vị đồng tham học! Thường nói nhiều thì vọng tưởng càng
nhiều. Song, nếu không khẩn thành tu thiền hoặc niệm Phật
thì chẳng biết mình có vọng tưởng. Lúc dụng công, nhìn
lại mới biết mình có quá nhiều vọng tưởng. Nhận diện
ra chúng, quý vị chớ để ý làm chi, chỉ như như bất động.
Nếu khởi tâm động niệm, tức liền thấy ma. Công phu miệng
tụng tâm tư duy ngày một thâm sâu, như nước chảy đá mòn,
thì tự nhiên tất cả sẽ quy về một mối. Tham thiền có
thể ngộ đạo. Quên mình niệm Phật cũng có thể ngộ đạo.
Một niệm không sanh, liền thừa nhận bản tâm lập tức.
Phải dùng lý này mà dụng công. Hy vọng, nơi đỉnh cột trụ
trăm trượng, hãy tiến thêm một bước.