-
Chương
I
-
Phật
Giáo Thời Hùng Vương
-
Sư Phật Quang và Di tích
đầu tiên của Phật Giáo VN
Về nhà sư Phật Quang
Chữ Đồng Tử, người
Phật tử Việt Nam đầu tiên
Uất Kim Hương, hoa cúng
Phật
Thành Nê Lê và đoàn
thuyền đạo thời Vua A Dục
Bối cảnh văn hóa Tín
ngưỡng thời Hùng Vương
Bài Việt ca và ngôn
ngữ việt thời Hùng Vương
Lục Độ tập kinh
-
Ngôn ngữ Việt
Quan niệm về chữ hiếu
của dân tộc Việt Nam
Quan niệm chữ Nhân
Tín ngưỡng
Lịch Pháp Việt Nam
Tư tưởng quyền năng
Sau khi đức Thế Tôn thành đạo dưới
gốc cây Bồ-đề vào năm 533 tdl, tư trào tư tưởng Phật
giáo hình thành và phát triển từ Ấn Độ lan dần ra các
nước xung quanh và cả thế giới. Trong quá trình phát triển
và lan dần này, Phật giáo đã đến nước ta, và tạo nên
Phật giáo Việt Nam. Thế thì, Phật giáo đã truyền vào nước
ta từ lúc nào?
Đây là một câu hỏi, không phải
đợi đến thời chúng ta mới đặt ra, mà đã xuất hiện
từ hàng ngàn năm trước. Tối thiểu vào năm 1096, Hoàng thái
hậu Ỷ Lan đã nêu lên và được Thông Biện Quốc sư trả
lời như sau, dẫn lời của Đàm Thiên, trong Thiền uyển tập
anh tờ 20b7-21a7:
[Một phương Giao Châu, đường thông
Thiên Trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì Giang Đông chưa có,
mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn hai mươi ngôi, độ Tăng hơn
500 người, dịch kinh 15 quyển, vì nó có trước vậy. Vào
lúc ấy, thì đã có Khâu ni danh, Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng
Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó. Nay lại có Pháp Hiển
thượng sĩ, đắc pháp với Tì-ni-đa-lưu-chi, truyền tông phái
của tam tố, là người trong làng Bồ-Tát, đang ở chùa Chúng
Thiện dạy dỗ học trò. Trong lớp học đó không dưới 300
người, cùng với Trung Quốc không khác. Bệ hạ là cha lành
của thiên hạ, muốn bố thí một cách bình đẳng, thì chỉ
riêng khiến sứ đưa Xá lợi đến, vì nơi ấy đã có người,
không cần đến dạy dỗ.
Lại bài tựa truyện pháp của tướng
quốc Quyền Đức Dư_1 đời Đường, nói: "Sau khi Tào Khê_2
mất đi, thiền sư_3 dùng tâm ấn của Mã Tổ hành hóa ở
Ngô, Việt, Vô Ngôn Thông đại sĩ, đem tôn chỉ của Bách
Trượng khai ngộ tại Giao Châu". Đó là những chứng cứ vậy].
Cứ câu trả lời này, thì trước
khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, Việt Nam đã có một
nền Phật giáo tương đối hoàn chỉnh, tức bao gồm chùa
chiền, một đoàn thể Tăng sĩ và kinh sách đầy đủ. Theo
Thông Biện, thì ở nước ta lúc bấy giờ "có chùa hơn 20
ngôi, độ Tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển". Điều
đáng tiếc là Thông Biện không cho ta nền Phật giáo hoàn
chỉnh này, với số chùa chiền kinh sách và Tăng sĩ như vậy,
xuất hiện vào lúc nào. Ông chỉ bằng lòng lập lại lời
của Đàm Thiên_1, bảo rằng đó là vào lúc "Giang Đông chưa
có" Phật giáo. Giang Đông chưa có Phật giáo, thì ngay bản
tiểu sử của Khương Tăng Hội (?-280) trong sách Xuất Tam Tạng
Ký Tập tập 13, Đại Tạng Kinh 2145, tờ 96a-97a17 và trong Cao
Tăng Truyện quyển I, Đại Tạng Kinh 2059 tờ 325a13-326b13, cũng
bảo "bấy giờ Tôn Quyền" xưng đế Giang Tả (năm 222) sdl)
mà Phật Giáo chưa lưu hành". Thế cũng có nghĩa ngay vào những
năm 220sdl, Phật giáo chưa có mặt ở Giang Đông. Vậy phải
chăng nền Phật giáo hoàn chỉnh vừa chỉ tồn tại vào thế
kỷ thứ II-thứ III sdl?
Sư
Phật Quang & di tích đầu tiên
của Phật Giáo VN [^]
Trả lời câu hỏi này, ta may mắn
có một tài liệu viết gần cùng thời với Thiện Uyển Tập
Anh là Lĩnh Nam Trích Quái. Truyện Nhất Dạ Trạch của Lĩnh
Nam Trích Quái ghi lại việc Chữ Đồng Tử đã được nhà
sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên (cũng có bản viết là Quỳnh
Vi) truyền dạy giáo lý Phật giáo. Xưa nay Lĩnh Nam Trích Quái
thường được xếp vào loại truyện thần thoại hay huyền
sử. Thậm chí bộ Việt Nam Hán văn Tiểu Thuyết Tùng san_1,
tập I, mới xuất bản gần đây cũng làm thế. Tuy nhiên, khi
đi sâu vào nghiên cứu nội dung của Lĩnh Nam Trích Quái, ta
mới thấy rõ Lĩnh Nam Trích Quái không chỉ đơn thuần là
tập hợp những chuyện thần thoại, thậm chí những chuyện
thần thoại hoang đường. Trái lại, nó chứa đựng nhiều
sự kiện có thực, mà trường hợp núi Quỳnh Viên của chúng
ta đây là một thí dụ cụ thể.
Núi Quỳnh Viên này, những người
chủ biên Thơ văn Lý Trần đã chú thích là: "Một quả núi
trong truyện thần thoại". Dẫu thế, nếu chịu khó đọc Minh
lương cẩm tú do Lê Thánh Tông viết về 13 cửa biển của
đất nước ta trong khi tiến quân chinh phạt Chiêm Thành vào
năm 1470, thì ta gặp bài thơ thứ 7, nói về Nam giới hải
môn lữ thứ, trong đó có 2 câu:
-
Di miếu man truyền kim Vũ Mục
-
Danh sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên.
-
Dịch: Di miếu còn truyền nay Vũ
Mục.
-
Danh sơn vẫn nhắc cổ Quỳnh Viên
Vũ Mục đây tức chỉ tướng Lê Khôi,
cháu ruột của Lê Lợi. Năm Thái Hòa thứ 2 (1444) đi đánh
Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Bí Cai, khi trở về đến
cửa biển Nam Giới thì mất. Dân thương nhớ, lập đền thờ
tại cửa biển này. Cửa biển này còn được gọi nôm na
là cửa Sót. Còn núi Quỳnh Viên thì nằm ở phía Nam cửa
bể này và từ thời Lê Thánh Tôn đã được xác nhận là
một danh sơn, tức một hòn núi có tiếng tăm của đất nước.
Và tiếng tăm này là có từ xưa, chứ không phải đợi đến
thời Lê Thánh Tôn, tức từ năm 1460 trở đi mới có. Ngay
cả khi ta đồng ý với Lê Quí Tôn trong Toàn Việt thi lục
và Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển và xếp các bài
thơ về 13 cửa biển này vào loại "vô danh thị", thì việc
nói "ông Vũ Mục ngày nay" (kim Vũ Mục) và "núi Quỳnh Viên
thưở xưa" (cổ Quỳnh Viên) vẫn không đánh mất ý nghĩa
thời điểm của bài thơ. Lý do nằm ở chỗ nếu đã nói
Lê Khôi là ông Vũ Mục thời nay, và Lê Khôi mất vào năm
1444, thì rõ ràng tác giả nó cũng phải sống vào thời của
Lê Khôi này, tức khoảng từ 1444 trở đi hay không lâu sau
đó.
Nói thẳng ra, vào thế kỷ thứ
XV, khi Kiều Phú và Vũ Quỳnh hiệu đính và cho ra đời hai
bản Lĩnh Nam Trích Quái khác nhau, Quỳnh Viên đã thật sự
là một danh sơn, một ngọn núi nổi tiếng đối với dân
ta thời đó và trước kia. Nó dứt khoát không phải là một
ngọn núi thần thoại, càng không phải là một ngọn núi không
có địa điểm cụ thể tại đất nước ta. Nó quả là một
ngọn núi nằm tại cửa Sót. Và trên núi Quỳnh Viên này còn
có ngôi chùa cổ. Bản Lĩnh Nam Trích Quái mà ta có ngày nay
thì hoặc do Kiều Phú kiểu chính lại vào năm 1490, hoặc do
Vũ Quỳnh san định vài năm sau đó, vào năm 1493, từ một
bản Lĩnh Nam Trích Quái của Trần Thế Pháp đời Trần. Như
vậy, nếu Lĩnh Nam Trích Quái mà ta có ngày nay nói tới núi
Quỳnh Viên, thì dứt khoát núi Quỳnh Viên này phải có một
địa chỉ cụ thể. Vì thế, khi Chữ Đồng Tử đã được
nhà sư Phật Quang truyền dạy đạo Phật tại núi Quỳnh Viên,
ta có thể chắc chắn sự việc này đã xảy ra tại cửa biển
Nam Giới hay cửa Sót.
Ta có thể đặt vấn đề là nếu
quả có ngọn núi Quỳnh Viên tại cửa Sót, thì việc truyền
dạy giáo lý của nhà sư Phật Quang cho Chữ Đồng Tử chắc
gì đã xảy ra ở đó, bởi vì việc truyền dạy đó xảy
ra quá xa cách thời điểm nó ghi lại trong Lĩnh Nam Trích Quái.
Nói cụ thể ra, Lĩnh Nam Trích Quái đã ghi lại một sự việc
xảy ra cách nó gần tới cả ngàn rưỡi năm. Tất nhiên, trừ
phi ta thực hiện một cuộc khai quật khảo cổ học tại núi
Quỳnh Viên ở cửa Sót và tìm thấy di vật liên hệ với
Chữ Đồng Tử, thì vấn đề mới được giải quyết một
cách dứt điểm. Nhưng trước mắt, nếu chưa làm được,
song qua phân tích những truyện khác trong Lĩnh Nam Trích Quái,
ta thấy dù Lĩnh Nam Trích Quái có được Trần Thế Pháp biên
tập lại vào hậu bán thế kỷ thứ 14, thì những dữ kiện
trong đó vẫn có một tính cổ sơ đáng muốn.
Chẳng hạn, khi nghiên cứu về truyền
thuyết Trăm ứng trong truyện họ Hồng Bàng, ta thấy truyền
thuyết này đã xuất hiện trong Lục độ tập kinh 3 ĐTK152
tờ 14a26-cl8 truỵện 23 do Khương Tăng Hội dịch ra chữ Hán
vào khoảng những năm 220-250_1. Cũng một cách, truyện Tây
Qua của Lĩnh Nam Trích Quái là một dị bản của truyện 7
trong Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, ĐTK206 tờ 512a16-b7, cũng do Khương
Tăng Hội phiên dịch v.v... Nói khác đi, dù những truyện do
Trần Thế Pháp tập hợp lại trong Lĩnh Nam Trích Quái xảy
ra tương đối muộn, nhưng có những dữ kiện đã được
chứng minh là xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học
nước ta. Do thế, truyền thuyết về Chữ Đồng Tử được
nhà sư Phật Quang dạy đạo Phật cũng có khả năng xảy ra
rất sớm trong lịch sử dân tộc, chứ không phải vì sự
xuất hiện muộn màng trong Lĩnh Nam Trích Quái mà mất đi tính
chân thực và cổ sơ của nó.
Vậy nhà sư Phật Quang này xuất
hiện ở cửa Sót vào thời nào? Qua những chứng cớ ngoại
tại, gián tiếp vừa kể trên, tối thiểu ta biết là những
gì Lĩnh Nam Trích Quái ghi lại chưa hẳn là không xảy ra, hay
không có từ xưa. Cụ thể là truyện về truyền thuyết Trăm
Trứng. Không kể các dã sử hay những thông tin bên ngoài,
cứ theo chính sử Trung Quốc cũng đã ghi là có các chính quyền
phương nam đi thông qua nước ta để đến phương Bắc, đó
là chính quyền nước Hoàng Chi. Bình Đế Ký trong Tiền Hán
thư 12 tờ 3a3 ghi: "Nguyên thủy thứ 2 (năm thứ 2 sdl), mùa
xuân, nước Hoàng Chi dâng tê giác và bò". Rồi đến quyển
28 hạ, Tiền Hán Thư tờ 32b2-3, nơi chuyện Vương Mãng, cũng
ghi: "Trong khoảng Nguyên thủy (1-6sdl) của Bình đế, Vương
Măng phụ chính, muốn làm rạng rỡ uy đức của mình đã
gửi biếu hậu hỷ vua Hoànt Chi khiến cho gửi sứ cống tê
giác và bò sống". Nước Hoàng Chi này, cứ Tiên Hán thư 28
hạ, tờ 32b5-5, còn ghi tiếp: "Từ Hoàng Chi đi thuyền có thể
tám tháng đến Bì Tôn, rồi đi thuyền hai tháng có thể đến
biên giới Tượng Lâm của Nhật Nam. Phía Nam Hoàng Chi có nước
Dĩ Trình Phất. Dịch sứ của Hàn từ đó về"
Thế rõ ràng Hoàng Chi là một nước
rất xa nước Hán, đi thuyền đến mười tháng mới đến.
Ghi nhận đầu tiên của chính sử Trung Quốc về sự liên
hệ giữa chính quyền Trung Quốc và chính quyền Hoàng Chi là
Hoàng Chi ở phía Tây nước ta và phải đi thông qua nước
ta mới đến Trung Quốc được. Hoàng Chi là nước nào? Có
khả năng Hoàng Chi đây là một trong những nước ở Ấn Độ.
Cho nên, nói cách khác, từ những năm đầu Dương lịch, quan
hệ chính thức giữa Ấn Độ và Trung Quốc đã có vè đường
biển và đã được chính sử Trung Quốc ghi lại. Sau đó,
từ thế kỷ thứ hai trở đi thì quan hệ giữa Ấn Độ và
Trung Quốc đã được ghi rất rõ, cho nên khả năng trước
khi có quan hệ chính thức trên bình diện chính quyền thì
phải có quan hệ nhân dân; tức quan hệ giữa hai dân tộc
phải đi với nhau rồi hai chính quyền mới đi theo, hoặc để
bảo trợ quyền lợi của dân tộc mình hoặc để thiết lập
quan hệ liên lạc ngoại giao. Cho nên khả năng những thương
thuyền buôn bán của người Ấn Dộ đã đến Trung Quốc trước
thời Vương Mãng từ lâu là một sự thật.
Thực tế thì ngay trong Sử ký ta
đã tìm thấy những từ tiếng Phạn được phiên âm ra tiếng
Trung Quốc, cụ thể là từ lưu ly, vaidurya. Tức là nước
Trung Quốc đã biết nước Ấn Độ từ lâu. Nói cách khác,
từ những thế kỷ đầu Dương lịch, quan hệ giữa Ấn Độ
và Trung Quốc đã thiết lập và có quan hệ buôn bán giữa
thương nhân hai nước_1. Tiền Hàn thứ 9, tờ 3a3-6 (truyện
Tây nam di, lưỡng Việt Triều tiên đã nói tới việc thương
nhân đất Thục đem vải và gậy trúc Thân độc về Trung
Quốc bán vào năm Nguyên thú thứ nhất (120tdl). Và chuyện
Vương Mãng ghi vì "Muốn làm rạng rỡ uy đức của mình, [ông]
đã hậu hỹ vua nước Hoàng Chi và khiến dâng tê giác và
bò sống", có nghĩa là hai chính quyền đã có quan hệ bang
giao từ lâu. Mà trước khi Vương Mãng biết đến nước này
thì người nước này đã có quan hệ với Trung Quốc rồi,
cho nên Vương Mãng mới biết để khiến dâng vật cống với
nhau. Nói cách khác là vào những thế kỷ trước và sau Dương
Lịch, đã có những quan hệ giữa Trung Quốc và các nước
khác về đường biển thông qua Việt Nam. Cho nên giả thiết
sự tồn tại của nhà sư Phật Quang giữa thế kỷ thứ III
hay thứ II tdl có thể chứng thực được.
Về
nhà sư Phật Quang [^]
Truyện Nhất Dạ Trạch trong Lĩnh
Nam Trích Quái kể lại việc Chữ Đồng Tử học được đạo
Phật như sau:
"Thương nhân nước ngoài tới lui
buôn bán kính thờ Tiên Dung (và) Đồng Tử làm chúa. Có một
khách buôn lớn đến bảo Tiên Dung rằng: "Quí nhân hãy bỏ
ra một dật vàng năm nay cùng thương nhân ra nước ngoài mua
vật quí, đến sang năm được lãi mười dật". Tiên Dung vui
mừng bảo Đồng Tử: "Vợ chồng ta là bởi Trời mà nên.
Nhưng cái ăn cái mặc là do người làm lấy. Nay nên đem một
dật vàng cùng thương nhân ra nước ngoài mua vật quí để
sinh sống". Đồng Tử bèn cùng thương nhân đi buôn án lênh
đênh ra khắp nước ngoài. Có núi Quỳnh Viên trên núi có
am nhỏ. Thương nhân ghé thuyền vào lấy nước. Đồng Tử
lên am dạo chơi. Trong am có một tiểu Tăng tên Phật Quang
truyền pháp cho Đồng Tử. Đồng Tử ở lại để nghe pháp,
đưa vàng cho thương nhân đi mua hàng. Đến lúc thương nhân
trở về lại tới am đó chở Đồng Tử trở về nhà. Nhà
sư bèn tặng cho Đồng Tử một cây gậy và một cái nón,
vừa bảo: "Các việc linh thông đều ở đó rồi!. Đồng Tử
trở về, đem đạo Phật nói hết với Tiên Dung. Tiên Dung
giác ngộ, bèn bỏ cả quán chợ nghề buôn để cùng Đồng
Tử du phương tìm thấy học đạo".
Việc Chữ Đồng Tử và Tiên Dung,
những người Việt Nam đầu tiên mà ta biết tên tiếp thu
đạo Phật là như thế. Có hai đặc điểm mà ta cần lưu
ý. Thứ nhất, việc tiếp thu này đã xảy ra tại núi Quỳnh
Viên. Núi Quỳnh Viên từ thời Lê Thánh Tôn ta đã biết là
nằm tại cửa Nam Giới, hay cửa Sót. Ngày nay, tại bờ nam
của cửa Sót, còn có một hòn núi gọi là Nam Giới sơn_1.
Phải chăng đây là địa điểm cần tìm hiểu khảo cổ học
để khai quật xem có vết tích gì của Chữ Đồng Tử và
Phật Quang chăng? Trước mắt, ít nhất ta đã xác định được
là Quỳnh Viên không phải là một ngọn núi thần thoại, mà
thật sự là một hòn núi có tên tuổi tại cửa Sót. Do những
dấu vết của Chiêm Thành còn tồn tại đến ngày nay, ta cũng
hiểu thêm từ cửa Sót về nam là miền đất thuộc vương
quốc Chiêm Thành. Như thế, đất nước Việt Nam thời Hùng
Vương phải chăng đã lấy cửa Sót làm một địa điểm ở
miền nam của tổ quốc ta?
Cần lưu ý, từ vùng cửa Sót, trở
ra miền Bắc, ta không tìm thấy có bất cứ di chỉ nào liên
hệ với nền văn hóa của Chiêm Thành. Ngược lại, từ cửa
Sót trở về nam, cụ thể là các vùng phía nam tỉnh Nghệ
An, tức từ Vinh trở về Nam và các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Tĩnh,
Quảng Trị và Thừa Thiên, cho đến ngày nay, vẫn còn những
vết tích của nền văn hóa Chiêm Thành. Nói thế, tức là
muốn nói Phật giáo truyền vào nước ta căn cứ vào Lĩnh
Nam Trích Quái là từ phía Nam, qua trung gian nhà sư Phật Quang
ở núi Quỳnh Viên, tại Nam Giới hay cửa Sót, giáp giới với
Chiêm Thành. Nhà sư này chắc hẳn không phải là ngưòi Việt,
vì rằng truyện Chữ Đồng Tử nói: "Đồng Tử linh đinh ra
khắp nước ngoài (phù du xuất hải ngoại)". Vùng núi Quỳnh
Viên này có khả năng vào thời Chữ Đồng Tử chưa thuộc
vào bản đồ của nước ta. Nhà sư Phật Quang này có thể
là một người Chiêm Thành, hoặc là người Ấn Độ, đang
tìm cách truyền bá Phật giáo vào Việt Nam. Và Chữ Đồng
Tử là ngưòi Việt Nam đầu tiên đã đến tiếp xúc với
ông, để rồi sau đó, trở thành người Phật Sư Việt Nam
đầu tiên có tên tuổi. Truyện Chữ Đồng Tử này sau đó
được Thiên Nam Vân Lục_1 của một tác giả vô danh chép
lại.
Thế thì Chữ Đồng Tử đã tiếp
thu đạo Phật như thế nào? Đây là đặc điểm thứ hai mà
ta cần lưu ý. Truyện Chữ Đồng Tử chỉ nói khi Đồng Tử
trở về quê "Nhà sư bèn tặng cho Đồng Tử một cây gậy
và một cái nón, vừa bảo: mọi việc linh thông đều đã
ở đấy cả". Nói vậy, Lĩnh Nam Trích Quái báo cho ta biết
là truyền thống Phật Giáo mà Chữ Đồng Tử tiếp thu là
một truyền thống Phật giáo quyền năng, đề cập đến những
vấn đề linh dị và thần thông (linh thông). Truyền thống
Phật giáo này, như ta sẽ thấy, xuất hiện trong Mâu Tử cũng
như trong Khương Tăng Hội, và tồn tại cho đến thời một
truyền thống Phật giáo mới ra đời, đó là truyền thống
Phật giáo Thiền của Pháp Vân. Cần nhấn mạnh truyền thống
Phật giáo quyền năng này cho đến thế kỷ thứ VI được
bổ sung bởi truyền hưởng cơ bản của nó. Nó vẫn tồn
tại như một lớp truyền thống Phật giáo mới, bổ sung cho
nó qua lịch sử phát triển của Phật giáo ở Việt Nam. Nhận
thức điều này, ta sẽ dễ dàng hiểu được những hiện
tượng đặc thù của những truyền thống khác nhau của Phật
giáo Việt Nam trong lịch sử. Ta sẽ đi sâu vào vấn đề này
dưới đây.
Chữ
Đồng Tử, người Phật tử Việt Nam đầu tiên [^]
Trước mắt, nếu Chữ Đồng Tử
là người Phật tử Việt Nam đầu tiên, thì vấn đề người
Phật tử đầu tiên này đã sống vào lúc nào? Truyện Nhất
Dạ Trạch chỉ viết một câu hết sức mơ hồ, là: "Vua Hùng
truyền đến cháu đời thứ 3" (Hùng Vương truyền chí tam
thế tôn). Ta biết lịch sử nước ta, tên hiệu Hùng Vương
được dùng để gọi cho nhiều đời vua thời cổ đại. Đại
Việt sử ký toàn thư ngoại kỷ I, tờ 2b9-5b, ghi nhận Hùng
Vương là triều đại đầu tiên của họ Hồng Bàng, và bảo:
"Họ Hồng Bàng từ Kinh Dương Vương năm Nhâm Tuất thụ phong
cùng với Đế Nghi cùng thời, truyền đến đời Hùng Vương
cuối cùng gặp năm 257 tdl của Noãn Vương nhà Chu, là năm
Quí Mão thì chấm dứt, gồm 2622 năm". Nhưng trong phần phàm
lệ, tờ 2a1-2, Ngô Sĩ Liên đã nhận xét: "Hoặc có người
nói (Hùng Vương) có 18 đời, sợ chưa phải là thế".
Đi sâu vào vấn đề này, ta biết
hiện có 3 bản ngọc phả khác nhau liên hệ đến triều đại
Hùng Vương. Bản thứ nhất là một bản chép của thời Lê
Hồng Đức bắt đầu từ năm 1470, rồi được chép lại vào
thời Lê Kính Tôn (ở ngôi 1600-1618), niên đại Hoằng Định.
Bản thứ hai là bản chép tay đời Khải Định được bảo
là chép lại từ một bản thuộc niên đại Thiên Phúc (980-988)
của Lê Đại Hành (ở ngôi 980-1005). Cả hai bản này hiện
tàng trữ tại đền Hùng ở Vĩnh Phú, Phú Thọ. Bản thứ
ba hiện tàng trữ tại chùa Tây Thiên trên núi Tam Đảo, không
có ghi ngày tháng. Vấn đề văn bản học của các ngọc phả
này ta chưa cần đề cập tới ở đây. Chỉ cứ vào chúng,
ta biết tối thiểu mỗi triều đại Hùng Vương có thể có
nhiều người cùng mang một tên hiệu. Chẳng hạn, đời Hùng
Vương cuối cùng là Hùng Duệ Vương thì ta có Duệ Vương
thứ nhất, thứ hai, thứ ba v.v... Vì thế, mười tám đời
Hùng Vương trải dài trên hai ngàn năm là có thể hiểu được.
Riêng đối với vấn đề quan tâm cuả chúng ta ở đây là
cháu đời thứ ba của Hùng Vương là cháu của đời Hùng
Vương nào?
Nếu Phật giáo xuất hiện vào năm
528 (hoặc 529?) tdl ở Ấn Độ và bắt đầu truyền bá qua
các nước xung quanh vào những năm 247-232tdl vào thời của
vua A Dục khi vua này lịnh cho các phái đoàn Tăng lữ đi khắp
nơi để truyền bá đạo Phật, trong đó đặc biệt là phái
đoàn Tăng lữ đi khắp nơi để truyền bá đạo Phật, trong
đó đặc biệt là phái đoàn của Sona đi về vùng Đất vàng
(Suvanabhumi). Vùng Đất vàng này có phải là vùng Đông Nam
Á hay không, có phải là vùng Đông Dương hay không? Đây là
một vấn đề đang còn tranh cãi. Tuy nhiên cứ vào những sử
liệu cổ sơ của Trung Quốc, cụ thể là Sử Ký và Tiền
Hán thư cùng Hậu Hán thư cũng như các di liệu khảo cổ học,
như di liệu khảo cổ học Óc Eo, thì vào những thế kỷ đầu
dl, vùng biển phía Nam nước ta đã rộn rịp những thương
thuyền không những của các quốc gia thuộc nền văn minh Ấn
Độ, mà cả những quốc gia xa xôi của nền văn minh La-mã.
Cho nên, truyền bá Phật giáo vào những vùng đất này là
một sự kiện chắc chắn đã xảy ra.
Hơn nữa, vùng đất miền nam nước
ta từ phía nam cửa Sót trở vào đã mang nặng những vết
tích của nền văn hóa Ấn Độ. Chiếc bia Võ Cảnh tìm thấy
tại làng Võ Cảnh ở Nha Trang, thường được các nhà nghiên
cứu xác định là xuất hiện vào thế kỷ II sdl viết bằng
Phạn văn. Để cho Phạn văn trở thành một ngôn ngữ được
khắc trên đá vào thế kỷ ấy, nền văn minh Ấn Độ vào
thời điểm ấy chủ đạo là Phật giáo, phải truyền bá
tại vùng đất này qua một thời gian tương đối dài, tối
thiểu cũng phải mất một vài ba trăm năm. Nói thẳng ra, văn
minh Ấn Độ phải tồn tại ở phía nam nước ta vào những
thế kỷ trước và sau Dương lịch. Cho nên, vị Hùng Vương
của thời Chữ Đồng Tử ta cũng có thể xác định vào những
thế kỷ tđl, có khả năng là Hùng Nghị Vương thứ nhất
hoặc thứ hai, tức khoảng thế kỷ II-III tđl.
Đoán định này của ta về niên
đại của việc Chữ Đồng Tử tiếp thu Phật giáo là hoàn
toàn phù hợp với quan điểm của thiền sư Chân Nguyên (1647-1728)
trong Thiên Nam Ngữ Lục_1. Sau khi kể chuyện Lữ Gia bị quân
của Hán Vũ đế đánh bại, Chân Nguyên viết:
-
"Gia bỏ cửa mốc nhà rêu
-
Hang thần trật lối, hồn phiêu
đường nào
-
Nước nên thấy những đồng dao
-
Cõi bờ tất đất vào chầu Hán
gia
-
Non Sài tuyệt chẳng vào ra
-
Thấy còn một dấu vườn là Trúc
Viên
-
Đìu hiu ngoài cảnh thiền thiên
-
Thuở trưa quyên khóc, thuở đêm
hạc sầu"
Viết thế, Chân Nguyên muốn nói rằng
ngôi chùa Trúc Viên đã có từ thời Lữ Gia, tức khoảng năm
110 tới tại núi Thầy (Sài Sơn), ở Sơn Tây. Điều này cũng
có nghĩa Phật giáo đã tồn tại ở nước ta vào thế kỷ
thứ II tdl. Đây là một điểm khá lôi cuốn. Bởi vì nó cho
thấy đã từ lâu lưu hành quan điểm cho rằng Phật giáo đã
du nhập vào nước ta từ rất sớm. Đến thời An Thiền viết
Đạo Giáo Nguyên Lưu_1 vào năm 1845, ở quyển thượng, tờ
9a11-b5 dưới mục Đại Nam thiền học sơ khởi, ông đã để
lại truyện tích Chữ Đồng Tử như đã ghi lại trong Lĩnh
Nam Trích Quái:
"Thời Hùng Vương, núi Quỳnh Vi,
có Đồng Tử lên thảo am. Trong am có nhà sư tên Phật Quang.
Đó là người Thiền Trúc, tuổi hơn 40, truyền pháp cho Đồng
Tử một cái nón và một cây gậy, nói rằng: "Linh dị và
thần thông ở đây cả". Đồng Tử đem đạo Phật truyền
cho Tiên Dung. Vợ chồng Tiên Dung bèn học đạo. Đến buổi
chiều ngày trở về, giữa đường cần làm nơi tá túc, bèn
dựng gậy che nón, đến canh ba thì thành quách lâu đài, màn
gấm màn the, kim đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ đầy
cả sân chầu..."
An Thiền cũng đề ra mục Hùng Vương
Phạn Tăng, tức các nhà sư Ấn Độ thời Hùng Vương, ở
tờ 9b6-9, và kể tên nhà sư Khâu Đà La đến thành Luy Lâu
của Sĩ Nhiếp vào thời cuối Hán Linh Đế (168-189 sdl). Xác
định Khâu Đà La vào thời Hán Linh đế dĩ nhiên không thể
xếp Khâu Đà La vào loại các nhà sư vào thời Hùng Vương
được.
Ngoài ra, trong các loại thần tích
cuả các xã ta biết trong số các tướng tá của Hai Bà Trưng,
sau khi bị Mã Viện đánh bại, một số đã mai danh ẩn tích
trong các giáo đoàn Phật giáo. Một trong những vị này được
biết tên là Bát Nàn phu nhơn đã xuất gia. Như sẽ thấy,
chính những vị này cùng người kế nghiệp họ đã tập hợp
những văn bản kinh điển Phật giáo lưu hành lúc ấy, những
bộ kinh đầu tiên hiện còn và được biết mà sau này Khương
Tăng Hội đã dịch thành Hán văn dưới nhan đề Lục độ
tập kinh và Cựu Tạp Thí Dụ Kinh.
Uất
Kim Hương, hoa cúng Phật [^]
Như vậy, qua lịch sử nước ta
đã tồn tại và lưu hành tương đối phổ biến trong giới
sử học Phật giáo Việt Nam một quan điểm cho rằng Phật
giáo đã truyền vào nước ta từ thời Hùng Vương. Vấn đề
bây giờ là thử xem xét quan điểm này có một giá trị hay
không. Ta phải xem xét, bởi vì tất cả các sử liệu đề
cập đến vấn đề này đều xuất hiện khá muộn màng, cách
xa sự việc được ghi lại tới cả hàng nghìn năm, từ Thiền
Uyển Tập Anh, Lĩnh Nam Trích Quái,Thiên Nam Vân Lục cho đến
Thiên Nam Ngữ Lục và Đạo Giáo Nguyên Lưu, những văn bản
này đều ra đời vào thế kỷ thứ VIV trở về sau. Vậy,
ta có thể tìm ra những chứng cứ nào xuất hiện trong những
văn bản sớm hơn, gần gũi hơn, với những sự kiện đã
xảy ra hay không? Trả lời câu hỏi này, ta hiện có tối thiểu
hai cứ liệu.
Thứ nhất, là một câu trích dẫn
của Lý Thời Trân (1518-1593) trong Bản Thảo Cương Mục 14,
tờ 69b4-5 dưới mục Uất Kim Hương: "Dương Phù Nam Châu Dị
vật ký vân: Uất kim xuất Quyết Tân quốc, nhận chủng chi,
tiên hoàng, dự phù dung hoa lý nộn liên giả tương tự, khả
dĩ hương tửu" (Nam Châu dị vật chí của Dương Phù nói:
Uất Kim đến từ nước Quyết Tân, người ta trồng trước
để cúng Phật, vài ngày thì héo, sau đó giữ lại, màu nó
vàng rộm, cùng với nhụy hoa phù dung và sen non tương tự,
có thể dùng để ướp rượu).
Dương Phù, cứ Quảng Châu tiên
hiền chí, của Hoàng Tá (1490-1560) và Bách Việt tiên hiền
chí do Âu Đại Nhiệm viết năm 1554, ghi rằng: "(Dương Phù)
tên tự Hiểu Nguyên, người Nam Hải. Triều vua Chương đế
tìm người tài giỏi, ông đối đáp trúng cách, nên phong làm
Nghị ăn Hòa Đế tức vị, dùng quân đánh Hung Nô, Phù tâu
rằng: "Gầy dựng cơ nghiệp thì dùng võ, giữ lấy cơ nghiệp
thì dùng văn, nên khi nhà Châu thắng nhà Ân thì có việc ca
ngợi sự chấm dứt chiến tranh (...), vậy xin bệ hạ hãy
noi theo nếp đẹp của tổ tông, đừng khinh dùng việc võ".
Năm Vĩnh nguyên thứ 12 (100 sdl) có hạn, vua gọi Phù đến
triều đình bàn việc được mất của chính lịnh (...). Lúc
bấy giờ, Nam Hải thuộc Giao Chỉ bộ. Thứ sử Hà Tắc đi
tuần bộ của mình. Mùa đông Tắc trở về, tâu rằng: Chính
quyền trung ương chọn thứ sử không đúng phép, nên họ sau
đó đã tranh dành nhau tôn thờ việc người khác, dâng tặng
đồ trân quí. Phù bèn lựa những đặc tính của sự vật,
chỉ cho hiểu tính khác lạ của chúng; nhằm nói rõ ra, ông
viết sách Nam Duệ dị vật chi (...). Sau đó ông làm thái thú
quận Lâm Hải, lại làm sách Lâm Hải thủy thổ ký. Người
đời phục ông cao thứ và không khinh thường sự dạy dỗ".
Bản tiểu sử vừa được dịch
là lấy từ Bách việt tiên hiền chí, quyển 2, tờ 5b9-6b10.
Nhưng tất cả các cuốn sử về nhà Hậu Hán như Hậu Hán
ký của Viên Hoằng (328-376) và Hậu Hán thư của Phạm Việp
(398-445) đều không thấy nhắc tới tên Dương Phù. Chỉ đến
Lệ Đạo Nguyên viết Thủy kinh chú trước năm 529, quyển
36 tờ 30a6 và quyển 37 tờ 6a8 mới dẫn một Dương thị Nam
Duệ dị vật chí. Rồi đến Tùy thư kinh tịch chí 33 tờ
133a4-5 mới ghi tên Dương Phù soạn "Giao Châu dị vật chí"
một quyển và "Hán nghị lang Dương Phù soạn "Dị vật chí"
một quyển. Sau đó, Nghệ văn loại tụ do Âu Dương Tuần
soạn năm 624, quyển 84 và quyển 95 và Sơ học ký do Từ Kiên
chủ biên năm 659, quyển 9, cũng như Thái bình ngự lãm quyển
395, quyển 890, v.v... do Lý Phưởng (926-996) biên soạn, mới
bắt đầu trích dẫn Nam Châu dị vật chí hay Nam Duệ dị
vật chí và Giao Châu dị vật chí. Như vậy Nam Châu, Nam Duệ
hoặc Giao Châu đều chỉ chung cho một vùng đất thuộc miền
bắc nước ta hiện nay. Vì thế, nếu Nam Châu dị vật chí
của Dương Phù bảo rằng "người ta" trồng Uất Kim hương
để cúng Phật, thì "người ta" đây chính là người nước
ta. Đây là chứng cớ đầu tiên, xuất hiện tương đối sớm
nhất, tức khoảng năm 100 sdl, xác nhận có một bộ phận
ngưòi Việt đã theo Phật giáo, đã biết trồng hoa Uất kim
hương để cúng Phật, thì "người ta" đây chính là người
nước ta. Đây là chứng cớ đầu tiên, xuất hiện tương
đối sớm nhất, tức khoảng năm 100 adl, xác nhận có một
bộ phận người Việt đã theo Phật giáo, đã biết trồng
hoa Uất kim hương để cúng Phật.
Thành
Nê Lê và đoàn thuyền đạo thời Vua A Dục
[^]
Thứ hai, là một câu viết của
Lưu Hân Kỳ trong Giao Châu ký, nói rằng: "Thành Nê Lê ở phía
đông nam huyện Định An, cách sông bảy dặom, tháp và giảng
đường do vua A Dục dựng vẫn còn. Những người đốn hái
củi gọi là Kim tượng (Nê Lê thành tại Định An huyện,
đồng nam cách thủy thất lý, A Dục vương sở tạo tháp giảng
đường thượng tại hữu, thái tân giả vân thị kim tượng).
Thế thì thành Nê Lê của Định
An huyện nằm ở đâu? Tài liệu sớm nhất tới thành này
là Thủy kinh chú quyển 37 tờ 6b4-6 của Lệ Đạo Nguyên: "Bến
đò Quan Tắc xuất phát từ đó, song nó từ phía đông huyện
đi qua huyện An Định và Trường Giang của Bắc Đái. Trong
sông, có nơi vua Việt vương đúc thuyền đồng. Khi nước
triều rút, người ta còn thấy dấu vết. Sông lại chảy về
phía đông, cách sông có thành Nê Lê, người ta bảo là do
"vua A Dục dựng" (Độ Định huyện Bắc Đái Trường Giang.
Giang trung hữu Việt Vương sở đào đồng thuyền, triều thủy
thối thời, nhân hữu kiến chi dã. Kỳ thủy hựu đông lưu,
cách thủy hữu Nê Lê thành, ngôn A Dục vương sở trúc dã).
Tên huyện An Định xuất hiện sớm
nhất trong Tiền Hán chư 28 hạ, tờ 10b9-11a25; ở đấy nó
là một trong mười huyện thuộc quận Giao Chỉ mà ngoài nó
ra, gồm có Luy Lâu, Liên Lâu, Phú Lầu, Mê Linh, Khúc Dương,
Khúc Bắc Đái, Khể Từ, Tây Vu, Long Biên và Chu Diên. Nhưng
đến khi Tư Mã Bưu viết Hậu Hán chí vào giữa những năm
245 đến 305, và Lưu Chiếu chú thích đầu thế kỷ VI sdl thì
ta không biết vì lý do gì mà huyện An Định lại trở thành
huyện Định An trong Hậu Hán thư 33 tờ 21a8-b5. Danh xưng Định
An đến thời Tam Quốc vẫn còn được dùng như Hồng Lượng
Cát đã ghi nhận trong Tam Quốc cương vức chí quyển hạ tờ
33a6. Đến đời Tấn thì tên An Định lại được dùng như
trong Tấn thư 15 tờ 8b13-9a2. Qua đời Lưu Tống, An Định lại
được đổi thành Định An mà chứng cớ có thể thấy trong
Tống thư 38 tờ 40b1. Vậy trong vòng 5 thế kỷ, danh xưng Định
An hay An Định cứ thay đổi nhau để chỉ cho một vùng đất,
một huyện của Giao Chỉ. Thế thì vùng đất này nằm ở
đâu tại miền Bắc nước ta hiện nay?
Trước đây, Claude Madrolle_1 căn
cứ vào tên thanh Nê Lê, tức thành bùn đen, để giả thiết
thành Nê Lê ở chính vùng Đồ Sơn ủa thành phố Hải Phòng.
Nê Lê hiểu như nghĩa bùn đen tất nhiên không phù hợp với
văn phạm chữ Hán. Bởi vì nếu hiểu Nê là bùn, và Lê là
màu đeen, thì thành này phải có tên là Lê Nê, chứ không
phải là Nê Lê. Hơn nữa, cụm từ Nê Lê trong Hán văn thường
được dùng như một phiên âm của chữ Naraka của tiếng Phạn.
Và Naraka lại có nghĩa là Địa ngục. Tại vùng núi Tam Đảo
có ba ngọn cao nhất là Thạch Bàn, Phù Nghĩa và Thiên Kỳ;
trong đó, giữa chân ngọn Thạch Bàn, tại làng Sơn Đình,
có ngôi chùa Tây Thiên. Chùa này tương truyền là liên hệ
với vua Hùng và có một bản ngọc phả về vua Hùng thờ tại
đây. Điểm lôi cuốn là chùa Tây Thiên này lại có tên nôm
na là chùa Địa Ngục. Đã là chùa thì thiếu gì tên tại
sao lại có tên Địa Ngục, phải chăng là do từ chữ Naraka
mà ra? Huyện An Định do thế có khả năng nằm tại vùng núi
Tam Đảo này chăng? Muốn trả lời dứt khoát câu hỏi này,
ta phải đợi một cuộc điều tra khảo cổ thực địa.
Trước mắt, chùa Địa Ngục mà
cũng gọi là chùa Tây Thiên này đã ám chỉ ít nhiều đến
thành Nê Lê của huyện An Định. Cần lưu ý huyện An Định
ở quanh vùng núi Tam Đảo, vì cũng chính tại đây, đã có
thành Cổ Loa xưa, mà việc khai quật được những mũi tên
đồng đã biểu hiện ít nhiều tính cổ sở của huyện này.
Nói thẳng ra, những di liệu khảo cổ học như thế chứng
tỏ vùng đất này từ thời Hùng Vương đã từng là trung
tâm chính trị quân sự của chính quyền Lạc Việt. Xác định
thành Nê Lê vào vùng này, do đó hoàn toàn phù hợp với việc
đặt thành Nê Lê vào huyện Tống Bình của Nhạc Sử trong
Thái bình hoàn vũ ký 170 tờ 7a2-4.
Nếu vậy, Lưu Hán Kỳ và Giao Châu
ký xuất hiện vào lúc nào? Tăng Chiêu vào năm Đạo Quang thứ
nhât (1820) đã cố gắng tái thiết Giao Châu Ký từ những
đoạn phiến trích dẫn rải rác trong các tác phẩm Trung Quốc
như Hậu Hán thư, Thúy kinh chú, Tế dân yếu thuật, Bắc Đường
thư sao, Nghệ văn loại tụ Sơ học ký, Thái bình ngự lãm
v.v... Trong lời bạt cho quyển Giao Chaâu ký tái kiến này,
Tăng Chiêu đã vạch ra là Kinh tịch chí của Tuỳ thư cũng
như Cựu Đường thư và Nghệ văn chí của Tân Đường thư
đều không có mục nào về Giao Châu ký của Lưu Hân Kỳ hết.
Ngay cả Thái Bình ngự lãm kinh sử đồ thư cương mục cũng
không có mục nào giữa hơn một ngàn bảy trăm mục dành cho
những quyển sách mà Lý Phường đã dẫn trong Thái bình ngự
lãm. Tuy vậy, Thái bình ngự lãm đã dẫn ít nhât 32 đoạn
phiến dưới tên Giao Châu ký và 1 dưới tên Giao Châu tập
ký. Sự im lặng ấy tạo ra không ít những khó khăn trong việc
xác định một niên đại phải chăng cho Lưu Hân Kỳ và tác
phẩm của ông. Dẫu thế, với những dẫn chứng cuả Lệ
Đạo Nguyên, một người mất năm 529, trong Thủy Kính chú,
của Giả Tư Hiệp trong Tế dân yếu thuật, Lưu Chiếu trong
Hậu Hán thư, Lý Thiện trong Ngô Đô phú chú của Văn tuyển,
v.v... thì rõ ràng Giao Châu ký của Lưu Hân Kỳ đã ra đời
trước thế kỷ thứ VI sdl. Không những thế, nhờ vào việc
phân tích những bằng cớ nội tại của chính Giao Châu ký
tái thiết trên, Tăng Chiêu có thể đẩy niên đại giả thiết
về một thế kỷ sớm hơn.
Trước hết, Thái Bình ngự lâm
quyển 947 có một câu trích từ Giao Châu ký của Lưu Hán Kỳ
nói rằng: "Trong niên hiệu Thái Hòa có ngưòi đến hang Vũ
Linh trong đó có con kiến càng rất lớn" (Thái Hòa trung, hữu
nhân chi Vũ Lĩnh huyệt, trung hữu đại tư phù thậm đại).
Thái hòa là niên hiệu củ Ngụy
Minh đế bắt đầu từ năm 227 hoặc của Tây Hải công nhà
Đông Tấn giữa những năm 366-371. Niên đại đầu có thể
loại ra một cách dễ dàng, bởi vì Thái bình ngự lãm quyển
49 tờ 10b có nhắc đến việc Lý Tốn đánh Châu Nhai, mà việc
này đã xảy ra vào mùa đông tháng 10 năm Thái nguyên thứ
5 (380) của nhà Tấn, như Tư trị thông giám quyển 104 tờ
3247 đã liệt
Nghệ văn loại tụ quyển 95 từ
1659 dẫn chuyện "Chuột tre giống như chó con, ăn gốc tre,
sinh sản ở huyện Phong Khê" và bảo trích từ Giao Châu ký
củ Lưu Hân Kỳ, Phong Khê không được liệt ra như một địa
danh trong phần Địa lý chí của Tống thư. Do đó nhà Lưu
Tống chắc đã bỏ tên này. Nhưng Tấn thư quyển 14 tờ 9a
lại có địa danh ấy như một huyện của quận Vũ Bình. Nhà
Lưu Tống thành lập 420. Chuyện chuột tre như vậy phải được
ghi lại trước niên đại đó, tức phải vào đời Đông Tấn
(308-420). Bằng vào những dữ kiện nội tại này, Tăng Chiêu
đã kết luận là Giao Châu ký viết vào thời nhà Tấn và
Lưu Hân kỳ phải sống và viết vào những năm 360-420.
Cách xác định niên đại này của
Tăng Chiêu kể ra khá lôi cuốn. Điều cần ghi là vì những
bằng cớ vừa kể tuy ít ỏi, đã thoả mãn cả cả điều
kiện cần cũng như đủ nên niên đại vừa nêu là có thể
chấp nhận được. Tuy nhiên, bản Giao Châu ký do Tăng Chiêu
tái lập không phải đã thu thập hết những đoạn phiến
đã được trích dẫn của Lưu Hân Kỳ. Chẳng hạn, Ngũ Sùng
Diệu vào năm 1840 đã viết trong lời bạt cho Giao Châu ký
tái lập của Tăng Chiêu cho rằng Chiêu đã không thu thập
chính câu mà chúng ta trích dẫn ở đây, do Nhạc Sử (930-1007)
dẫn trong Thái bình hoàn vũ ký quyển 170, tờ 7a2-4.
Vậy, cho tới ít nhất những năm
380 đến 420 những người đi hái củi ở nước ta còn thấy
được Chùa và Tháp do vua A Dục dựng tại thành Nê Lê ở
huyện An Định. Kết luận này có thể đáng tin đến mức
độ nào? Có thật có Tháp do vua A Dục ở thành Nê Lê của
nước ta hay không? Tất nhiên đây là những câu hỏi chính
đáng. Đặc biệt khi ta nghiên cứu tư liệu lịch sử Phật
giáo Trung Quốc, ta thấy vao khoảng hai thế kỷ thứ IV và
V sdl, tức gần cùng thời với niên đại của Lưu Hân Kỳ,
nổi bật một phong trào đi tìm chùa vua A Dục ở Trung Quốc.
Thí dụ, việc tìm vua A Dục ở Bành Thành, Thạch Lặc và
Thạch Hổ đào chùa vua A Dục ở Lâm Trì và Đào Khản tìm
cách nghinh tượng Phật của vua A Dục từ chùa Hàn Khê v.v...
Cả một thời đại đi tìm chùa vua A Duc ở Trung Quốc như
thế, ắt không thể nào không ảnh hưởng đến việc tìm
chùa vua A Dục ở nước ta. Dẫu thế, cũng cần lưu ý việc
đề cập đến sự có mặt của Chùa Tháp liên hệ đến vua
A Dục tại Việt Nam có thể coi là một trong những thông tin
sớm nhất thuộc loại ấy ở vùng Đông Nam Á. Nó ít nhiều
có thể ám chỉ đến phái đoàn truyền giáo của Sona do vua
A Dục phái đi. Vì vậy, không phải hoàn toàn vô lý khi Lĩnh
Nam Trích Quái ghi lại việc Chữ Đồng Tử được nhà sư
Phạt Quang truyền đạo Phật cho. Nói khác đi, những truyền
thuyết về sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam vào thời Hùng
Vương, tuy ghi chép tương đối chậm vào đầu thiên niên kỷ
thứ 2 trở đi, không phải không có chứng cớ xuất hiện
tương đối sớm trong các tư liệu Trung Quốc. Trong khi chờ
đợi khai quật được những di vật khảo cổ học tại cửa
Nam Giới và núi Tam Đảo, ta có thể có một số ý niệm khá
chính xác về sự hiện diện của Phật giáo tại nước ta
vào những thế kỷ tdl.
Boᩍ
cảnh văn hóa Tín ngưỡng thời Hùng Vương [^]
Hai vấn đề tiếp theo là nếu Phật
giáo truyền vào nước ta vào thời điểm đó, tức vào những
thế kỷ trướoc tây lịch, tình trạng văn hóa tín ngưỡng
của dân tộc ta vào thời ấy như thế nào và những kinh điển
gì của Phật giáo được dân tộc ta tiếp thu?
Về vấn đề thứ nhất, ta biết
nền văn hóa Hùng Vương đã đạt được một số thành tựu
rực rỡ. Trước tiên, nền văn hóa này đã xây dựng được
một bộ máy công quyền dựa trên luật pháp, để bảo vệ
biên cương và điều hành đất nước. Dấu vết cụ thể
là bộ Việt Luật, mà vào năm 43sdl sau khi đánh bại được
đế chế Hai Bà Trưng, Mã Viện đã phải điều tấu: "Hơn
mười điều của Việt Luật khác với Hán Luật", như Hậu
Hán thư 54 tờ 9a8-10 đã ghi. Sự kiện "điều tấu" này về
Việt Luật đối lập với Hán Luật xác định cho ta một
số điểm. Thứ nhất, việc Lưu Tú sai Mã Viện dẫn quân
đánh Hai Bà Trưng vào năm Kiến Vũ thứ 18 (42 sdl) thực chất
không phải là một đàn áp khởi nghĩa đơn thuần, mà là
một cuộc xâm lược đối với một đất nước có chủ quyền
dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng trên cơ sở luật pháp
của bộ Việt Luật. Bộ Việt Luật này ngày nay đã mất,
giống như số phận của Hán Luật. Tuy nhiên chỉ một việc
đặt Việt Luật ngang với Hán Luật. Tuy nhiên chỉ một việc
đặt Việt Luật ngang với Hán Luật cho phép ta giả thiết
nó là một bộ luận hoàn chỉnh với các qui định và điều
khoản được ghi chép rõ ràng, để cho Mã Viện đem so sánh
với Hán Luật và phát hiện có "hơn mưòi việc" sai khác.
Với một bộ luật như thế tồn tại, tất nhiên một chính
quyền khởi nghĩa của Hai Bà Trưng không thể có đủ thời
gian để thiết lập. Một khi đã vậy, Việt Luật là một
điểm chỉ chắc chắn về sự tồn tại của một chính quyền
Hùng Vương độc lập năm 110 tdl cho đến 43 sdl. Chỉ một
tồn tại liên tục lâu dài cỡ đó mới cho phép ra đời một
bộ luật hoàn chỉnh và có tác động rộng rãi trong xã hội.
Chính vì tác động rộng rãi này mà Mã Viện bắt buộc phải
bắt tay ngay vào việc điều chỉnh các điều khoản của Việt
Luật cho phù hợp với Hán Luật, như đã thấy.
Hai là, để có một bộ máy công
quyền quản lý bằng luật pháp, xã hội Việt Nam thời Hùng
Vương phải có một bước phát triển cao, một cơ cấu tổ
chức phức tạp cần quản lý bằng luật pháp. Nếu căn cứ
vào truyện 87, tức Ma Điệu Vương Kinh, của Lục độ tập
kinh 8, ĐTK 152 tờ 49a 10-12 ta có thể thấy một phần nào cách
quản lý bằng luật pháp này: "Có kẻ không thuận hóa thì
tăng nặng thuế và việc công ích, đem một nhà máy này sống
giữa năm nhà người hiền, khiến năm nhà này dạy một nhà
kia, người thuận theo trước thì thưởng. Bề tôi giúp việc
thì dùng người hiền, mà không dùng dòng dõi quí phái" (hữu
bất thuận hóa giả trùng dao dịch chi, dĩ kỳ nhất gia xử
vu hiền giả. Ngữ gia chi gian lệnh ngũ hóa nhất gia, tiên
thuận giả thưởng. Phụ thần dĩ hiền, bất dĩ quí tộc).
Ba là để duy trì cho một cơ cấu
xã hội phức tạp như vậy, tất nhiên đòi hỏi phải có
một nền kinh tế phát triển đa dạng, năng động, một nền
văn hóa có bản sắc đặc tính riêng. Và cuối cùng, để
có một bộ luật như Việt Luật, ngôn ngữ tiếng Việt thời
Hùng Vương quyết đã đạt đến một trình độ phát triển
chính xác, đủ để phát biểu những qui định thành một
văn bản pháp quy. Và để ghi những văn bản pháp quy đó,
tiếng Việt phải có một hệ thống chữ viết riêng, mà dấu
tích ngày nay ta có thể thấy qua bài "Việt ca"_1 ghi trong Thuyết
uyển 11 tờ 6a11-4a4.
Bài
Việt ca và ngôn ngữ việt thời Hùng Vương [^]
Thuyết Uyển là bộ sách duy nhất
đã chép lại nguyên văn một tác phẩm văn học khác với
tiếng Trung Quốc, đó là bài Việt ca mà có khả năng là Lưu
Hương (77-6tdl) đã rút tư liệu từ bí phủ nhà Hán. Khi mới
lên ngôi năm 33tdl, Hán Thành đế đã giao cho Lưu Hương giữ
chức Hiệu trung ngũ kinh bí thư, như Tiền Hán thơ 36 tờ 5b4-10
đã ghi. Văn nghệ chí trung Tiền Hán thư 36 tờ 1a 11-b7 cũng
chép: "Đến đời Hữu Vũ (140-86tdl), Thi thiếu, Thư rơi, Lễ
nát, Nhạc đỗ. Thánh thượng bùi ngùi nói: Trẫm rất đau
xót". Do thế, đưa ra chính sách cất sách, đặt quan chép sách,
dưới tới truyền thuyết các nhà đều sung bí phủ. Đến
đời Thành đế (32-6 tdl) cho là sách đã tán vong nhiều, bèn
sai yết giả Trần Nông tìm sách sót ở thiên hạ, ra chiếu
quang lục đại phu Lưu Hướng hiệu đính kinh truyện chư tử
thi phú [...]. Mỗi một sách xong, Hưóng bèn xếp đặt thiên
mục, tóm tắt đại ý, chép ra tâu vua". Cũng Tiền Hán thư
36 tờ 22a7: "Hướng thu tập truyện ký hành sự viết Tân tự,
Thuyết uyển gồm 50 thiên, tâu vua". Bản thân Lưu Hương trong
lời tâu dâng sách Thuyết uyển ở Thuyết uyển tự tờ 2a
13-b6 cũng nói: "Bề tôi Hướng nói Thuyết uyển tạp sự của
Trung thư_1, do [Hướng] hiệu đính (...) sự loại lắm nhiều,
chương cứ hỗn tạp...". Riêng Tăng Củng, khi viết về Thuyết
uyển, trong Thuyết Uyển tự tờ 1a5-7, cũng đề cập xa gần
tới bài Việt ca: "[Lưu] Hướng lựa cọn sự tích hành trạng
do truyện ký trăm nhà chép lại, để làm ra sách Thuyết uyển
tâu lên, muốn lấy làm phép răn".
Thuyết uyển được viết vào những
năm 18-12 tdl. Về một bài ca của người Việt gọi là Việt
ca, Thuyết Uyển 11 tờ 6a11-7a4 ghi thế này: "Tương Thanh Quân
bắt đầu ngày được phong mặc aó thúy, đeo kiếm ngọc,
đi giày the, đứng trên sông Du. Quan đại phu ôm dùi chuông,
huyện lịnh cầm dùi trống, ra lệnh bảo: "Ai có thể đưa
vua qua sông?" Quan đại phu nước Sở là Trang Tân đi qua nói
chuyện. Bèn đến giả bộ vái ra mắt, đứng lên nói: Thần
xin cầm tay vua, được không?" Tương Thành Quân giận, đổi
sắc mà không nói gì.
"Trang Tân né chiếu, chấp tay nói:
"Chắc có mình ngài không nghe việc Ngạc quân Tử Tích thả
thuyền chơi trong giòng Tân ba, cỡi thuyền Thanh hàn rất lộng
lẫy, trương lộng thúy, cầm đuôi tê, trải chiếu vạt đẹp.
Khi tiếng chuông trống xong, thì chèo thuyền. Người Việt
ôm mái chèo ca. Lời ca nói:
-
Lạm hề biện thảo
-
Lạm dư xương hộ
-
Trạch dư xương châu
-
Châu khán châu
-
Yên hồ tần tư
-
Tư mạn dư
-
Hồ chiêu thiền tần dũ
-
Sấm thật tùy hà hồ.
Ngạc quân Tử Tích nói: "Ta không biết
lời ca Việt. Ông thử vì ta nói bằng tiếng Sở". Lúc đó
mới gọi Việt dịch, bèn nói tiếng Sở rằng:
-
Kim tịch hà tịch hề khiền trung
châu lưu
-
Kim nhật hà nhật hề đắc dự
vương tử đồng chu
-
Mông tu bị hảo hề bất tí cấu
sĩ
-
Tâm cơ ngoan nhi bất tuyệt hề tri
đắc vương tử
-
Sơn hữu mộc hề mộc hữu chi
-
Tâm duyệt quân hề quân bất tri.
Dịch:
-
Chiều nay chiều nào hề nhổ dòng
trung châu
-
Ngày nay ngày nào hề được cùng
thuyền với vua
-
Được ăn mặc đẹp hề không trácn
nhục hổ
-
Lòng từng ngang mà không dứt hề
biết được vương tử.
-
Núi có cây hề cây có cành
-
Lòng thích vua hề vua chẳng rằng.
"Lúc đó, Ngạc quân Tử Tích dơ tay
áo dài đi mà che, đưa mền gấm mà phủ. Ngạc quân Tử Tích
là em mẹ vua Sở Thần, làm quan đến lịnh doãn, tước là
chấp khuê. Một lần chèo thuyền, mà người Việt còn được
vui hết ý.
Nay ngài sao vượt hơn Ngạc quân
Tử Tích, bề tôi sao riêng không bằng người chèo thuyền?
Xin cầm tay ngài, sao lại không được?".
"Tương Thành Quân bèn đưa tay mà
đi lên, nói: "Ta thuở nhỏ cũng thường nổi tiếng sang trọng
về đối đáp, chưa từng bỗng bị nhục nhã như thế. Từ
nay về sau, xin lấy lễ lớn nhỏ, kính cẩn nhận lệnh".
Thông tin về bài Việt ca này, được
ghi trong truyện Nguyên Hậu trong Tiền Hán thư 98 tờ 8b4-6 như
sau: "Nguyên trước Thành đô hầu Thương thường bệnh, muốn
tránh nóng, theo vua, mượn cung Minh Quang, sau lại đục thành
Trường An dẫn nước sông Phong đổ vào hồ lớn trong nhà
mình, để đi thuyền, dựng lọng lông chim, trướng màn vây
khắp, chèo thuyền hát lối Việt" (trấp dịch Việt ca).
Thành đô hầu Thương túc Vương
Thương (?-14tdl) làm đại tu mã đại tướng quân, phụ chính
cho Hán Thành đế những năm 17-14 tdl. Việc Thương lấy thuyền
cho dựng lọng lông chim gợi cho ta hình ảnh các thuyền với
người mặc áo mũ lông chim trên những hoa văn trống đồng
Ngọc Lũ, một trống đồng có niên đại gần gũi với Vương
Thương. Không những thế, Thương lại cho người cầm chèo
hát bài hát tiếng Việt mà từ đây ta gọi là bài Việt ca.
Thương lại la đồng đại cuả Lưu Hướng (77-6 tdl) người
Việt Thuyết Uyển và đầu tiên chép trọn bài Việt ca bằng
tiếng Việt và dịch ra tiếng Sở như ta đọc ở trên. Một
người tầm cỡ như Vương Thương làm đại tư mã đại tướng
quân từ năm 17-14 tdl tất không thể nào Hướng không biết
tới. Cho nên, nếu Thương đã đục cả "thành vua" (đế thành)
dễ dẫn nước sông vào hồ minh cho người ta "chèo thuyền
hát Việt ca", thì những bài "Việt ca" naỳ không thể không
lôi cuốn sự chú ý của Hướng, một người "chuyên dồn
lòng vào kinh thuật, ngày đọc sách truyện, đêm xem trăng
sao, có khi không ngủ đến sáng" Như thế, bài "Việt ca", mà
Lưu Hướng chép luôn cả nguyên văn chữ Việt của nó vào
Thuyết uyển, dù có xuất phát từ bí phủ đi nữa, thì ít
nhiều cũng chịu ảnh hưởng của lối hát Việt ca thịnh
hành tại kinh đô Trường An nhà Hán trong các gia đình quyền
quí thời đó, trong đó có Vương Thương.
Bài Việt ca này không thể xuất
hiện chậm hơn năm 16tdl, năm Lưu Hương hoàn thành Thuyết
Uyển. Ta biết Trang Tân và Tương Thành Quân là những nhân
vật thế kỷ thứ IV tdl, còn Ngạc quân Tử Tích là con thứ
tư của Sở Cung vương, và tự sát lúc Bình Vương lên ngôi.
Sở cung vương trị vì giữa những năm 590-560 tdl, còn Sở
Bình Vương lên ngôi năm 528 tdl_1. Việc lưu hành của bài Việt
ca do thế, phải xảy ra vào thế kỷ thứ VI-V tdl, nếu không
sớm hơon, để cho chuyện Trang Tân và Tương Thành Quân ghi
lại và được nghe đến. Và tiếng Việt như thế không chỉ
hiện diện như một ngôn ngữ của giống người Việt, mà
còn như một ngôn ngữ có chữ viết tương đối hoàn chỉnh,
để cho Lưu Hương có thể chép lại nguyên văn cùng bản dịch
"tiếng Sở" của nó có từ một bản văn nào đó trong bí
phủ của hoàng cung nhà Hán. Sự kiện Việt ca được chép
cả nguyên bản lẫn dịch bản chứng tỏ người viết bản
gốc ấy tương đối thông thuộc cả hai ngôn ngữ cùng hệ
thống chữ viết của chúng. Và người này tối thiểu phải
sống trước thời Lưu Hướng, để cho tác phẩm cuả ông
ta có đủ thời gian đi vào "bí phủ" và "trung thư" của nhà
Hán.
Bài Việt ca này, có thể đọc,
chấm câu và cắt nghĩa như sau:
Cách đọc tiếng Việt theo đề
nghị của chúng tôi:
-
Lắm buổi điên đảo
-
Lắm giờ chung gọ
-
Nước giờ chung đuốc
-
Đuốc cành đuốc
-
Yên dạ gìn vua
-
Vua vẫn cờ
-
Dạ sao thân gìn vua
-
Xiêm thực vị há hổ.
Để tiện cho công tác tham khảo, chúng
tôi nhân đây viết bài ca này theo hệ phát âm tiếng Trung
Quốc thời Hán theo hệ phát âm nghiên cứu Karlgren:
-
glâm jiei b'ian ts'ôg
-
glâm dio t'iang g'o
-
d'àk dio t'iang tiôg
-
tiôg kâm tiôg
-
gian g'o dz'ien siwo
-
siwo mwân dio
-
g'o t'jog d'ân dz'ien diu
-
ts'âm ziek zwie g'â g'o
Theo cách cắt nghĩa và chấm câu như
trên thì bản dịch chữ Hán trên phải tổ chức lại cho tương
đương với bài ca chữ Việt như thế này:
Bản dịch chữ Hán:
-
Kim tịch hà tịch hề khiển trung
châu lưu
-
Kim tịch hà nhật hề đắc dự
vương tử đồng chu
-
Sơn hữu mộc hề
-
Mộc hữu chi
-
Tâm duyệt quân hề
-
Quân bất tri
-
Tâm cơ ngoan như bất tuyệt hề
đắc tri vương tử
-
Mông tu bị hảo hề bất tí cầu
sĩ.
Như thế là vào những năm 40-1 tdl,
loại hình âm nhạc Việt ca, đã bắt đầu chiếm lĩnh sinh
hoạt văn hóa của một bộ phận quí tộc Trung Quốc, cụ
thể là Vương Thương, làm đại tư mã đại phụ chính vào
những năm 17-14 tdl. Lưu Hướng, với tư cách Hiệu trung bí
thư, và trong quá trình "đi tìm di thư trong thiên hạ", như
Tiền Hán thư 10 tờ 5a8-9 ghi, đã sưu tầm và chép bản Việt
ca này vào trong Thuyết Uyển. Cũng có khả năng là người
Việt tại nước ta đã ché và gởi lên Trung Quốc những bản
văn tiếng Việt đó làm quà cống. Thuyết Uyển không phải
là một bộ sách thường, mà là một bộ sách dâng vua. Vì
thế, việc chép bài Việt ca tiếng Việt vào Thuyết Uyển
chứng tỏ rằng bài Việt ca này đã phổ biến khá rộng rãi
trong giới quí tộc Trung Quốc chứ không phải chỉ trong quần
chúng, và tình trạng phổ biến đó đưa đến sự quen thuộc
của người yêu tích đối với cả nhạc lẫn lời của các
bài Việt ca. Trong thời cổ đại, đây có thể nói là trường
hợp đầu tiên và duy nhất, mà một bài thơ nưóc ngoài chép
bằng tiếng nước ngoài cùng với bản dịch tiếng Hán xuất
hiện trong một tác phẩm cổ điển Trung Quốc.
Qua bài Việt ca như thế, ta có thể
khẳng định là vào thời Hùng Vương đã xuất hiện một
ngôn ngữ Việt nam, mà ta có thể tìm thấy trong Lục Độ
tập kinh, trong đó còn bảo lưu trên 15 trường hợp các cấu
trúc ngữ học theo văn pháp tiếng Việt, cung cấp cho chúng
ta một số lượng đáng kể các tá âm cho việc nghiên cứu
tiếng Việt cổ và phục chế lại diện mạo tiếng nói ấy
cách đây hai ngàn năm
Lục
Độ tập kinh [^]
Lục Độ tập kinh là văn bản đầu
tiên và xưa nhất, ngoài bài Việt ca, tập thành những chủ
đề tư tưởng lớn của dân tộc như nhân nghĩa, trung hiếu,
đất nước, mất nước v.v... làm cột sống cho chủ nghĩa
nhân đạo Việt Nam và truyền thống văn hóa Việt Nam_1. Lục
độ tập kinh được Khương Tăng Hội dịch vào thời Tam Quốc,
từ một truyện bản Lục độ tập kinh tiếng Việt, gồm
có cả thảy 91 quyển.
Bản kinh lục xưa nhất hiện còn
là Xuất tam tạng ký tập 2. ĐTK 2145 tờ 7a27-b1 ghi về Lục
độ tập kinh như sau: "Lục độ tập kinh 9 quyển, hoặc gọi
là Lục độ vô cực kinh... Thời Ngụy Minh đế (228-240) Sa-môn
Thiên Trúc Khương Tăng Hội dịch ra vào đời Ngô Chúa Tôn
Quyền (222-252) và Tôn Lượng (253-258)". Cao Tăng truyện 1, ĐTK
2059 tờ 326a21 ghi thêm là Khương Tăng Hội dịch Lục độ
tập ở chùa Kiến sơ. Pháp Kinh viết Chúng kinh mục lục 6,
ĐTK 2146 tờ 144a11, năm Khai Hoàng 14 (594) trong mục Tây phương
chư thánh hiền sở soạn tập ghi: "Lục độ tập 4 quyển,
Khương Tăng Hội đời Ngô dịch". Phí Trường Phòng viết
Lịch đại tam bảo ký 5, ĐTK 2034 tờ 36b24, năm Khai Hoàng 17
(597) viết: "Năm Thái Nguyên thứ nhất (251 sdl), ở Dương Đô
chùa Kiến Sơ, dịch các kinh Lục độ tập v.v.. 4 bộ 16 quyển"
Đạo Tuyên soạn Đại Đường nội điển lục 2 ĐTK 2149 tờ
230a6-c23 ghi: "Lục độ tập kinh 9 quyển, một chỗ gọi Lục
Độ vô cực kinh, một gọi Độ vô cực kinh, một gọi Tạp
vô cực kinh. Xem Trúc Đạo tổ lục và Tam tạng kỳ... Đời
Tề Vương nhà Ngụy trong năm Chính Thủy (241-249) Sa-môn Thiên
Trúc Khương Tăng Hội ở chùa Kiến Sơ dịch...". Các nhà viết
kinh lục khác, như Minh Thuyên trong Đại Châu sanh định chứng
kinh mục lục, Ngạn Tôn trong Chúng kinh mục lục 2 ĐTK 2147
tờ 161b7 ở mục Hiền thánh tập truyền, Trí Thăng trong Khai
nguyên Thích giáo lục 2 ĐTK 2154 tờ 490b4-591b23, Tỉnh Mại
trong Cổ Kim dịch Kinh đồ ký 1 ĐTK 2152 tờ 352a26-b22, Tỉnh
Thái trong Chúng kinh mục lục 2 ĐTK 2148 tờ 195a28 v.v... cũng
đều có liệt kê Lục Độ tập kinh hoặc 8 hoặc 9 quyển,
và đều nhất trí là được Khương Tăng Hội dịch.
Văn từ và nội dung Lục độ tập
kinh chứa đựng một số nét khiến ta nghi ngờ nó không phải
là một dịch phẩm từ nguyên bản tiếng Phạn. Chẳng hạn,
truyện 49 của Lục độ tập kinh 5, tờ 28a22-24, có câu phát
biểu của anh thợ săn nói rằng: "[Tôi] ở đời lâu năm,
thấy nho sĩ tích đức làm lành, há có bằng đệ tử Phật
quên mình cứu mọi người, ở ẩn mà không dương danh, ư?",
thì rõ ràng nếu Lục độ tập kinh do "thánh hiềm soạn ra",
thì chắc chắn không phải là "thánh hiền phương Tây" (tức
Thiên trúc hay Ấn Độ) vì "phương Tây" thời ấy làm gì có
"nho sĩ" của phương Đông? Do vậy, đây phải là một phát
biểu của "thánh hiền phương Đông", mà trong trường hợp
này, lại là một "thánh hiền" của nước ta, để đến năm
251, Khương Tăng Hội mới dịch nó ra tiếng Trung Quốc. Và
cũng chính dựa vào bản Lục Độ tập kinh tiếng Việt này
mà bản dịch ra tiếng Trung Quốc của Khương Tăng Hội mới
mang tính "văn từ điển nhã" như Thang Dụng Đồng nhận định
trong quyển Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo
sử_1 và dẫn đến việc họ Thang giả thiết là bản Lục
độ tập kinh tiếng Trung Quốc này không phải do Hội dịch,
mà có khả năng là do Hội viết ra. Thức tế, là Khương Tăng
Hội đã dùng một bản đáy tiếng Việt, chứ không phải
tiếng Phạn, để dịch Lục độ tập kinh ra tiếng Trung Quốc.
Vì vậy khi đọc lên, ta nghe gần gũi, có cảm tưởng như
một bản văn viết chứ không phải là một bản dịch từ
nguyên bản chữ Phạn hay một phương ngôn nào đó cuả Ấn
Độ. Nếu đọc kỹ hơn, ta phát hiện thêm một sự kiện
hết sức lạ lùng, nhưng rất quan trọng và có nhiều ý nghĩa
đối với không những Lịch sử Phật giáo Việt Nam mà còn
với Lịch sử văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam nữa.
Ngôn
ngữ Việt [^]
Sự kiện đó là trong một số câu
của Lục độ tập kinh, Khương Tăng Hội đã không viết đúng
theo ngữ pháp Trung Quốc mà lại theo ngữ pháp Việt Nam, ta
có cụ thể các đoạn:
1. Truyện 13, tờ 7c13: "Vương cập
phu nhân, tự nhiên hoàn tại bản quốc trung cung chính điện
thượng tọa...".
2. Truyện 14, tờ 8c5: "Nhĩ vương
giả chi tử, sinh ư vinh lạc, trưởng ư trung cung..."; cùng
truyện, tờ 9b27: "Lưỡng nhi đổ chi, trung tâm đát cụ...".
3. Truyện 26, tờ 16b2: "... Thủ thám
tầm chi, tức hoạch sắt hỷ, trung tâm sảng nhiên, cầu dĩ
an chi...".
4. Truyện 39, tờ 21b27: "... Trung
tâm hoan hỉ".
5. Truyện 41, tờ 22c12:"Vương bôn
nhập sơn, đồ kiến thần thọ".
6. Truyện 43 tờ 24b21:"... trung tâm
chúng uế..."
7. Truyện 44 tờ 25a26: "trung tâm
nục chiên, đê thủ bất vân"
8. Truyện 72, tờ 38b25: "... tuyệt
diệu chi tượng lai tại trung đình, thiếp kim cung sự".
9. Truyện 76, tờ 40a 8: "... cửu
tộc quyên chi, viễn trước ngoại dã"; cùng truyện, tờ 40b
5: "Vị chúng huấn đạo trung tâm hoan hỉ".
10. Truyện 83, tờ 44c1: "... dĩ kỳ
cốt nhục vi bệ thăng thiên"; cùng truyện tờ 45a 19: "Ngô
đương dĩ kỳ huyết, vi bệ thăng thiên".
11. Truyện 85, tờ 47b26: "... trung
tâm gia yên"; cùng truyện tờ 47c16: "... trung tâm đài yên".
Như thế, qua 11 truyện với 15 trường
hợp ngữ pháp tiếng Trung Quốc thời Khương Tăng Hội đã
không được chấp hành; ngược lại, chúng được viết theo
ngữ pháp tiếng Việt, như ta biết hiện nay. Trong số 15 trường
hợp này thì có đến 11 trường hợp liên quan đến chữ "trung
tâm". Muốn nói "trong lòng" mà nói "trung tâm" theo ngữ pháp
tiếng Trung Quốc là không thể chấp nhận. Chữ "trung tâm"
với nghĩa chỉ nơi chốn, "trong", đến thời Vương Dật (khoảng
89-158) chú thích Sở từ và Trịnh Huyền (127-200) chú thích
kinh Thi đã được qui định hẳn là luôn luôn đứng sau danh
từ hay đại danh từ nó chỉ nơi chốn. Qua những phân tích
chi tiết_1, cụm từ "trung tâm" từ thế kỷ VI tdl cho đến
thế kỷ I sdl về sau cho đến thời Khương Tăng Hội, việc
sử dụng nó cực kỳ hiếm hoi, thực tế chỉ có ba lần.
Thế mà trong giai đoạn đó, một tập sách ngắn như Lục
độ tập kinh lại có đến 8 trong số 15 trường hợp ngôn
ngữ bất bình thường lại sử dụng từ "trung tâm". Do vậy,
những trường hợp "trung tâm" vừa dẫn phải được viết
theo ngữ pháp tiếng Việt. Những trường hợp "Thần thọ"
để diễn tả ý niệm "thần cây" và "bệ thăng thiên" để
diễn tả "bệ thăng thiên" cũng thế. Từ đó, đưa đến một
kết luận rằng là có khả năng Khương Tăng Hội đã sử
dụng một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt để
dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc mà ta hiện
đang dùng làm nguyên bản tiếng Việt như vậy mới giải thích
nổi tại sao ngữ pháp tiếng Việt đã ảnh hưởng một cách
có hệ thống và toàn diện đối với dịch bản Lục độ
tập kinh tiếng Trung Quốc hiện có.
Quan
niệm về chữ hiếu của dân tộc Việt Nam [^]
Về tư tưởng hiếu đạo, tối
thiểu cứ vào cuộc tranh luận do Mâu Tử lý hoặc luận ghi
lại xung quanh truyện Thái tử Tu Đại Noa và căn cứ vào chính
truyện Tu Đại Noa, trong Lục độ tập kinh 2, ĐTK 152 tờ 8b7,
ta biết có sự khác biệt cơ bản giữ tư tưởng hiếu đạo
của người Việt Nam và hiếu đạo của người Trung Quốc.
Hiếu đạo của người Trung Quốc theo câu mở đầu của Hiếu
kinh là: "Thân thể tóc da, nhận từ cha mẹ, không dám tổn
thương đó là khởi đầu cuả hiếu. Lập thân hành đạo,
dương danh với hậu thế, đó là kết cục của hiếu". (Thân
thể phát phu, thọ chi phu mẫu, bất cảm tổn thương, hiếu
chi thủy. Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, hiếu
chi chung).
Người vấn nạn nơi điều 9 trong
Mâu Tử lý hoặc luận cũng dựa vào lý lẽ trên bài bác Mâu
Tử, thì Mâu Tử chỉ ngay: "Thái Bá cắt tóc, vẽ mình, tự
theo tục của Ngô việt, trái với nghĩa thân thể tóc da; vậy
mà
Khổng Tử ca tụng, cho có thể gọi là chí đức [...] Dự
Nhượng nuốt than, sơn mình. Nhiếp Chính lột mặt, tự vẫn.
Bá Cơ dẫm lửa, hạnh cao cắt mặt. Quân tử cho là dũng và
chết vì nghĩa. không nghe ai chê là tự hủy hết".
Lại nữa, một quan niệm đạo hiếu
như trong Hiếu kinh như thế không thể nào phù hợp với ngay
chính tập tục sống rất phổ biến cuả người Việt Nam
vào thời Hùng Vương mà Tiền Hán thư 28 hạ tờ 31a5-12 đã
ghi lại: "Đất Việt (...) nay là Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp
Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, đều là phần
của Việt... xâm mình cắt tóc để tránh hại của giao long"
Nhan Sư Cổ (581-645) dẫn Ứng Thiệu
(khoảng 130-190) giải thích tục xâm mình cắt tóc của người
Việt, nói: "Thường ở trong nước, nên cắt tóc xâm mình,
cho giống với con rồng, để không bị thương hại".
Tục cắt tóc xâm mình của người
Việt như vậy xuất hiện rất sớm, từ thế kỷ trước Dương
lịch người Trung Quốc đã biết đến và ghi lại, để cho
sau này Ban Cố (32-92 sdl) chép vào Tiền Hán thư. Một khi tục
cắt tóc xâm mình đã phổ biến như thế, thì ngay câu đầu
của thuyết hiếu đạo Trung Quốc nghe đã không lọt tai đối
với người Việt. Người Việt làm sao giữ hiếu đạo được
theo Hiếu kinh nếu họ đã cắt tóc xâm mình? Từ thực tế
đó, bắt buộc người Việt phải có một đạo hiếu khác
với đạo hiếu của người Trung Quốc. Và đạo hiếu này
được công bố rõ ràng trong kinh Tu Đại Noa của Lục độ
tập kinh 2. ĐTK 152 tờ 8b7; "Giúp nghèo cứu thiếu, thương
nuôi quần sinh, là đứng đầu của hạnh? (Chẩn cùng tế
phạp, từ dục quần sinh, vi hạnh chi nguyên thủ).
Khi xác định đứng đầu mọi hạnh
(hạnh chi nguyên thủ) là việc "giúp nghèo cứu thiếu thương
nuôi quần sanh", thì đây là một định nghĩa hoàn toàn mới
về chữ hiếu, bởi vì theo Đỗ Khâm trong Tiền Han thư 60
tờ 9a12 thì "hiếu đứng đầu mọi hạnh của con người"
(hiếu, nhân hạnh chi sở tiên), và đây cũng là ý chính của
Hiếu kinh, mà Tiền Hán thư 71 tờ 9a9-10 đã dẫn: "Hiếu kinh
nói:"Tính của trời đất, con ngưòi là quí. Hạnh con người
không gì lớn hơn hiếu".
Nội dung đạo hiếu của người
Việt Nam thời tiền Phật giáo như hoàn toàn khác hẳn đạo
hiếu của người Trung Quốc. Cần nhớ là chữ hiếu trong
tiếng Phạn không có một từ tương đương với chữ hiếu
cuả tiếng Hán. Từ một nội dung chữ hiếu như thế, ta mới
thấy Lục độ tập kinh 5 ĐTK 152 tờ 28a22-24, truyện 49, đã
lên tiếng phê phán đạo hiếu của người Trung Quốc: "Tôi
ở đời lâu năm, tuy thấy Nho sĩ tích đức làm lành, há có
ai như đệ tử Phật quên mình cứu người, âm thầm mà không
nêu danh ư?" (Xử thế hữu niên, tuy độ Nho sĩ tích đức
vi thiện, khởi hữu nhược Phật đệ tử, thứ kỷ tế chúng
ẩn xứ nhi bất dương danh dã hồ?).
Hai thành tố chính của đạo hiếu
Trung Quốc là "thân thể tóc da không dám tổn thương" và "lập
thân hành đạo, nêu tên với hậu thế" từ đó đã bị khái
niệm đạo hiếu của người Việt Nam phản bác. Và không
chỉ hai thành tố này cuả Hiếu kinh bị phê phán, một quan
niệm khác do Mạnh Tử nêu lên, đó là "bất hiếu có ba, không
người nối dõi là lớn nhất" (bất hiếu hữu tam vô hậu
vi đại) cũng bị Lục độ tập kinh ở truyện 86, tờ 48a7-10,
mạnh mẽ phê phán: "Người đạo cao thì đức rộng. Ta muốn
cái đạo vô dục, đạo đó mới quí. Đem đạo truyền cho
thần, đem đức trao cho thánh, thần thanh truyền nhau cái sự
giáo hóa vĩ đại không hư nát, đó mới gọi là sự nối
dõi tốt lành. Nay người muốn lấp nguồn đạo, chặt gốc
đức, thì không đáng gọi là kẻ vô hậu ư?" (Đạo cao giả
quyết đức thâm, ngô dục vô dục chi đạo, quyết dục trân
hỉ. Dĩ đạo truyền thần, dĩ đức thọ thánh, thần thánh
tương truyền ảnh hóa bất hủ, khả vị lương tự giả hồ!
Nhữ dục điền đạo chi nguyên phạt đức chi căn, khả vị
vô hậu giả hồ!).
Vấn đề vô hậu của đạo hiếu
từ bình diện sinh lý đã chuyển sang bình diện đạo đức
và học thuật, không nhất thiết phải có sự thừa tự về
mặt sinh vật học mới gọi là hiếu, đạo hiếu theo quan
niệm của Mạnh Tử, mà còn có một lối thừa tự khác, sự
nối dõi khác, nối dõi về chân lý, nối dõi về học thuật,
nối dõi về đạo đức. Quan niệm nối dõi này cuả ngưòi
Việt thời kỳ tiền Phật Giáo hoàn toàn phù hợp với quan
niệm thừa tự Pháp của Phật giáo.
Nhưng không chỉ có thế, quan niệm
nối dõi này mang hai đặc tính cần lưu ý trong cuộc đấu
tranh để giữ gìn nòi giống của người Việt. Thứ nhất,
để bảo vệ sự tồn tại như một dân tộc, người Việt
phải xác định mình có một nền văn hóa, một nền đạo
đức học thuật cần phải nối dõi, cần phải bảo vệ mà
nếu không nối dõi được thì dân tộc không thể tồn tại
với tư cách là một dân tộc được. Xuất phát từ quan điểm
nối dõi như thế, người Việt không đi đến một chủ nghĩa
nối dõi cực đoan, như sự nối dõi về mặt sinh vật học
của chủ nghĩa ưu sinh (eugenics) hiện đại, gây tác hại và
tốn bao sinh mạng đối với những dân tộc khác. Bảo vệ
nền văn hóa của mình, bảo vệ lối sống (hạnh) của mình,
người Việt sẵn sàng mở rộng đôi tay đón nhận những
người từ dân tộc khác đến sống chung trở thành một bộ
phận của dân tộc mình.
Đây là đặc điểm thứ hai của
quan niệm thừa tự của người Việt tiền Phật giáo. Họ
có quan niệm như thế cũng phải thôi, bởi vì địa bàn sinh
tồn của họ, cụ thể là vùng trung du và đồng bằng Bắc
bộ vào thời xa xưa đã tồn tại những dân tộc khác. Cho
nên, những giao lưu về huyết thống giữa các dân tộc khác
nhau tất phải xảy ra. Do đó, nếu chỉ dựa vào sự nối
dõi theo quan điểm sinh vật học, thì người Việt đã không
phát triển và hình thành được một cộng đồng dân tộc
thuần nhất. Họ phải dựa vào một quan điểm khác để có
sự thuần nhất ấy, đó là, sự thuần nhất về mặt văn
hóa và lối sống.
Trong bối cảnh của một nền chính
trị, kinh tế và văn hóa như thế, đã nổi bật lên một
số tư tưởng, tín ngưỡng của người Việt đời Hùng Vương
mà ngày nay ta còn tìm thấy trong các thư tịch cổ và được
chứng thực một phần nào bởi các di liệu khảo cổ học.
Quan
niệm chữ Nhân [^]
Về quan niệm "trị dân, giúp nước"
thì từ thời Hùng Vương xa xưa, ta đã thấy xuất hiện một
lý thuyết nhân nghĩa hoàn toàn khác với quan điểm nhân nghĩa
của người Trung Quốc, và được tìm thấy trong Lục độ
tập kinh. Tư tưởng nhân nghĩa này đề cập đến lòng thương,
nhưng lòng thương này, "không chỉ giới hạn trong việc thương
người mà còn bao trùm hết cả sinh vật cho chí đến cả
cỏ cây" (Hoài vô ngoại chi hoằng nhân, nhuận đãi thaỏ mộc).
Đây là một tư tưởng hết sức rộng lớn, không có trong
Nho giáo. Đối với Nho giáo, nhân nghĩa có một nội dung hết
sức hạn chế. Thiên Tận tâm chương cú thượng trong Mạnh
Tử nói rất rõ: "Lòng nhân của Nghiêu Thuấn không yêu khắp
mọi người, mà trước hết yêu bà con và người tài giỏi".Cho
nên, dù Mạnh Tử có thể dễ dàng đồng ý với tư tưởng
nhân nghĩa của Lục độ tập kinh, là: "[Vua] lấy nhân từ
trị nước, dung thứ dạy dân" [vương] trị dĩ nhân hóa dân,
dĩ thứ cư bỉ], quyển 4, tờ 22a 19; hay "lấy điều nhân để
trị nước" (trị quốc dĩ nhân); vì Mạnh Tử cũng chủ trương
"tam đại được thiên hạ là nhờo nhân, mất thiên hạ cũng
vì bất nhân", nhưng ta thấy quan điểm nhân nghĩa của hai
bên cách xa nhau một trời một vực. Và sự khác biệt này
vẫn tồn tại qua hàng ngàn năm, mà ta có thể phát hiện không
mấy khó khăn trong trường hợp Nguyễn Trãi, như chúng tôi
đã có dịp chứng tỏ_1, dẫu từ nhân nghĩa vẫn được sử
dụng.
Cần nhớ là giống như trường
hợp chữ hiếu, chữ nhân nghĩa không có từ tương đương
trong tiếng Phạn. Do thế, tư tưởng nhân nghĩa phát biểu
trong Lục độ tập kinh phản ảnh khá trung thực tư tưởng
nhân nghĩa của dân tộc ta thời tiền Phật giáo, tức tư
tưởng thời Hùng Vương, lúc Phật giáo từ Ấn Độ bắt
đầu truyền bá khắp nơi. Từ một định nghĩa đơn giản
như: "phù hiếu sát giả bất nhân" (thích giết là không có
lòng nhân), theo Lục độ tập kinh quyển 4, tờ 19a, cho đến
một khẳng định cương quyết như: "Ngô ninh tổn xu mệnh
bất khứ nhân đạo dã" (ta thà chịu tổn mạng chứ không
bỏ đạo nhân) ở tờ 18c17-18; hoặc "bất nhân nghịch đạo
ninh tử bất vi dã" (bất nhân trái đạo thà chết chứ không
làm), quyển 2 tờ 6b22, đưa đến quan niệm Bồ tát vì lòng
nhân, nhẫn cho đến loài sâu bọ cũng không giết được ghi
trong truyện 32, tờ 19ả: "Quán Bồ Tát chi thanh nhân, quyên
phi kỳ hành nhu động chi loại, ái nhi bất sát" (thấy sự
nhân từ trong sạch của Bồ Tát, các loài bò bay máy cựa
uốn trườn, đều thương không giết)
Truyện 48, tờ 27c13 cũng nói về
chữ nhân theo phản cách: "Tham dục là người điên, nào có
lòng nghĩa nhân" (tham dục vi cuồng phu, phi hữu nhân nghĩa
tâm".
Chữ Nhân như thế được đề cao
qua nhiều cụm từ khác nhau, thể hiện không những giáo lý
tình thương của Phật giáo, mà còn truyền thống nhân đạo
thời Hùng Vương cuả dân tộc Việt Nam. Cụ thể là từ "Nhân
ái" trong truyện 68, tờ 36c20; từ "nhân nghĩa" trong truyện
48 tờ 27c13: từ "nhân từ" trong truyện 91 tờ 52a 16; từ "Nhân
đạo" trong truyện 31, tờ 18c17-18 v.v...
Tín
ngưỡng [^]
Tin quỷ là một nét đặc trưng
của tín ngưỡng ngưòi Việt. Từ đó, tối thiểu cho đến
năm 110 tdl mới bắt đầu truyền qua Trung Quốc do Dũng Chi
thực hiện. Theo Tự Thiếu Tôn, sống khoảng 43-06tdl, làm quan
dưới thời Hán Nguyên đế (43-32tdl), viết phần Vũ Đế bản
kỷ trong Sử Ký 12 tờ 16b8-17a1, và mục Giao tự chí của Tiền
Hán thư 25 hạ tờ 1a5-10, kể là sau khi nghe người Việt tên
Dũng Chi nói về sự hiệu nghiệm của việc thờ quỷ: "Ngưòi
Việt tục tin quỷ, kẻ thờ đều thấy quỷ, nhiều lần có
hiệu nghiệm. Xưa vua Đông Âu kính quỷ, thọ đến 160 tuổi.
Đời sau khinh lười nên suy vi".
Hán Vũ đế bèn "khiến thầy bói
Việt lập đền thờ (quỷ) Việt, dựng đài mà không đàn,
cũng thờ trời, thần, thượng đế và trăm quỷ, nhưng dùng
gà để bói. Vua tin. Thờ quỷ Việt và bói gà bắt đầu dùng
(từ đó)".
Thế rõ ràng tục thờ quỷ theo
lối người Việt, từ sau khi Nam Việt diệt vong năm 110 tdl,
mới bắt đầu phổ biến ở Trung Quốc với sự ủng hộ
tín thành của người lãnh đạo cao nhất nước Hán là Hán
Vũ đế và do người Việt là Dũng Chi truyền vào. Trước
thời Hán Vũ đế, còn có tục lên nóc nhà gọi hồn người
chết, được ghi trong Lễ ký. Về việc thờ quỷ và gọi
hồn người chết này, về sau đã được Mâu Tử đề cập
tới, khi có người vấn nạn vì sao ông không tin vào thuyết
"người chết sẽ sống lại". Điều thứ 12 của Lý hoặc
luận đặt vấn đề:
"Đạo Phật nói người ta chết
thì phải sinh lại. Tôi không tin điều ấy đúng thế" Mâu
Tử trả lời: "Người đến lúc chết, nguời nhà trèo lên
nóc nhà mà gọi. Chết rồi thì còn gọi ai? Bảo là gọi hồn
phách nó. Mâu Tử nói: "Thần hồn trở lại thì sống, không
trở lại thì thần hồn đi đâu?. Trả lời: Thành quỷ thần"_1.
Tục người Việt tin quỷ như vậy,
thực tế là tin người chết không phải chết là hết, mà
những người chết đã thành quỷ thần, và đáng được thờ
phụng. Đấy có thể nói là những thông tin bằng tư liệu
thành văn đầu tiên nói về tục thờ cúng tổ tiên của dân
tộc Việt.
Những thông tin này ngày nay có thể
được chứng thực bởii các di liệu khảo cổ học tìm thấy
ở các ngôi mộ ở Lũng Hòa (Phú Thọ)_2, Thiệu Dương (Thanh
Hóa)_3, Việt Khê (Hải Phòng)_4 và Lạch Trường (Thanh Hóa)_5,
mà về mặt thời gian trải dài từ thiên niên kỷ thứ II
tdl đến tihên niên kỷ thứ I tdl. Đó là các vật tùy táng
từ thô sơ dân dã như rìu, đục, nồi, bát, hạt chuỗi, hoa
tai, suốt xe chỉ v.v.. của Lũng Hòa cho đến hiếm quý sang
trọng như trống đồng, đèn đồng, Đồ Sơn then, đỉnh,
bình, ấm v.v... và thậm chí cả vũ khí nữa như dao, dao găm,
giáo, mũi tên v.v...Tất cả đồ tùy táng này có ý nghĩa gì,
nếu không phải để cho các người đã chết có dịp dùng
chúng, để phục vụ họ bên kia thế giới. Nói khác đi, đã
từ lâu tổ tiên người Việt quan niệm chết không phải là
hết. Cho nên, khi một thành viên của gia đình và cộng đồng
vĩnh viễn ra đi, người ta cần đưa tiễn họ với một số
vật dụng thân thiết, để họ có cơ hội dùng tới. Tục
tin quỷ của người Việt như thế đã tồn tại lâu đời,
trước khi Phật giáo truyền vào và Tự Thiếu Tôn ghi lại.
Việc kết hợp thờ người chết
và bói gà này cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại trong tập
tục tang ma của người Việt Nam. Chẳng hạn khi cúng ngưòi
chết thì dùng ba trứng gà; khi mở cửa mả thì dùng con gà
kéo lôi ba vòng rồi thả đi, tin rằng hồn người chết sẽ
theo con gà đó mà ra khỏi mả. Ngay cả việc cúng ông bà vào
ba mươi tết hay tảo mộ cũng phải có cúng một con gà v.v...
Tục bói gà này, khi Trương Thủ
Tiết viết Sử ký chính nghĩa 12 tờ 16b12-13 ghi nhận là vào
năm 736 còn lưu hành ở Việt Nam: "Phép bói gà, dùng gà một
con, chó một con, đang sống thì chú nguyện, xong liền giết.
Gà chó đem nấu chín, lại đem cúng. Riêng lấy gà, trên xương
hai mắt nó từ có lỗ nứt giống hình vật người là tốt.
Nếu không đủ là xấu. Nay Lĩnh Nam còn làm phép đó".
Đến thời Thiền sư Chân Nguyên
(1647-1726) viết Thiên Nam ngữ tục lục vào năm 1685, thì thay
vì bói gà bằng lỗ nứt tại con mắt, đã ghi nhận phép bói
gà bằng chân trong liên quan tới việc Lý Phục Man chống lại
Trần Bá Tiên khi vua Lý Nam đế (ở ngôi 544-547) thất trận:
-
"Chiêm Thành tuy nhỏ ở xa
-
Sự Trung Quốc loạn nó hòa đã
hay
-
Bằng con nó động đến nay
-
Nó xưa trong náu, nó rày ngoài xung
-
Cái ngài cái ắt khôn mong
-
Phục Man dầu có anh hùng mà chi"_1
Trong đó các từ con, cái, trong, ngoài,
náu, xung, động, ngùi là những từ chuyên môn trong khoa bói
chân gà tại Việt Nam nếu không phải là thời Lý Phục Man
tức khoảng năm 548, thì cũng là của thời Thiền sư Chân
Nguyên ở thế kỷ XVII. Điểm cần lưu ý ở đây là việc
thờ quỷ, cúng bói gà, là nhằm phục vụ cho việc được
sống lâu,cho việc thấy được quỷ, cho việc tiên đoán một
số sự kiện trong tương lai v.v... Nói cách khác, đây là một
tín ngưỡng có tính cách quyền năng để phục vụ cho những
yêu cầu tìm đến quyền năng cuả dân Việt từ thời cổ
xưa.
Trên bối cảnh của một nền tín
ngưỡng và tư tưởng học thuật như vậy, Phật giáo đã
truyền vào nước ta. Thế thì, Phật giáo truyền vào Việt
Nam với một hệ thống giáo lý nào? Việc nhà sư Phật Quang
trao cho Chữ Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón lá
thần, mà không có một lời giảng thuyết giáo lý nào, càng
làm cho vấn đề rắc rối thêm. Ta chỉ biết sau đó Chữ
Đồng Tử cùng Tiên Dung dựng gậy và nón lên thành phố xá
lâu đài. Và điều này cũng báo cho ta biết ít nhiều về
tính chất của nền Phật giáo Chữ Đồng Tử, Tiên Dung đó
là tính chất quyền năng. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn nội
dung giáo lý của nền Phật giáo thời Hùng Vương, ta phải
trở lại phân tích thêm Lục độ tập kinh, mà bản dịch
ra tiếng Trung Quốc do Khương Tăng Hội dịch từ tiếng Việt
hiện còn được bảo lưu trong Đại Tạng.
Lịch
Pháp Việt Nam [^]
Lục độ tập kinh ngày nay có cả
thảy 91 truyện. Trong số các truyện này có một số truyện
ta có thể truy về thời các vua Hùng còn nắm giữ quyền hành,
nghĩa là trước biến cố năm 43sdl, khi cuộc kháng chiến vệ
quốc do Hai Bà Trưng lãnh đạo thất bại. Cơ sở cho một
việc truy tìm như vậy dựa trên một hiện tượng khá đặc
thù của những truyện này. Đó là hiện tượng sử dụng
lịch pháp. Trong Lục độ tập kinh có 10 truyện đề cập
đến đơn vị thời gian, tức các truyện:
Truyện 9, ĐTK152, tờ 4b19, cl và
c9:"Một thời 90 ngày" (nhất thời cửu thập nhật), "hai thời
180 ngày" (nhị thời bánh bát thập nhật), "thỉnh ở lại
ba thời" (thỉnh lưu tam thời).
Truyện 14, tờ 9a13 "Hai mươi mốt
ngày thì đến núi Đàn Đặc" (Tam thất nhị thập nhật nãi
chí Đàn Đặc sơn)
Truyện 24, tờ 14c23: "Bố tát thấy
Phật, vui vẻ qui y, thỉnh Phật và Tăng ở lại nhà mình bảy
ngày cúng dường trọn lễ" (Bồ tát đồ Phật, hân nhiên
tự quy, thỉnh Phật cập Tăng thất nhật lưu gia, dĩ lễ cúng
dường); cùng truyện tờ 15a2: "Bảy ngày như thế, đều không
lười mõi" (thất nhật nhược tư đô vô giải)
Truyện 25 tờ 15c27: "Ở thai mười
tháng" (Xử thai thập nguyệt).
Truyện 61, 34a2: "Mười ngày sau"
(thập nhật chi hậu)
Truyện 76 tờ 40b12: "Bé trong bụng
mẹ... ba tam tuần ngày, thân thể thành hình" (Nhi tại mẫu
phục.. tam thập bát thất nhật, thân thể giai thành)
Truyện 79, tờ 42b9-12: "... rồng
vui vẻ làm mưa gió bảy ngày bảy đêm. Đức Phật ngồi ngay
không động không lay, không thở, không hít. Bảy ngày không
ăn thì được thành Phật. Lòng vui, không còn tưởng. Rồng
rất vui mừng, cùng bảy ngày không ăn, mà không có niệm đói
khát. Hết bảy ngày, mưa gió tạnh" (... Long hỉ, tác phong
vũ thất nhật thất dạ. Phận đoạn tọa, bất dộng bất
dao bất suyễn bất tức. Thất nhật bất thực, đắc Phật.
Tâm hỉ, đô vô hữu tưởng. Long đại hoan hỉ, diệc thất
nhật bất thực, vô cơ khát niệm. Thất nhật tốt, phong vũ
chỉ)
Truyện 83, tờ 44c17: "Vua vui vẻ
bày tiệc, rượu nhạc bảy ngày" (Vương hỉ, thiết tửu vi
nhạc thất nhật); cùng truyện tờ 45a8: "Bẻ trúc để ghi
thì đi đường bảy ngày mới về tới vương quốc" (dĩ trúc
vi soán hành đạo thất nhật, nãi chí vương quốc); tờ 46a14-16:
"Vua nói: Hãy ở lại bảy ngày nữa [...] sau bảy ngày có đại
thần vương đến chỗ vua trời chúc mừng" (Vương viết "Thả
lưu thất nhật [...], thất nhật chi hậu, hữu đại thần
vương chỉ thiên vương sở hạ viết...); tờ 45c1 "Bố thí
bảy ngày; không ai thiếu thốn mà không được đầy đủ"
(bố thí thi thất nhật, vô phàm bất túc).
Truyện 88, tờ 50b13-23: "Trong một
trăm năm, phàm có ba trăm mùa xuân, hạ đồng. Mỗi mùa có
một trăm. Lại trong 1200 tháng, các tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông,
mỗi thứ bốn trăm thánh. Trong ba vạn áu ngàn ngày, xân một
vạn hai ngàn ngày. Hạ nóng, đông lạnh, mô4i thứ một vạn
hai ngàn ngay. Trong một trăm năm, một ngày hai bữa... Trong
100 năm, đêm ngủ trừ năm mươi năm... Con người thọ 100
tuổi chỉ vui có mười năm" (Bách tuế chi trung phàm cánh tam
bách thời, xuân hạ đông nguyệt các cánh kỳ bách dã. Cánh
thiên nhị bách nguyệt xuân hạ đông tiết các cánh tứ bách
nguyệt. Cánh tam vạn lục thiên nhật, xuân cánh vạn nhị
thiên nhật, hạ thử đông hàn, các vạn nhị thiên nhật.
Bách tuế chi trung, nhất nhật tái phạn... Bách tuế chi trung,
dạ ngọa trừ ngũ thập tuế... Nhân thọ bách tuế, tài đắc
thập tuế nhĩ).
Ta thấy truyện 98 này ghi nhận một
năm có 360 ngày, chia thành ba mùa [thời], mỗi mùa có 120 ngày,
ậy mỗi mùa có 3 tháng: "Trong một trăm năm phàm lại có 300
mùa, xuân hạ đông mỗi mùa có 100, tức 1200 tháng, xuân hạ
đông tiết, mỗi tiết có 400 tháng, tức 36.000 ngày, mùa xuân
lại có 12.000 ngày, mùa hạ nóng, mùa đông lạnh, mỗi mùa
12.000 ngày". Rõ ràng, một ghi nhận như thế bộc lộ quan điểm
lịch pháp của Phật Giáo Ấn Độ, mà ta ngày nay còn tìm
thấy trong Xá đầu luyện thái tử nhị thập bát tú kinh,
ĐTK1501 tờ 419c1-2 & b4-6 và Phạn bản Sàradùlakarnàvadàna
của nó hiện còn bảo lưu: "Ba mươi ngày là một tháng, kể
12 tháng là một năm", và một năm chỉ có ba mùa là dông,
xuân và hạ. Điểm lôi cuốn là Xá đâu luyện thái tử nhị
thập bát tú kinh do Trúc Pháp Hộ dịch vào khoảng những năm
265-313, thì trước đó hơn nửa thế kỷ", Trúc Luật Viêm
và Chi Khiêm lại thực hiện một bản dịch sớm hơn dưới
tên Ma đăng già kinh gồm hai quyển thượng hạ. Ngoài chuyện
ghi nhận ở quyển hạ ĐTK1500 tờ 409a13-4 là "ba mươi ngày
đêm gọi là một tháng, 12 tháng này gọi là một năm"; còn
nói ở tờ sau [410a18-9]: "Hễ năm thì có 365 ngày... tháng có
30 ngày". Dầu sao đi nữa, việc chia một năm có 360 ngày thành
12 tháng và ba mùa của Lục độ tập kinh có vẻ là một phản
ảnh khá trung thành quan điểm lịch pháp của Phật giáo vào
những thế kỷ trước và sau dl.
Tuy nhiên, nếu tìm hiểu tiếp, ta
thấy truyện 9 của Lục độ tập kinh 1 ĐTK152 tờ 4b19 và
4c1& c9 lại nói đế "một mùa 90 ngày" (nhất thời cửu
thập nhật) và "hai mùa 180 ngày" (nhị thờ bách bát thập
nhật). Thế cũng có nghĩa một năm có tới bốn mùa, chứ
không phải ba mùa. Lịch pháp Ấn Độ thời tiền Phật giáo
của giai đoạn Vệ đà tiền kỳ, tức khoảng những năm 1500-100tdl,
thường chia 12 tháng cuả một năm thành 6 mùa là lạnh ['sarad]
và rét [vasanta], hạ [grìsma], mưa [varsa], thu ['sarad] và rét
[hemanta], như Rigveda x.90; 6; i.131, 4 v.v... đã ghi. Đến giai
đoạn Vệ đà hậu kỳ [1000-300tdl], sáu mùa vừa kể trên
rút gọn lại còn ba mùa là đông, hạ và mưa, và xếp đặt
các tháng còn lại cho phù hợp, mà ta có thể thấy trong Taittiriya
samhità. Việc rút gọn lại còn ba mùa này sau đó đã được
nền lịch pháp Phật giáo chấp nhận, như đã nói trên. Vậy,
rõ ràng sự kiện truyện 9 nói tới bốn mùa dứt khoát không
liên hệ với lịch pháp Ấn Độ và Phật giáo. Thế phải
chăng nó chịu ảnh hưởng của lịch pháp Trung Quốc?.
Đúng là lịch pháp Trung Quốc từ
thời Ngũ đế [2550-2140tdl] đã đề cập tới bốn mùa xuân
hạ thu đông, như Nghiêu điển trong Thượng thư chú sở 2
tờ 5b10-6b3 dã viết [vua Nghiêu] bèn sai hai họ Hy, Hòa xét
chuyển vận của trời, trăng và sao, để thế mệnh trời,
mà báo cho dân biết thời tiết [...] Khi ngày dài nhất, sao
là Hỏa, thì là giữa hạ [...]. Khi đêm dài nhất, sao là Hư,
thì là giữa thu [...] Khi ngày ngắn nhất, sao là Mão, thì là
giữa đông [...]. Tuy vậy, nó cũng viết tiếp: "Vua nói: Này
các ngươi Hy, Hòa năm quay lại sau ba trăm với 6 tuần và 6
ngày, lấy tháng nhuận đặt đúng bốn mùa, để nên năm".
Viết như thế, không những lịch
pháp Trung Quốc từ xa xưa đã xác định mỗi năm có 365 ngày,
mà còn dùng chế độ 10 ngày là một tuần. Chế độ 10 ngày
một tuần này được sử dụng rất là phổ biến. Đọc Tả
truyện chú sở 43 tờ 2b11 và 44 tờ 2b5 các năm Lỗ Chiêu Công
thứ 5 và 7, ta thấy nói "số của ngày là mười" (nhật chi
số thập), "trời có mười ngày" (thiên hữu thập nhật).
Thiên Chu quan của Lễ Ký cũng ghi nhận : "Họ Phùng tướng
giữ các việc 12 năm, 12 tháng, 12 giờ, 10 ngày (thập nhật),
28 ngôi sao". Đặc biệt, hệ thống 10 ngày đây không chỉ
tồn tại trên sách vở hiện lưu truyền, mà còn thấy trên
các văn tự giáp cốt mới khai quật, như Quách Mạt Nhược_1
đã chứng tỏ. Nói cách khác đi, lịch pháp Trung Quốc chỉ
dùng hệ thống 10 ngày, để chia ngày của tháng, mà thời
Nghiêu Thuấn đã gọi là tuần. Hệ thống này Lục độ tập
kinh 6 ĐTK 152 tờ 34a2 trong truyện 61 chỉ sử dụng một lần,
và chỉ dùng chữ 10 ngày trơn, tức "sau mười ngày", mà không
dùng đến chữ tuần. Ngược lại, hệ thống tuần ngày được
nói đến một cách rộng rãi. Cụ thể là các truyện 14 tờ
9a13, 24 tờ 14c23, 54 tờ 31b12, 79 tờ 42b9-12 và 83 tờ 44c17,
tờ 45a8 & c1 và tờ 46a15. Đặc biệt, truyện 76 tờ 40b12
để tính thời gian thai nhi ở trong bụng mẹ, đã dùng số
38 bảy ngày [tam thập bát thất nhật]. Điều này có nghĩa
dù truyện 9 có nói tới hệ thống bốn mùa, hệ thống ấy
không nhất thiết phải xuất phát từ lịch pháp Trung Quốc.
Kết luận đây hoàn toàn phù hợp
với một báo cáo của Lưu An [? - 122tdl] về quan hệ lịch
pháp giữa Trung Quốc và Việt Nam thời cổ đại còn ghi lại
trong Tiền Hán thư 64 thượng tờ 2a10-b1 nói rằng: "Việt là
đất phương ngoài, là dân cắt tóc xăm mình, không thể lấy
phép tắc của nước mủ đai mà xử lý nó. Từ thời Tam đại
hưng thịnh, Hồ và Việt không chịu nhận chính sóc, chẳng
mạnh không thể phục chúng, chẳng uy không thể ngăn chúng,
cho là đất không thể ở, là dân không thể chăn, không đáng
làm phiền Trung Quốc".
Bảo là "từ thời Tam đại, Hồ
và Việt không chịu nhận chính sóc", Lưu An muốn xác nhận
rằng từ những triều đại nhà Hạ (2140-1711tdl), nhà Thương
(Ân 1711-1066tdl) và nhà Chu (1066-256tdl), người Việt ta đã
không "chịu chính sóc", tức đã không dùng lịch pháp Trung
Quốc. Do thế, việc truyện 9 chia 360 ngày của một năm thành
4 mùa, mỗi mùa 90 ngày, phải nói là xuất phát từ lịch pháp
Việt Nam thời Hùng Vương hậu kỳ, nếu không phải là tiền
kỳ cùng lúc với thời Ngũ đế (2550-2140tdl) bên Trung Quốc.
Xác định này càng được củng
cố thêm, khi ta phân tích lịch pháp Ấn Độ, để xem thử
tình trạng sử rộng rãi hệ thống 7 ngày có xảy ra, như
đã xảy ra trong Lục độ tập kinh hay không. Đúng là người
Ấn Độ từ xa xưa rất thích con số 7, mà chứng cớ có thể
tìm thấy dễ dàng trong Rigveda i.62,7 [nói đến phần của thế
giới, 7 rặng núi, 7 tiên nhân], i.63,7 [7 suối, 7 đại cương,
7 thành phố], i.72,6 [7 ngọn lửa, 7 âm, 7 lễ, 7 bước lên
trời..] v.v... Tuy nhiên trong lịch pháp của họ không dùng
tới hệ thống tuần 7 ngày. Mahàbhàrata 1.1.35 sau khi kể về
sự hình thành thế giới và mọi vật sinh xuất, đã viết:
samvatsarartavo màsàh paksàhoràtrayah
kramàt / yac cànyad api tat sarvam sambhùtam lokasàk sikam / 35
năm, mùa, tháng, tuần, ngày, đêm
cũng lần lượt xuất sinh và đó là sự sinh của tất cả
mọi vật được biết trên thế gian này.
Chữ mà chúng tôi dịch là tuần, trong
tiếng Phạn là paksa. Và chữ paksa thực tế không có nghĩa
là tuần, như ta thường hiểu theo dạng 10 ngày cuả tuần
Trung Quốc hay dạng 7 ngày của tuần hiện nay. Ngược lại,
trong lịch pháp Ấn Độ nó dùng để chỉ đơn vị 15 ngày,
mà trong lịch pháp tiền kỳ gọi là nguyệt tiền [pùrva/apùryamàna-paksa]
và nguyệt hậu [apara/apa-ksìyamàna], rồi sau đó gọi là bạch
nguyệt ['sukla/'suddha] và hắc nguyệt [krisna/tàmisra], như có
thể thấy trong Áo nghĩa thư Kausìtaki upanisad, các kinh Kausika,
Kàtyàyanasrauta, 'Sankhàya nasrauta, bộ luật Manu v.v... Đặc
biệt lối chia hắc nguyệt bạch nguyệt này được sử dụng
rất phổ biến trong lịch pháp Phật giáo, để qui định các
lễ tiết của mình, cụ thể là lễ bố tát [posadha] trong
Luật tạng và các lễ khác trong mật giáo. Văn-thù-sư-lợi
Bồ-tát cập chư tiên sở thuyết cát hung thời nhật thiên
ác tú diệu kinh, quyển thượng ĐTK 1299 tờ 393a 1-2, viết
rất rõ:
"Hễ tháng thì có hai phần hắc
và bạch. Từ ngày mồng một đến ngày 15 là bạch nguyệt.
Từ ngày 16 đến ngày 30 là hắc nguyệt".
Thế rõ ràng trong lịch pháp Ấn
Độ và Phật Giáo rất ít sử dụng hệ 7 ngày. Cần chú ý
ngay trong tạng kinh Nam truyền bằng tiếng Ba lỵ, thời gian
thai nhi nằm trong bụng mẹ cũng chỉ dùng hệ 9 hay 10 tháng
[M.i.4.u. Mahàtanhà sankhayasuttam: màtà nava và dasa và màse gab-
bham kucchinà pariharati...], chứ không dùng hệ 7 ngày. Còn tuần
của lịch pháp Trung Quốc thì dứt khoát có 10 ngày, như câu
trong Nghiêu điển dẫn trên cho thấy.
Nói tóm lại, theo chúng tôi, hệ
thống lịch chia năm ra làm 360 ngày, rồi phân bổ thành bốn
mùa, mỗi mùa gồm có 3 tháng, mỗi tháng có 30 ngay cùng với
việc dùng hệ 7 ngày làm tuần là một di sản của lịch pháp
thời Hùng Vương còn được bảo lưu trong Lục độ tập kinh
qua 10 truyện đã dẫn trên, trừ truyện 88 phản ảnh hệ thống
lịch pháp của Phật giáo Ấn Độ. Và để bảo lưu được
một hệ thống lịch sử như thế, các truyện ấy phải lưu
hành vào thời hệ thống lịch đó đang còn hiệu lực, tức
đang còn sử dụng chính thức và công khai. Đối cách nói,
chúng phải xuất hiện tại Việt Nam trước biến cố năm
43 sdl, khi nhà nước Hùng Vương bị quân đội nhà Hán dưới
sự chỉ huy của Mã Viện đánh bại. Nếu xuất hiện sau,
khi bộ máy cai trị đàn áp của Mã Viện đã thiết lập,
thì dứt khoát một bảo lưu như thế không thể nào xảy ra,
vì Viện đã cố tình thực hiện một chính sách huỷ diệt
tàn bạo chưa từng thấy trong lịch sử, như bắt đày những
người lãnh đạo chính trị và tinh thần [cừ soái], điều
tấu lại Việt Luật "hơn mười việc" và thu gom trống đồng,
ngoài việc giết sạch những người chống đối vũ trang và
xây dựng thêm đồn canh để bảo vệ cho bạo quyền do Viện
mới thiết lập.
Xác định được một phần nào
hệ thống lịch pháp thời Hùng Vương như vậy không những
giúp ta sửa sai một quan niệm lưu hành khá phổ biến trước
đây là "Nay không thấy dấu tích gì giúp ta biết cách xếp
đặt ngày tháng của dân Lạc Việt xưa", mà còn giúp khẳng
định lời đoán của Hoàng Xuân Hãn rằng "văn hóa Trống
đồng của nước Văn Lang chắc đã dùng năm 12 tháng, tháng
lần lượt 29-300 ngày cũng không hẳn là vô lý"_1. Nhưng quan
trọng hơn đối với chúng ta là việc xác định được hệ
thống lịch vừa nói đưa ta đến một nhận thức mới không
những về Phật giáo nước ta, mà còn về thời đại Hùng
Vương cùng những thành tựu nhiều mặ