Sự
nghiệp của Phật giáo
trong
thời nhà Lý
Ðời Lý có thể
gọi là thời kỳ thịnh nhất của Phật Giáo Việt Nam. Trong
hơn 200 năm, trải qua 8 đời vua, Phật Giáo đã giữ một địa
vị độc tôn, và trên công cuộc xây dựng một nền văn hóa
quốc gia, Phật Giáo đã góp một công trình vĩ đại.
Nếu không phải là viên đá duy
nhất để xây dựng một nền tảng văn hóa ban đầu thì ít
ra, Phật giáo đời Lý cũng phải là một viên đá to nhất.
Về phương diện tinh thần cũnh như về phương diện vật
chất, ảnh hưởng Phật giáo ăn sâu vào tất cả các ngành
hoạt động trong nước. Ngày nay, tinh thần đạo Phật đã
không tách rời khỏi tinh thần dân tộc, văn hóa Phật giáo
đã hầu như là một yếu tố căn bản trong nền văn hóa dân
tộc Việt Nam, là vì trong buổi đầu của sự tạo dựng văn
hóa, dân tộc Việt Nam đã đuợc nuôi sống bằng những món
ăn bổ dưỡng và cần thiết của Phật giáo.
Sự nghiệp
văn học
Ở đời Lý, các tăng sĩ học hiểu
rất rộng, nên tăng tăng gìa có rất nhiều ảnh hưởng đến
văn hóa đương thời. Nhờ sách Thiền Uyển Tập Anh và một
số bia tạo dựng từ đời Lý, những văn thơ đời ấy còn
để lại. Bao nhiêu sách vở và thi văn xuất hiện ở thời
ấy, phần nhiều là do các bậc tăng gìa. Các nho gia cũng được
thấm nhuần tư tưởng Phật giáo nên trên thi văn của họ
ảnh hưởng của Phật giáo cũng rất sâu đậm.
Mỗi ngôi chùa thời ấy là một
nơi diễn đàn, một chốn học đường mà số người theo
học không những là thường dân mà là cả những công hầu
khanh tướng. Mỗi chùa có thể gọi là một trường đại-học
dạy về tâm học, ở đó sự học hỏi nhất luận bình đẳng,
không phân biệt sang hèn, gìa trẻ. Học trò không quản công
lao gian khổ; các bậc danh thần như Thái úy Tô hiến Thành
và Thái bảo Ngô hòa Nghĩa cũng đã phải xin thụ giáo theo
lễ, học với thiền sư núi Cao Dã, trải qua mười năm mới
được gặp mặt thầy. Người nào được thầy truyền cho
tâm ấn mới là mãn nguyện.
Về văn chương trong lịch sử độc
lập của nước ta, câu chuyện bài thơ đầu tiên thuộc về
hai vị sư: pháp sư Ðỗ Thuận và pháp sư Khuông Việt. Ấy
là năm 9 8, văn hào Lý Giác phụng sự nhà Tống sang phong cho
Lê Hoàn làm Tỉnh hải tiêt độ sứ. Pháp sư Ðỗ Thuận phụng
mạng vua ra tiếp. Các sách Thiền Uyển Tập Anh và Ðại Việt
Sử Ký toàn thư chép rằng pháp sư giả làm người chèo thuyền
cho Lý Giác. Thấy hai con ngỗng bơi, Giác vốn thích làm thơ,
ngâm:
Nga nga lưỡng nga nga,
Ngưỡng diện hướng thiên nha.
(Song song một đôi ngỗng,
Ngưỡng cổ ngó ven trời)
Người chèo đò nghe, ứng khẩu đọc
tiếp:
Bạch mao phô lục thủy,
Hồng trạo bãi thanh nha.
(Lông trắng phô giòng biếc,
Sóng xanh chân hồng bơi).
Giác nghe lấy làm khâm phục. Ðến
khi gặp vua, Giác tỏ vẻ rất kính trọng. Khi Giác từ biệt
về nước, vua nhờ Khuông Việt pháp sư làm một bài hát theo
điệu "Tống vương lang qui" đưa tặng. Sách Thiền Uyển Tập
Anh còn chép bài ấy:
Tường quang phong hảo cẫm
phàm trương.
Thần tiên quy đế hương
Thiên lý vạn thiệp thương lương.
Cữu thiên quy lộ trường,
Nhân tình thảm thiết đối ly trường.
Phan luyến sứ tinh lang.
Nguyện tương thâm ý vị Nam cương
Phân minh báo ngã hoàng.
Dịch:
Trời quang, gió thuận, buồm
giương
Thần tiên phút đã giục đường
bồng lai.
Mênh mang muôn dặm biển khơi,
Lối về trông bóng chim trời xa
xa.
Bâng khuâng trước chén quan hà,
Nhớ ai lòng những thiết tha nỗi
lòng.
Xin ai vì cõi Nam Trung
Rõ ràng gửi lại mặt rồng trước
sau. (Ngô Tất Tố dịch)
Bài ca soạn xong, vua thiết tiệc chúc
sứ lên đường, cùng nhau nâng chén tiễn biệt. Trong lịch
sử ngoại giao của nước Việt, bài hát này là lời tửu
chúc từ thân thiện đầu tiên. Mà lời chúc từ này lại
là của một nhà sư!
Sang triều Lý, các nhà sư không
tiếp sứ nữa, vì các nho thần đã đủ để lo việc ngoại
giao. Nhưng các thiền sư vẫn luôn luôn là những người tài
giỏi và hay chữ nhất trong xã hội. Sách Thiền Uyển Tập
Anh chép chuyện các thiền sư, trong chuyện nào cũng có ghi
một vài bài thơ của thiền sư để lại. Nguồn thơ là nguồn
đạo lý sâu xa. Có những bài thơ bày tỏ lại sự hiểu đạo,
đọc lên có ý tứ thâm trầm. Có những bài thơ dễ hiểu
hơn đọc lên ta cảm thấy được sự thanh thoát của những
đời sống tĩnh mặc.
Về phía nho, các nhà thi văn chịu
ảnh hưởng nhiều của đạo Phật vì hàng ngày đều có giao
thiệp với chư Tăng. Thi văn của họ ngày nay mất mát gần
hết, ngoài một ít bài được giữ lại nhờ sách Thiền Uyển
Tập Anh.
Nói tóm lại, văn học đời Lý
cũng đã có thể gọi là thịnh và chịu ảnh hưởng của
đạo Phật rất nhiều. Nhờ đạo Phật với các bia ký, các
kinh sách và tác phẩm còn giữ lại một phần. Như thế, đối
với sự phát triển và bảo tồn văn học nước nhà, Phật
giáo đã có một sự nghiệp to tát vậy.
Sự nghiệp
mỹ thuật
Về các ngành mỹ thuật như kiến
trúc, hội họa, điêu khắc, đạo Phật đã là một động
lực thiết yếu cho sự phát triển mạnh mẽ. Thiền gia đời
Lý đã để lại bốn công trình mỹ thuật, gọi là An Nam
tứ đại khí:
1- Tháp Báo Thiên: Tháp
Báo Thiên là một bảo tháp gọi là Ðại Thắng Tư Thiên,
xây năm 1057 ở chùa Sùng Khánh, trong phạm vi chùa Báo thiên
(nay là khu đất mé đông Hồ hoàn Kiếm). Tháp này cao đến
10 trượng, có tất cả 12 từng, mỗi viên gạch đều có in
niên hiệu Long Thụy Thái Bình. Ðến đời Hồ, tháp này đổ
mất ngọn. Năm 1427, Lê Lợi làm một cái chòi cao bằng tháp
ấy để nhìn vào thành Ðông Ðô của giặc. Sau nhà Tây Sơn
dở gạch tháp ấy để xây dựng việc khác.
2- Pho tượng Quỳnh Lâm:
Ðây là một pho tượng bằng đồng ở chùa Quỳnh. Báo Ðuốc
Tuệ số 77 có bài "Luận về di tích chùa Quỳnh" của Ðồ
Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật, có đoạn: "Cứ trông cái lòng
bia cổ cao lớn ở ngoài vườn cửa chùa có chép kích thước
và bề cao cái điện che pho tượng ấy, thì chùa Quỳnh để
tiếng đến nay không phải là vô cớ. Cái bia đá cao đến
8, 9 thước, xung quanh chạm long ô rất khéo mà đứng giữa
trời chịu nắng mưa dầu dãi, nay nét chạm cũng bị tiêu
mòn khó nhận như nét chữ trong bia. Song so lời bia với lời
tục truyền phù hợp thì đứng ở bến đò Triều mé nam huyện
Ðông Triều cách chùa Quỳnh ước 10 dặm, mà còn trông thấy
cái nóc điện che sát đầu pho tượng ấy thì biết tượng
ấy to hơn tượng Chấn Vũ nhiều."
3- Ðỉnh Phổ Minh: Một
cái đỉnh vĩ đại ở Nam Ðịnh, và
4- Chuông Quy Ðiền: Một
đại hồng chung đúc năm 1080 ở chùa Diên Hựu , Bắc Ninh.
Năm 1426, bọn Vương Thông bị Lê Lợi đánh thua ở trận Tụy
Ðộng, hết quân khí, mới phá chuông Quy Ðiền va đỉnh Phổ
Minh để làm súng đạn.
Ở triều Lý, các chùa tháp được
xây dựng với một qui mô rộng lớn. Những danh lam còn lại
hiện giờ ở Bắc Việt phần nhiều đều do từ đời Lý
lập ra. Những thắng tích ở Hà Nội như quán Trấn Vũ (1102),
chùa Một Cột (1049), đền Hai Bà (1160), đền Voi Phục đều
được khởi tạo từ đời nhà Lý.
Các vua Lý còn tạo dựng nhiều
cung điện ở Thăng Long, những nơi đến chơi, những nơi làm
lễ, xem gặt, xem cày. Tuy những kiến trúc này không phải
của Phật giáo, nhưng đã chịu rất nhiều ảnh hưởng của
sự dựng chùa. Về kiến trúc, ta hãy xem đoạn này mà giáo
sư Hoàng Xuân Hãn đã trích dịch trong chiếc bia "Sở Trụ
Chiếu Trát Tăng Tu" của nhà Tống nói về sự tạo dựng chùa
Một Cột của vua Lý Nhân Tông:
"Ở vườn Tây Cấm, dựng chùa Diên
Hựu (chùa Một Cột). Theo dấu chế độ cũ, thêm mưu mới
của nhà vua, tạc hồ Linh Chiểu. Trên hồ dựng lên một cột
đá. Trên cột đá nở một bông hoa sen nghìn cánh. Trên hoa
lại gác một tòa điện. Trong điện, đặt tượng Phật vàng.
Chung quanh hồ có hành lang bao vây, tường vẽ. Ngoài hành lang
lại có hồ Khang Bích bọc bốn bề. Mỗi bề có cầu thông
ra ngoài sân. Trong sân, kề đầu cầu ở trước chùa, có dựng
hai tháp lợp ngói sứ".
Những cung điện chùa miếu cũ nay
không còn, song các di vật như một vài tòa tháp, một ít tấm
bia, bệ đá hay ít nhiều tảng đá chạm trổ còn lại, cho
ta thấy rằng, nghề kiến trúc và điêu khắc đời Lý rất
tinh vi và hùng vĩ, các đời triều đại sau không sánh kịp.
Sự nghiệp
chính trị
Trong giới tăng sĩ, có nhiều vị,
ngoài sự hiểu biết về đạo học, còn tinh thông được
nhiều môn khác. Các vị ấy bác lãm sách vở, hiểu tường
được đại thế thiên hạ. Các vì vua có tôn trọng tăng
đồ một phần vì mến đạo, nhưng một phần cũng vì lý
do chính trị. Nước ta vừa mới được thoát ra khỏi thời
kỳ đô hộ dài đằng đẵng mà được độc lập, các nhà
vua Ðinh Lê phần nhiều là những kẻ vũ biền. Những cực
hình như cột đồng đốt nóng, vạc dầu đun sôi, cũi ngâm
sông, chuồng hổ báo của các vua Ðinh Lê dùng để trừng
phạt kẻ có tội phản chiếu được một phần nào tính cách
dã man của một triều đại trong bước đầu xây dựng văn
hóa. Ðời Lý, chính trị đã nhờ học vấn và tài lực của
chư Tăng mà được cải thiện, văn minh hơn nhiều.
Pháp sư Ngô Chân Lưu người đầu
tiên được mời ra tham gia công việc triều chính giúp vua
Ðinh Tiên Hoàng và Lê Ðại Hành. Pháp sư được ban chức
Tăng Thống, hiệu là Khuông Việt Ðại Sư, có nghĩa là vị
đại sư khuông phò nước Việt. Sách Thiền Uyển Tập Anh
có chép, sau khi Lê Hoàng lên ngôi "phàm sự quân quốc, đều
giao cho sư hết".
Thiền sư Vạn Hạnh cũng đã có
ảnh hưởng rát lớn trong giai đoạn lập nghiệp đầu tiên
của nhà Lý. Từ đời Lê, thiền sư đã nổi tiếng là một
bậc quảng kiến. Khi đánh Tống và đánh Chiêm, vua Lê Ðại
Hành đã từng hỏi ý kiến Thiền sư. Chính thiền sư đã
biết trước rằng nhà Lê sắp mất, nhà Lý sẽ lên thay, và
đem việc ấy nói với Lý Công Uẩn.
Ông Nguyễn Ðổng Chí, trong sách
Việt Nam Cổ Văn Học Sử có trích dịch một đoạn về những
lời của VIên Thông thiền sư giải bày với vua Thần Tông
về lẽ hưng vong trị loạn: "Thiên hạ cũng như một đồ
vật, để nó vào nơi yên thì yên vào nơi nguy thì nguy, cốt
trông ở chỗ sở hành của nhà vua; nếu có cái đức hiếu
sinh thấm vào lòng dân thì dân yêu như cha mẹ ngóng như trời
trăng; ấy là đặt thiên hạ vào nơi yên đó... Lại trị
và loạn ở tại trăm quan, được người thì trị mà không
được người thì loạn. Tôi trải xem các bậc đế vương
đời trước , chưa có khi nào không dùng quân tử mà hưng,
không dùng bậc tiểu nhân mà vong, mà đến như thế chẳng
phải một mai một chiều đâu, tự nó dần dần lại vậy.
Trời đất không thể thay nóng đổi rét liền mà dần dần
ở mùa xuân, mùa thu. Bậc vua chúa không làm hưng hay vong liền
mà dần dần ở sự thiện hay ác. Bậc thánh vương xưa biết
như thế cho nên mới bắt chước đức đất không nghỉ để
yên người. Sửa mình là thận trọng ở bề trong, run sợ
như dặm lên băng mỏng. Yên dân là kính kẻ dưới, hãi hùng
như cưởi ngựa nắm cây cương mục. Theo lối đó thì hưng,
trái đi thì vong. Sự hưng vong là dần dần sinh ra thôi."
Xem qua những lời trên đây, ta thấy
các thiền sư thật đã xứng đáng là những nhà cố vấn
vững vàng về chính sự. Ðó là một bài học chính trị rất
thích đáng cho kẻ làm vua, một bài học chính trị thấm nhuần
tinh thần Phật giáo. Như thế, đủ biết công nghiệp của
chư Tăng trong phạm vi chính sự cũng không phải là nhỏ.
Sự nghiệp
xã hội
Phần nhiều các chùa đời Lý đều
có ruộng và kho của riêng: tài sản ấy là lộc để cứu
cấp những dân đói khổ vào những năm mất mùa. Cửa chùa
là cửa rộng, có thể dung được những người hoạn nạn,
những kẻ lỡ đường. Sách Thiền Uyển Tập Anh có chép rằng
nhà vua và các tín chủ giàu có thường cúng dường của cải
để cho chư Tăng bố thí lại cho dân nghèo hay làm những cứu
trợ công đức khác. Thiền gia thường nương vào sự giúp
đỡ của chính quyền để thỉnh thoảng mở ra những pháp
hội trong mấy đêm ngày, chẩn tế, bố thí cho dân nghèo đói,
xin giảm xá, và ân xá cho các tội phạm.
Các thiền sư cũng tinh thông y học,
phát minh và chế ra nhiều phương dược để cứu cấp cho
quần chúng, đồng thời dùng làm phương tiện truyền đạo.
Sách xưa ghi lại những thiền sư có tài y học như Nguyễn
Minh Không, như Ðạo Huệ.
Tinh thần đạo Phật, giáo lý từ
bi trí tuệ và những tư-tưởng cứu thế của Phật giáo đã
ảnh hưởng rất sâu đậm trên phong tục và văn hóa nước
ta về triều Lý. Phong tục của nước ta thuần hậu hơn nhiều,
so với Ðinh và Lê. Những cực hình dùng hàng ngày, những
thói giết chóc của các vua Ðinh, Lê chứng tỏ rằng tập
tục dã man rừng rú của họ vẫn còn nhiều. Sự tàn nhẫn,
phàm phu, tư lợi còn điều khiển hành vi của những kẻ nắm
quyền: Việc Ðỗ Thích giết cha con vua Ðinh Tiên Hoàng, việc
Ngọa Triều giết em la Lê Trung Tông đủ chứng minh điều
đó.
Nhưng sang đến đời Lý thì khác
hẳn. "Tuy rằng trong các vụ hành quân ở Chiêm hay đánh Tống
có giết hại nhiêu người, tuy rằng khi có loạn trong nước,
vẫn có gia tội tử hình, nhưng ta phải nhận rằng, chưa có
đời nào, như ở đời Lý, mà vua có độ lượng khoan hồng
đối với dân hay là đối với kẻ địch. Lý Thái Tông đã
tha tội cho Nùng Chí Cao. Lý Thánh Tông đã tha chết anh vua
Chàm là Chế Củ. Tuy rằng đó là có lợi cho đường chính
trị, nhưng nếu không có sẵn từ tâm, thì ắt không nghĩ
đến sự khoan hồng đã làm lợi cho chính trị mình". (Hoàng
Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, trang 407).
Lượng khoan hồng ấy, mối từ
tâm ấy chính là nhờ ở lực lượng giáo hóa của đạo Phật.
Sách Ðại Việt Sử Ký còn chép lại những cử chỉ đáng
kính của các vua Lý. Mùa Ðông năm 1055, trời gió rét. Lý
Thánh Tông nói với các quan :"Ta ở trong cung kín, sưởi lò
than, mặc áo ấm mà còn rét thế này, huống chi những kẻ
tù nhân chịu trói buộc khổ sở trong lao ngục, ăn không đầy
bụng, mặc không che thân. Vì gió rét nên có kẻ chết không
nơi nương tựa. Ta thật lấy làm thương". Nói rồi, vua sai
phát chăn chiếu cho tù, và cấp cho mỗi ngày hai bữa cơm ăn.
Một hôm, vua Thánh Tông chỉ Ðộng
Thiên công chúa mà nói với các quan :"Lòng Trẫm yêu dân cũng
như yêu con Trẫm đây. Ngặt vì trăm họ ngu dại làm càn nên
phải tội, vậy bây giờ tội nào cũng nên giảm bớt đi".
Không phải lòng thương người ấy
là một phương tiện giả dối của nhà chính trị mà chính
là kết quả của một lòng từ bi do Phật giáo un đúc nẻn.
Sau các đời vua hung hãn của triều
Ðinh Lê, ta thấy xuất hiện những kẻ cầm quyền có độ
lượng khoan hồng, những người giúp việc bớt tham lam phản
bạn. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết :"Ðời Lý có thể gọi
là đời thuần từ nhất trong sử nước ta. Ðó chính là nhờ
ảnh hưởng đạo Phật". (Lý Thường Kiệt,trang 409).
Kết luận
Văn hóa Việt Nam từ triều Lý đã
có một cơ sở vững chãi. Cơ sở ấy được tạo dựng nên
một phần lớn nhờ đạo Phật Việt Nam, để rồi càng ngày
càng dược bồi đắp cho thêm huy hoàng sáng rỡ. Chúng ta phải
nhận thức rằng Phật giáo mãi mãi vẫn phải là một yếu
tố bất ly trong công việc xây dựng và bồi đắp nền văn
hóa dân tộc. Chúng ta không muốn mất gốc rễ, hẳn chúng
ta phải chú trọng tới sự bồi đắp nền quốc giáo ngàn
xưa.