ĐOẠN
30
ÂM:
NHẤT HIỆP
TƯỚNG LÝ.
- Tu-bồ-đề!
Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân dĩ tam thiên đại thiên
thế giới toái vi vi trần, ư ý vân hà? Thị vi trần chúng
ninh vi đa phủ? Tu-bồ-đề ngôn:Thậm đa, Thế Tôn! Hà dĩ
cố? Nhược thị vi trần chúng thật hữu giả, Phật tắc
bất thuyết thị vi trần chúng. Sở dĩ giả hà? Phật thuyết
vi trần chúng tắc phi vi trần chúng, thị danh vi trần chúng.
Thế Tôn! Như Lai sở thuyết tam thiên đại thiên thế giới
tắc phi thế giới, thị danh thế giới. Hà dĩ cố? Nhược
thế giới thật hữu giả, tắc thị nhất hiệp tướng. Như
Lai thuyết nhất hiệp tướng tắc phi nhất hiệp tướng, thị
danh nhất hiệp tướng.
- Tu-bồ-đề!
Nhất hiệp tướng giả tắc thị bất khả thuyết, đản phàm
phu chi nhân tham trước kỳ sự.
DỊCH:
LÝ MỘT
HỢP TƯỚNG.
-Này Tu-bồ-đề,
nếu người thiện nam, thiện nữ đem thế giới tam thiên đại
thiên này nghiền nát thành bụi, ý ông nghĩ sao? Số bụi này
thật là nhiều chăng? Ngài Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế
Tôn! Rất nhiều. Vì cớ sao? Nếu là bụi thật có đó thì
Phật ắt không nói là bụi nhiều. Vì cớ sao? Phật nói các
bụi đó tức không phải là bụi, ấy gọi là bụi. Bạch
Thế Tôn, Như Lai nói thế giới tam thiên đại thiên tức không
phải thế giới, ấy gọi là thế giới. Vì cớ sao? Nếu thế
giới thật có thì ắt là một hợp tướng. Như Lai nói một
hợp tướng tức không phải một hợp tướng ấy gọi là
một hợp tướng.
-Này Tu-bồ-đề,
một hợp tướng đó ắt không thể nói, chỉ người phàm
phu tham trước việc ấy.
GIẢNG:
Trong đoạn
này đầu tiên đức Phật hỏi ngài Tu-bồ-đề: Giả sử có
người nam, người nữ, đem thế giới tam thiên đại thiên
này nghiền nát thành bụi, số bụi đó nhiều chăng? Ngài
Tu-bồ-đề trả lời là rất nhiều. Trả lời xong, Ngài không
dừng nơi đó, Ngài giải thích thêm: Vì cớ sao? Vì bụi nếu
thật có thì Phật không nói là bụi, Phật nói bụi tức không
phải bụi, ấy gọi là bụi. Chỗ này nhắc chúng ta nhớ trong
đoạn trước tôi đã nói quá rõ rồi. Nếu chúng ta lầm chấp
các pháp có thật thể tức là thế giới là thật thế giới,
hạt bụi là thật hạt bụi; lớn như thế giới, nhỏ như
hạt bụi, nếu tất cả lớn nhỏ đều chấp có một thật
thể thì đó là cái nhìn của phàm phu. Tại sao? Vì nếu thấy
nó có thật thể tức là không phải tướng duyên hợp. Trái
lại, con mắt trí tuệ Bát-nhã của Bồ-tát thấy các pháp
do duyên hợp, mà đã duyên hợp thì không cái nào có thật
thể. Thế giới cũng là tướng duyên hợp nên không thật,
chỉ theo phàm phu giả đặt tên là thế giới . Như vậy thế
giới chỉ có giả danh mà không có thật thể. To như
thế giới mà chỉ có giả danh, còn nhỏ như hạt bụi thì
sao? Hạt bụi tuy quá nhỏ đối với thế giới, nhưng hạt
bụi cũng không phải là đơn vị cuối cùng. Nhỏ như
hạt bụi cũng vẫn là một hợp thể do duyên hợp. Hạt bụi
do duyên hợp nên không phải là hạt bụi, nhưng giả danh gọi
là hạt bụi. Như thế để thấy rằng dù lớn, dù nhỏ đối
với con mắt trí tuệ đều thấy là tướng duyên hợp, chớ
không một cái gì tự có thật thể. Thường chúng ta có hai
lối nhìn, hoặc cho cái nhỏ không thật mà cái lớn lại là
thật, hoặc cho cái lớn là duyên hợp mà cái nhỏ là đơn
vị cuối cùng. Cũng như viên đất bằng nắm tay, đập nát
thành bụi, chúng ta cho viên đất là không thật, nhưng hạt
bụi là thật, đó là đơn vị thật hợp thành viên đất,
thế là chúng ta thấy cái lớn là giả mà cái nhỏ là thật.
Chủ yếu
Phật dạy ở đây là phải nhìn cho tường tận tất cả pháp,
không một pháp nào có hình tướng mà có thật thể. Như thế
mới hiểu, mới thấy được lý duyên hợp. Từ thế giới
đến hạt bụi đều không có thật thể, nó là một hợp
tướng, nhưng hợp tướng cũng là giả danh, nên nói: Hợp
tướng không phải hợp tướng, ấy gọi là hợp tướng. Cuối
cùng Ngài kết lại một câu: Này Tu-bồ-đề, một hợp tướng
đó ắt không thể nói, chỉ người phàm phu tham trước việc
ấy. Nói là một hợp tướng thì không thể nói. Tại sao?
Vì nó là hư giả, không thể nói là có, là không, nhưng người
phàm phu không biết, tham trước cho là thật. Trên nhân gian
này, tất cả những gì có hình, có tướng, sắc, thanh, hương
v.v. quí vị kiểm lại xem có cái nào không phải là tướng
duyên hợp hay không? Cái nào cũng là tướng duyên hợp, thế
mà phàm phu chúng ta cho nó là thật hay giả? Nếu chúng ta nói:
Chậu bông của tôi giả. Có người khác nói: Giả thì cho
tôi đi! Khi đó chúng ta nói thế nào? Tuy nói giả mà ai xin
thì không cho. Nói giả sợ người ta xin, thành ra thấy
cái gì cũng thật nên quí, mà quí thì tham trước. Thế nên
sự liên hệ là từ chỗ thấy các pháp là thật, rồi sanh
ra tưởng nó là quí và tâm tham trước theo đó mà sanh . Bởi
chiếc xe tôi thật, nhà của tôi thật nên tôi quí, tôi phải
cố bảo vệ, tất cả sự vật đều như thế cả. Thế nên
những gì mình thấy là thật, đều quí, đều tham trước.
Không phải chúng ta bi quan, tạo ra một cái tưởng tượng
không đâu, mà đây đúng là chúng ta nhìn bằng trí tuệ, thấy
được lẽ thật. Nói đến cái nhà thì biết nó là tướng
duyên hợp, không có thật thể. Nếu nói cái nhà thật thì
thử hỏi cái gì thật là nhà? Vách tường không phải nhà,
kèo cột không phải nhà. Chẳng qua là nhiều tướng nhỏ
chung hợp thành một tướng lớn, tướng lớn đó tạm đặt
tên là cái nhà. Vậy cái nhà là danh từ tạm đặt để chỉ
một hợp tướng, mà hợp tướng là do duyên hợp thì đâu
có cái gì là chủ, nên nó không có tự thể hay không có thật
thể. Đó là một lẽ thật, chúng ta nhìn đúng lẽ thật chớ
không phải bi quan. Nhìn đúng lẽ thật nên không có tâm tham
trước, do không tham trước nên không mắc kẹt ở thế gian.
Trái lại vì nhìn không đúng lẽ thật nên khởi tâm tham trước,
do đó mất một cái gì là lòng quặn đau, đến khi cái ngã
mất thì đau vô ngần, vì thế nên cứ quanh quẩn trong thế
gian không có ngày ra.
Phật bảo
một hợp tướng không thể nói là có, không thể nói là không.
Quí vị phải hiểu tinh thần Đại thừa cốt chỉ thẳng lý
duyên hợp, cho nên không quyết định nơi hai cái có và không.
Ai thấy các pháp thế gian thật có, thật không là bệnh. Thế
mà lâu nay đại đa số người học kinh Bát-nhã đều nói
học Bát-nhã là chấp không. Chấp không là bệnh tối
kî với tinh thần Bát-nhã. Thấy có, thấy không là thấy hai
bên, trái với lý Bát-nhã. Bát-nhã nói các pháp duyên hợp
nên không thật, vì duyên hợp nên không phải có, vì duyên
hợp nên không phải không. Nói duyên hợp là giả tướng nên
không phải có mà cũng không phải không. Thế gian chỉ một
mặt nói có hoặc nói không, nhưng ta thấy rõ các tướng duyên
hợp không phải có, không phải không nên không thể nói được,
không thể nói cho họ hiểu được. Vì thế mà đức Phật
bảo một hợp tướng ắt không thể nói, chỉ vì người
phàm phu tham trước việc ấy.
Quí vị
đã thấy rõ ý nghĩa sâu xa của kinh Đại thừa là không cho
chúng ta kẹt một bên nào, hoặc có, hoặc không. Kim Cang và
Bát-nhã nói các pháp do duyên hợp không có tánh thật, chớ
không phải không ngơ. Như cái bàn, đối với con mắt trí
tuệ Bát-nhã nó có hay không? Con mắt trí tuệ Bát-nhã
thấy cái bàn không có tự thể, do duyên hợp nên chỉ có
giả danh. Giả danh là tên tạm, tạm gọi là bàn, không phải
không ngơ, nhưng tìm thật thể thì không có, chớ nói cái
bàn không như hư không này thì đó là dốt. Nhiều người
không hiểu nghe câu Thị chư pháp không tướng bất sanh bất
diệt v.v. liền cho rằng Bát-nhã nói cái gì cũng không. Không
đây là không có tướng thật, vì nó là duyên hợp. Cũng như
tôi nói không có một nắm tay thật mà do năm ngón co lại,
nhưng khi co lại thì có nắm tay không? Nói đúng theo trí tuệ
Bát-nhã là nắm tay không có thật thể, chỉ giả danh tạm
gọi là nắm tay, đủ duyên hợp lại tạm gọi là nắm tay.
Như thế khi duyên hợp không thể nói không, khi duyên tan đâu
thể nói có. Chính người không hiểu Bát-nhã mới chấp không,
nói cái này có là chấp thật có, nói cái kia không là chấp
thật không. Trí tuệ Bát-nhã nhìn tường tận các pháp nên
không cố định một pháp nào là thật thể, vì đó là tướng
duyên hợp, đã là duyên hợp thì không phải là không hẳn.
Thế nên mới dùng những chữ “như huyễn, như hóa” nghĩa
là duyên hợp thì có, duyên ly tán thì không, chớ không phải
không ngơ. Hiểu như thế mới không lầm ý nghĩa của lời
Phật dạy trong kinh Kim Cang và Bát-nhã.